1. Trang chủ
  2. » Tất cả

038soi-chieu-nam-diem-chon-ly-vao-kinh-tang-nikaya

22 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 194,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Bài tham luận này dựa trên nền tảng của gần 20 bài viết về Chơn lý của cùng một tác giả đã đăng ở tập san Đuốc Sen, vì vậy những ý tưởng chính đã từng được trình bày đâ

Trang 1

TT.TS Minh Thành

Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN

Giáo phẩm Hệ phái Khất sĩ

I LỜI MỞ ĐẦU

Bài tham luận này dựa trên nền tảng của gần 20 bài viết về

Chơn lý của cùng một tác giả đã đăng ở tập san Đuốc Sen, vì vậy

những ý tưởng chính đã từng được trình bày đâu đó trong những bài viết trên Nguồn trích dẫn chủ yếu là Kinh tạng Nikaya và tác

phẩm Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang Nội dung bài viết như tựa bài đã đưa, so sánh một số điểm có liên quan giữa Chơn lý và Kinh tạng Nikaya, nói rõ là năm điểm Tại sao phải là năm?

Năm điểm được chọn có liên quan đến nhiều vấn đề của giáo lý nhà Phật, cụ thể là liên quan đến cả ba phần trong khung giáo lý căn bản Giới - Định - Tuệ Người viết sung sướng nhận ra rằng

cuộc hành trì vào thế giới của Chơn lý đưa người viết từ thú vị

này đến thú vị khác, cảm khái này đến cảm khái khác, mặc dù thoạt đầu người viết chỉ khởi sự bước những bước chân đầu tiên với tâm trạng của một người đi làm nghĩa vụ, đi làm bổn phận

mà thôi Đọc bài “Đọc Chơn lý Võ trụ quan”1 ắt người đọc có thể nhận ra điều này Người viết xin sử dụng lời cuối của phần

mở đầu này để cảm ơn các bậc tiền nhân đã giáo dưỡng, những sai lầm hay sơ thất, nếu có, là trách nhiệm riêng của người viết, mong được các bậc thức giả thể lượng và chỉ giáo

1 Hệ phái Khất sĩ, Đuốc Sen, số 1, Nxb Tôn giáo, 2008, tr.30.

Trang 2

II NỘI DUNG CHÍNH

1 Điểm thứ nhất: Giảng giải về Thập nhị nhân duyên

Mở đầu Chơn lý “Thập nhị nhân duyên” là đoạn: “Nhơn duyên sanh ra cõi đời, có mười hai pháp, hằng chuyền níu nhau mãi, do đó chúng sanh mới có, mới khổ, và rồi sau khi có khổ là tấn hóa hay tiêu diệt.

Vô minh sanh ra hành,

Tử trở lại vô minh mà luân hồi quanh quẩn chịu khổ nhọc” 2

Ở đây người viết xin bàn đến phương thức cốt lõi trong mối liên hệ giữa các chi nhân duyên với nhau Nếu đặt mười hai chi nhân duyên theo số, từ số 01 đến số 12 thì chi số 01 sanh ra chi số

02 và tuần tự như thế chi số 11 sanh ra chi số 12 Vòng tròn khép kín khi chi số 12 sanh ra chi số 01 Đây là mối liên hệ dựa trên từng chi một Giáo lý Phật giáo nói chung, đặc biệt là dạng giáo

lý phát triển, thì ngoài mối quan hệ cái này sanh cái kia, chi này sanh ra chi kia theo trật tự số học, nó còn phát triển mối quan hệ mang tính thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai Cách giảng

2 Minh Đăng Quang, Chơn lý, tập 1, Hà Nội, Nxb Tôn giáo, 2004, tr.79-80.

Trang 3

giải mang yếu tố thời gian có tên là “Tam thế lưỡng trùng nhân quả” (TTLTNQ) Trong cách giảng giải này, 12 chi không còn là

12 đơn vị riêng lẻ mà được tập trung thành 3 nhóm thuộc 3 thời khác nhau Cách giảng giải TTLTNQ hấp dẫn và được ưa chuộng

ở chỗ nó giải thích rõ mối liên hệ nhân quả ba đời, mà cách giải thích phi tuyến tính về mặt thời gian, đơn lẻ và đơn giản của Phật giáo thời kỳ đầu không có được Ở đây, chúng ta thấy một điều

thú vị, tuy xuất hiện cách nay trên dưới 65 năm, thế mà Chơn lý

lại ưa chuộng cách giảng giải cổ điển phi tuyến tính về mặt thời gian, cái này sanh ra cái kia mà không nói gì đến yếu tố thời gian

Như vậy tiêu ngữ: “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp” của Tổ sư

Minh Đăng Quang, với ý hướng trở về với hình ảnh Phật Tăng xưa, không chỉ phản ánh ở phương thức hành trì tu tập và hành đạo giáo hóa, mà cũng phản ánh ở phương thức nhận thức và triển khai giáo pháp

Còn có thêm một cách giải thích nữa không chia 12 chi Nhân duyên theo thời gian mà chia theo ba nhóm: Hoặc - Nghiệp -

Khổ, được tóm tắt theo bài kệ trong tác phẩm Nhị khóa hiệp giải:

Vô minh, Ái, Thủ: Tam phiền não (Hoặc)

Hành, Hữu, nhị chi thuộc nghiệp đạo (Nghiệp)

Tùng Thức chí Thụ tịnh Sanh Tử.

Thất chi đồng danh nhứt khổ quả (Khổ).

Xin tạm dịch:

Ba điều phiền não: mê, yêu, lấy;

Hai cái: làm, có là nghiệp nhân;

Từ biết đến chịu, sống và vong,

Chung kêu quả khổ gồm bảy phần

Trở lại đề tài, người viết thấy rằng giáo lý TTLTNQ, nói một cách chặt chẽ, vẫn thuộc giai đoạn hai của dòng phát triển Phật pháp Đi vào cảnh giới của giai đoạn hai, thi thoảng chúng ta

Trang 4

cũng nên dừng lại một nhịp để trở về cảnh giới của Phật pháp giai đoạn một, cảnh giