Tiểu luận môn Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, Bài tiểu luận đạt 9.0 điểm,ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM, ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NGHỊ GIOWNEVO VÀ HỘI NGHỊ PARIS. Sau một loạt những thất bại quân sự, quân Pháp trên chiến trường ngày càng lâm vào thế phòng ngự bị động.Tháng 5.1953, Chính phủ Pháp cử Nava làm Tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Để kết thúc chiến tranh trong danh dự, ngày 27.4.1953, Hội đồng Quốc phòng Pháp đã thông qua kế hoạch Nava. Theo đó, từ mùa thu năm 1954, quân Pháp sẽ tiến công chiến lược giành những thắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Pháp. Như vậy, kế hoạch Nava đã chứa đựng mục tiêu thương lượng nhưng là thương lượng trên thế mạnh. Về phía ta, Đảng Lao động Việt Nam trước sau vẫn khẳng định cuộc chiến tranh chống lại thực dân Pháp là cuộc kháng chiến trường kỳ, tránh nguy cơ “hòa bình giả hiệu”. Đảng ta quyết định, mở cuộc tiến công trên mặt trận ngoại giao để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 19531954. Trật tự thế giới hai cực Yalta hình thành hai hệ thống xã hội đối lập: Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa. Đầu những năm 1950, chiến tranh lạnh từ châu Âu lan sang châu Á, các nước lớn tìm cách tránh xung đột quân sự trực tiếp và dần chuyển sang hòa hoãn với nhau. Chiến tranh ở Triều Tiên được chấm dứt thông qua hiệp định được kí kết ở Bàn Môn Điếm chia cắt Triều Tiên thành hai miền. Tại hội nghị Tứ cường ở Béclin, các nước lớn đã quyết định triệu tập hội nghị Gionevo để bàn về vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Trước khi bàn về Đông Dương, các nước lớn ý đồ áp dụng theo cách đã chia cắt ở Triều Tiên – nghĩa là một giải pháp đình chiến, chia cắt đất nước và chỉ giải quyết các vấn đề quân sự. =>Các yếu tố trên góp phần chi phối Hội nghị Gionevo. bBối cảnh trong nước: Sau một loạt những thất bại quân sự, quân Pháp trên chiến trường ngày càng lâm vào thế phòng ngự bị động.Tháng 5.1953, Chính phủ Pháp cử Nava làm Tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Để kết thúc chiến tranh trong danh dự, ngày 27.4.1953, Hội đồng Quốc phòng Pháp đã thông qua kế hoạch Nava. Theo đó, từ mùa thu năm 1954, quân Pháp sẽ tiến công chiến lược giành những thắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Pháp. Như vậy, kế hoạch Nava đã chứa đựng mục tiêu thương lượng nhưng là thương lượng trên thế mạnh. Về phía ta, Đảng Lao động Việt Nam trước sau vẫn khẳng định cuộc chiến tranh chống lại thực dân Pháp là cuộc kháng chiến trường kỳ, tránh nguy cơ “hòa bình giả hiệu”. Đảng ta quyết định, mở cuộc tiến công trên mặt trận ngoại giao để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 19531954. Ngày 07051954 Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi cho ta, là chiến thắng quan trọng quyết định sách lược ngoại giao trên bàn đàm phán của hội nghị Gionevo.
Trang 1BỘ XÂY DỰNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
GVHD: LÊ THỊ THANH BÌNH SVTH: TRẦN NGUYÊN TÂM MSSV: 18510101310 LỚP: KT18DL
Trang 2ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NGHỊ GIONEVO VÀ HỘI NGHỊ PARIS GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I/PHẦN MỞ ĐẦU:
1.NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG HỘI NGHỊ GIONEVO VÀ HỘI NGHỊ PARIS
1.1 HỘI NGHỊ GIONEVO
1.1.1 BỐI CẢNH
a/Bối cảnh quốc tế:
-Trật tự thế giới hai cực Yalta hình thành hai hệ thống xã hội đối lập: Tư bản chủ nghĩa
và Xã hội chủ nghĩa
-Đầu những năm 1950, chiến tranh lạnh từ châu Âu lan sang châu Á, các nước lớn tìm cách tránh xung đột quân sự trực tiếp và dần chuyển sang hòa hoãn với nhau
-Chiến tranh ở Triều Tiên được chấm dứt thông qua hiệp định được kí kết ở Bàn Môn Điếm chia cắt Triều Tiên thành hai miền Tại hội nghị Tứ cường ở Béc-lin, các nước lớn đã quyết định triệu tập hội nghị Gionevo để bàn về vấn đề Triều Tiên và Đông Dương Trước khi bàn về Đông Dương, các nước lớn ý đồ áp dụng theo cách đã chia cắt ở Triều Tiên – nghĩa là một giải pháp đình chiến, chia cắt đất nước và chỉ giải quyết các vấn đề quân sự
=>Các yếu tố trên góp phần chi phối Hội nghị Gionevo
b/Bối cảnh trong nước:
-Sau một loạt những thất bại quân sự, quân Pháp trên chiến trường ngày càng lâm vào thế phòng ngự bị động.Tháng 5.1953, Chính phủ Pháp cử Nava làm Tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương Để kết thúc chiến tranh trong danh dự, ngày 27.4.1953, Hội đồng Quốc phòng Pháp đã thông qua kế hoạch Nava Theo đó, từ mùa thu năm 1954, quân Pháp sẽ tiến công chiến lược giành những thắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Pháp Như vậy, kế hoạch Nava đã chứa đựng mục tiêu thương lượng nhưng là thương lượng trên thế mạnh
-Về phía ta, Đảng Lao động Việt Nam trước sau vẫn khẳng định cuộc chiến tranh chống lại thực dân Pháp là cuộc kháng chiến trường kỳ, tránh nguy cơ “hòa bình giả hiệu”
-Đảng ta quyết định, mở cuộc tiến công trên mặt trận ngoại giao để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954
-Ngày 07/05/1954 Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi cho ta, là chiến thắng quan trọng quyết định sách lược ngoại giao trên bàn đàm phán của hội nghị Gionevo
1.1.2 DIỄN BIẾN HỘI NGHỊ GIONEVO
Trang 3Giai đoạn 1 (từ 8/5/1954 đến 19/6/1954).
-Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu yêu cầu phải có đại diện kháng chiến Lào và Campuchia tham dự Ngày 10/5/1954, ông Phạm Văn Đồng phát biểu, đưa ra lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là giải quyết đồng thời cả hai vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết đồng thời cả ba vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia Ông Phạm Văn Đồng nhấn mạnh, Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Campuchia, Lào Quân đội nước ngoài phải rút khỏi ba nước Đông Dương là cơ sở quan trọng nhất cho chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Trung Quốc, Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt Nam
-Ngày 25/5/1954, trong phiên họp hẹp, ông Phạm Văn Đồng đưa ra 2 nguyên tắc cho vấn đề đình chiến: (1) Ngừng bắn hoàn toàn trên toàn cõi Đông Dương, (2) Điều chỉnh vùng trong mỗi nước, trong từng chiến trường trên cơ sở đất đổi đất để mỗi bên có những vùng hoàn chỉnh tương đối rộng lớn thuận lợi cho quản lý hành chính và hoạt động kinh tế Đại diện các bộ tư lệnh có liên quan nghiên cứu tại chỗ những biện pháp ngừng bắn để chuyển tới Hội nghị xem xét và thông qua
-Ngày 27/5/1954, Đoàn Pháp đồng ý lấy đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm
cơ sở thảo luận về đề nghị đại diện của hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Geneva để nghiên cứu việc chia ranh giới những khu vực tập trung quân ở Đông Dương Cùng ngày, Đoàn Trung Quốc đưa ra 6 điểm về vấn đề quân sự như ngừng bắn hoàn toàn và cùng một lúc ở ba nước Đông Dương, thành lập Ủy ban kiểm soát quốc tế gồm các nước trung lập nhưng chưa đề cập tới mặt chính trị của giải pháp
-Ngày 29/5/1954, sau 4 phiên họp toàn thể và 8 phiên họp cấp Trưởng đoàn, Hội nghị Geneva ra quyết định: (1) Ngừng bắn toàn diện và đồng thời, (2) Đại diện hai Bộ Tư lệnh gặp nhau ở Geneva để bàn về bố trí lực lượng theo thỏa thuận đình chiến bắt đầu bằng phân vùng tập kết quân đội ở Việt Nam
Giai đoạn 2 (từ 20/6/1954 đến 10/7/1954)
-Trong giai đoạn này, hầu hết Trưởng đoàn các nước về báo cáo, chỉ có Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ở lại Các quyền Trưởng đoàn tổ chức các cuộc họp hẹp và họp tiểu ban quân sự Việt – Pháp Các cuộc họp chủ yếu bàn các vấn đề tập kết, chuyển quân, thả tù binh, đi lại giữa hai miền
-Tuy nhiên, các cuộc họp hẹp ở Geneva trong giai đoạn này không có tiến triển gì đáng kể
Giai đoạn 3 (từ 11 đến 21/7/1954): Nối lại các cuộc đàm phán cấp Bộ trưởng.
-Trong 10 ngày cuối của Hội nghị Geneva đã diễn ra nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các Trưởng đoàn Các phiên họp chủ yếu thông qua các văn kiện, kể các điều khoản thi hành Hiệp định Cuối cùng là phiên họp toàn thể bế mạc Hội nghị
-Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Pháp đàm phán rất gay go về phân chia
vĩ tuyến (Đoàn ta nêu vĩ tuyến 16 vì ta muốn làm chủ đường 9 về Savanakhet đi Quảng Trị là
Trang 4con đường duy nhất cho Lào đi ra biển, Đoàn Pháp nêu vĩ tuyến 18); về thời hạn tổ chức tổng tuyển cử và các điều khác của Hiệp định, đặc biệt là Hiệp định về Campuchia phải ký vào sáng 21/7/1954
-Ngày 21/7/1954, Hội nghị Geneva về hòa bình ở Việt Nam, Lào, Campuchia kết thúc Hội nghị thông qua các văn kiện
Các văn bản được ký kết tại Hội nghị
-Ba Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia;
-Một bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị;
-Hai bản tuyên bố riêng của Đoàn Mỹ và Đoàn Pháp ngày 21/7/1954;
-Các công hàm trao đổi giữa Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Mendes France
1.1.3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG HỘI NGHỊ GINEVO
Thỏa thuận chung cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia:
-Công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn viện lãnh thổ của mỗi nước, không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước
-Đình chỉ chiến sự trên toàn cõi Đông Dương
-Pháp rút quân khỏi lãnh thổ ba nước Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia
-Không có căn cứ nước ngoài và không liên minh quân sự với nước ngoài
-Tổng tuyển cử ở mỗi nước
-Không trả thù những người hợp tác với đối phương
-Trao trả tù binh và người bị giam giữ
-Thành lập Ủy ban liên hợp kiểm soát và giám sát quốc tế
Thỏa thuận riêng với mỗi nước, trong đó, các Hiệp định liên quan đến Việt Nam
Gồm 4 nội dung chính:
-Những điều khoản về đình chỉ chiến sự và lập lại hòa bình: ngừng bắn, tập kết, chuyển quân được hai bên thực hiện trong thời gian 300 ngày; chuyển giao khu vực, trao trả
tù binh và thường dân bị giam giữ, đổi vùng, vấn đề mồ mả quân nhân hai bên tham chiến
-Những điều khoản về duy trì và củng cố hòa bình ở Việt Nam: Lập giới tuyến quân
sự tạm thời ở vĩ tuyến 17 và khu phi quân sự (Sông Bến Hải), vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân
sự tạm thời, không coi là ranh giới chính trị hay lãnh thổ, cấm tăng viện nhân viên quân sự,
bộ đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh khác vào Việt Nam, cấm xây dựng căn cứ quân sự mới,
Trang 5cấm hai miền không được gia nhập liên minh quân sự nào, cấm sử dụng mỗi miền để phục vụ một chính sách quân sự nào
-Những điều khoản chính trị: Vấn đề tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, Hiệp thương hai miền vào tháng 7/1955, tổng tuyển cử tháng 7/1956, tự do chọn vùng sinh sống trong khi chờ đợi, không khủng bổ, trả thù hay phân biệt đối xử với những người đã hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh
1.1.4 Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
a/Ý nghĩa:
-Những thành quả của Hội nghị Gionevo thể hiện bản lĩnh của nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt ngay từ những ngày đầu lập nước Đây
là lần đầu tiên nền ngoại giao Cách mạng Việt Nam tham gia vào một hội nghị đa phương trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, các nước lớn tham gia hội nghị đều có mục tiêu và lợi ích riêng Đoàn đàm phán của chúng ta đã phát huy chiến thắng trên chiến trường, sức mạnh chính nghĩa của dân tộc, kiên định về nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược để giành được những kết quả quan trọng Sau hội nghị, vị thế của Việt Nam được củng
cố và nâng cao đáng kể
-Chúng ta đã kiên trì, kiên quyết đấu tranh cho một giải pháp toàn diện về chính trị và quân sự; đạt được mục tiêu cơ bản, cốt lõi, giành được thắng lợi từng bước, tạo tiền đề đưa
sự nghiệp cách mạng đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước đi đến thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang sau này Đánh giá về hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “… Hội nghị Gionevo đã kết thúc Ngoại giao ta đã thắng to”
-Thành quả của Hội nghị Gionevo có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa, phụ thuộc Dân tộc Việt Nam nhỏ bé đã kiên cường đấu tranh, giành được những thắng lợi vang dội cả trên chiến trường và trên bàn đàm phán, buộc các nước lớn công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình Việt Nam trở thành tấm gương, nguồn động lực cổ vũ các dân tộc thuộc địa đứng lên tiếp tục cuộc đấu tranh giành độc lập Thắng lợi của Việt Nam mở màn cho sự sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, với hàng loạt các nước thuộc địa Á-Phi giành được độc lập trong những năm cuối 1950, đầu 1960
1.2 HỘI NGHỊ PARIS
1.2.1 BỐI CẢNH
-Từ sau Hiệp định Giơnevơ 1954, đế quốc Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam, thế chân thực dân Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới
-Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ đã phá sản -ngụy quân và -ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ
Trang 6thay đổi chiến lược, từ "chiến tranh đặc biệt" chuyển thành "chiến tranh cục bộ", thực chất là
Mỹ hóa cuộc chiến tranh Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam; mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc
-Mục tiêu chiến lược của "chiến tranh cục bộ" là đánh bại cách mạng miền nam trong vòng 25 - 30 tháng để đến cuối năm 1967, Mỹ có thể ca khúc khải hoàn và rút hết quân về nước Ðồng thời với quá trình leo thang chiến tranh, chính quyền Johnson rêu rao cái gọi là cuộc vận động "ngoại giao hòa bình", đòi "miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền nam" và "đàm phán không điều kiện" với Mỹ
-Ðảng ta nhận định: Mỹ buộc phải Mỹ hóa cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược Mặc dù Mỹ đưa vào miền nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch
-Cuộc thử lửa trong ba năm liền 1965, 1966 và 1967 cho thấy nhận định của ta là đúng Ðịch càng leo thang chiến tranh càng bị giáng trả mãnh liệt Ðã bế tắc về mặt quân sự,
Mỹ cũng vấp phải khó khăn lớn về mặt ngoại giao Ta kiên quyết bác bỏ thủ đoạn "ngoại giao hòa bình" giả hiệu và cái gọi là "đàm phán không điều kiện" của chúng, đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền bắc Ðiều kiện tiên quyết của ta là: Chỉ khi nào Mỹ chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới nói chuyện của Mỹ
-Ngày 31-3-1968, sau đòn bất ngờ Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam Bắc, Mỹ buộc phải đàm phán với ta ở Hội nghị Pari từ 13/5/1968 để bàn về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam Bị choáng váng bởi cuộc Tổng tiến công mùa Xuân Mậu Thân của quân dân ta, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố “xuống thang” chiến tranh để đi vào đàm phán Đây là giai đoạn khởi đầu của cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa 2 bên tham chiến để thoả thuận về thành phần Hội nghị chính thức
-Trong lòng nước Mỹ là sóng phản đối chiến tranh Việt Nam lên cao tột độ gây
áp lực không nhỏ cho chính quyền Johnson và sau này là Nixon
1.2.2 DIỄN BIẾN HỘI NGHỊ PARIS
-Hội nghị Paris là hội có thời gian diễn ra dài nhất trong lịch sử Việt Nam Là nơi mà mặt trận ngoại giao có quan hệ chặt chẽ với mọi sự thay đổi về thế và lực trên mặt trận quân sự
-Năm 1968, sau hàng loạt những thất bại nặng nề của chiến lược "chiến tranh cục bộ"
và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức diễn ra ở Paris Phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Xuân Thuỷ đứng đầu, đã khẳng định lập trường không thay đổi của Việt Nam là trước tiên
Mỹ phải chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom bắn phá và mọi hoạt động chiến tranh
Trang 7khác chống nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, sau đó mới bàn các vấn đề có liên quan của hai bên Phái đoàn Mỹ do Hariman đứng đầu
-Hội nghị hai bên ở Paris sau nhiều phiên họp trong năm 1968 vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản, nhưng đã mở đầu cho một thời kỳ Việt Nam tiến công trực diện Mỹ về ngoại giao trên bàn hội nghị Trong quá trình đấu tranh đó, phái đoàn Việt Nam luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam, hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ; đòi Mỹ rút quân và chư hầu ra khỏi Việt Nam; chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam; từ bỏ ngụy quân Sài Gòn; đáp ứng lập trường của Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
-Trước quan điểm đúng đắn, thái độ kiên quyết của phái đoàn Việt Nam,cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường và tình hình nước Mỹ trước ngày bầu cử Tổng thống, ngày 1/11/1968, Giônxơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ cộng hoà Sau sự kiện này, cuộc đấu tranh giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất tổ chứcHội nghị Bốn bên bao gồm: Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam), Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà (chính quyền Sài Gòn)
-Tháng 1 năm 1969, Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên tại Pari Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng Trong thời gian này, trên chiến trường cả hai bên Việt Nam và Mỹ đều tìm mọi cách giành thắng lợi quyết định về quân sự để thay đổi cục diện chiến trường, lấy đó làm áp lực cho mọi giải pháp chấm dứt chiến tranh trên thế mạnh
mà cả hai phía đang giành giật trên bàn đàm phán nhưng chưa đạt kết quả Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - nguỵ bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán
-Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo Đêm 18/12/1972, tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52 Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên Phủ trên không" kết thúc bằng việc 38 pháo đài bay B52 và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi ngay trên bầu trời Hà Nội Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pari Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận
-Cuối cùng, ngày 22/1/1973 tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Clêbe, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pari) Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kitxinhgiơ ký tắt Ngày 27/11/973, Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên
Trang 81.2.3 KẾT QUẢ HỘI NGHỊ PARIS
Mỹ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
Mỹ phải rút hết quân Mỹ và quân của các nước thân Mỹ, phá hết các căn cứ quân sự, cam kết không dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
Các bên để cho nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai của mình thông qua tổng tuyển cử tự do
Các bên công nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị
Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả tù binh và dân thường bị bắt
1.2.4 Ý NGHĨA
- Hiệp định Pari đã ghi nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; Mỹ và các nước
khác không được dính líu quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ của Việt Nam
-Hiệp định Pari mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Quân Mỹ và quân đội nước ngoài phải rút toàn bộ ra khỏi
miền Nam, tạo điều kiện để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
*Sự khác biệt của vị thế Việt Nam trong hai hội nghị Gionevo và Paris.
-Năm 1954, vấn đề đình chiến ở Đông Dương được bàn thảo tại hội nghị quốc tế Giơnevơ có sự tham dự của ngoại trưởng 5 cường quốc, trong đó, Liên Xô và Anh Quốc giữ cương vị Chủ tịch hội nghị Đoàn đại biểu VNDCCH được mời đến dự mà không phải là người chủ động tổ chức Hội nghị này
-Đến lần này tại Paris đã diễn ra cuộc gặp chính thức giữa đại biểu của VNDCCH và CPCMLT với đại biểu của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn, tức là cuộc gặp trực tiếp giữa các bên tham chiến, không có một nước ngoài nào tham gia Thực ra, ngay năm 1953 khi trả lời tờ báo Thuy Điển Expressen về khả năng đàm phán chấm dứt chiến tranh với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến vấn đề: “Nếu có nước trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam thì được hoan nghênh, nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ VNDCCH với Chính phủ Pháp” Nhưng trong bối cảnh 1953-1954, tình huống đó đã không xảy ra, cuộc thương lượng Việt Pháp đã không được thực hiện mà phải thông qua một cuộc hội nghị quốc tế với vai trò không nhỏ của các nước lớn Sự so sánh đó cho thấy đến Hội nghị Pari, vị thế của lực lượng cách mạng Việt Nam được nâng lên tầm mới, cuộc đàm phán được tiến hành trực tiếp giữa ta và Mỹ, và
Trang 9bản Hiệp định cũng được ký kết giữa 4 đoàn đại biểu, không có sự tham gia của nước ngoài nào khác Sự xác nhận quốc tế chỉ thể hiện trong bản Định ước được ký một tháng sau đó với
sự có mặt của đại diện 12 chính phủ trên thế giới và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc
2.VẬN DỤNG BÀI HỌC NGOẠI GIAO TRONG HỘI NGHỊ GIONEVO VÀ PARIS VÀO NGOẠI GIAO VIỆT NAM HIỆN NAY.
-Hiện nay tình hình quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi, nhưng Hội nghị Gionevo và Paris vẫn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau Trong đó, 5 bài học tiêu biểu gồm:
Một là đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết, coi đây là mục tiêu và nguyên tắc cao
nhất trong đối ngoại Tình hình quốc tế càng phức tạp, các nước lớn càng chi phối quan hệ quốc tế, ta lại càng cần nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đồng thời “dĩ bất biến, ứng vạn biến” kiên định trong nguyên tắc, linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược
Hai là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại Trong đó, tăng cường
tiềm lực, nâng cao sức mạnh nội sinh của đất nước đi đôi với linh hoạt, chủ động tạo thế trong đối ngoại để bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc
Ba là hiệp đồng trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, qua đó tạo sức mạnh
tổng hợp để đi đến thắng lợi cuối cùng Các mặt trận này được xác định là những mặt trận quan trọng, có tác động qua lại, không tách rời nhau
Bốn là nghệ thuật biết thắng từng bước để đi đến chiến thắng hoàn toàn trong bối
cảnh chênh lệch tương quan lực lượng Từ những lợi thế nhỏ, từng phần tạo nên thực lực mới, vị thế mới vì mục tiêu cao nhất là bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc
Năm là kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư luận, tranh thủ sự
ủng hộ của nhân dân thế giới, các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công lý trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2.1 BỐI CẢNH HIỆN NAY
2.1.1 Bối cảnh quan hệ quốc tế:
-Tình hình thế giới và khu vực nổi lên 8 xu thế lớn, tác động đến quan hệ quốc tế và tác động ít nhiều đến việc thực hiện đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta Cục diện thế giới cơ bản tuy vẫn vận động trong trạng thái Mỹ là siêu cường duy nhất, nhưng sự phân bố quyền lực đang có những thay đổi đáng chú ý như yếu tố đa cực, đa trung tâm rõ nét hơn
+Trước hết, khác với thời Chiến tranh Lạnh, khái niệm “cực” quyền lực không còn mang ý nghĩa kiểm soát đơn tuyến từ trên xuống Thực tế là tập hợp lực lượng hiện nay đa dạng, phức tạp, lỏng lẻo hơn, chủ yếu trên cơ sở lợi ích quốc gia
+Trong cấu trúc và phân bố quyền lực hiện nay, do vai trò tăng lên của các nước tầm trung, khả năng đơn phương chi phối của các cực giảm xuống Sự ra đời của G20 cho thấy nếu chỉ có các tập hợp cũ như G7 thì không đáp ứng được thực tiễn quốc tế mới
Trang 10+Đồng thời, tuy là các cực với khả năng kiểm soát lỏng lẻo hơn so với trước nhưng quan hệ giữa các nước lớn vẫn mang tính định hình cục diện, cạnh tranh hay hợp tác giữa các nước này có tác động lớn đến chiều hướng vận động của tình hình
+Thứ hai, tiếp đà những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa tuy chưa bị đảo ngược nhưng nhiều khía cạnh bị chững lại do sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa dân tộc
+Xu thế chuyển dịch tư bản (và kéo theo nhiều lĩnh vực khác) vẫn diễn tiến theo hướng từ Tây sang Đông, Bắc xuống Nam Trong những năm vừa qua, tự do hóa thương mại tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thể hiện ở việc ký kết ba hiệp định thương mại táo bạo và quy
mô hàng đầu là CTPP, FTA EU-Nhật và USMCA (phiên bản mới của NAFTA)
+Đồng thời, trong khi thúc đẩy tự do hóa thương mại và thuận lợi hóa đầu tư, giờ đây nhiều chính phủ phải tính đến lợi ích của tổng thể hoặc một bộ phận thiểu số người dân Phong trào “áo vàng” ở Pháp, Brexit ở Anh, vấn đề người nhập cư tại Mỹ, Đức, Áo cho thấy
rõ điều đó
+Thứ ba, hòa bình, hợp tác tiếp tục là xu thế chủ đạo nhưng nguy cơ chiến tranh, xung đột cục bộ tăng cao hơn so với trước, xuất hiện các hình thái mới, trong khi tình hình nhiều điểm nóng khu vực chứng kiến những chuyển động khác nhau
+Về tổng thể, hòa bình thế giới được duy trì, các cuộc xung đột quy mô lớn không xảy
ra, tuy nhiên thế giới những năm qua đã xảy ra cuộc chiến tranh Syria, căng thẳng gia tăng tại nhiều nước Trung Đông, châu Phi, Mỹ La tinh
+Tình hình Biển Đông tuy không xảy ra sự cố lớn trên bề mặt nhưng nguy cơ va chạm, xung đột không giảm, thậm chí nguy hiểm hơn do mật độ hiện diện các phương tiện tăng lên
+Một số hình thái chiến tranh, xung đột mới xuất hiện như chiến trạng mạng, chiến tranh bất quy tắc, xung đột phi vũ trang Đáng chú ý, tình hình bán đảo Triều Tiên hạ nhiệt nhanh chóng, thể hiện rõ các cuộc gặp cấp cao liên Triều và Mỹ-Triều Nguy cơ khủng bố ISIS giảm đi
+Tuy nhiên trên bình diện toàn cầu, hợp tác đa phương bị thách thức đáng kể Anh thúc đẩy thỏa thuận với EU về thực thi Brexit tuy chưa đạt được thống nhất nội bộ APEC dưới sự điều hành của nước chủ nhà Papua New Guinea không ra được Tuyên bố chung G20 tại Argentina đạt thỏa thuận nhưng với công thức yếu G7 bất đồng nhiều hơn so với trước Trong khi đó, hợp tác song phương và giữa các nhóm nhỏ hơn tăng lên, ví dụ hợp tác tay ba, tay tư (Mỹ - Nhật - Australia, Mỹ - Nhật - Ấn Độ - Australia), hợp tác tiểu vùng tích cực hơn (Mekong, Vành đai Ấn Độ Dương, CLMV…)
+Thứ năm, các thách thức an ninh ngày càng đa dạng, phức tạp, khó lường, có thể tạo
ra các hệ quả trên diện rộng và trong dài hạn, bao gồm nhiều vấn đề phi truyền thống tác động đến an ninh, phát triển của nhiều quốc gia, tạo thêm gánh nặng về tài lực, vật lực và nhân lực
+Kể từ cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Obama, Mỹ đã bắt đầu xem an ninh mạng là thách thức nghiêm trong hơn cả chủ nghĩa khủng bố Cáo buộc can thiệp vào bầu cử năm qua liên quan đến yếu tố an ninh mạng An ninh nguồn nước tiếp tục diễn biến đáng báo động ví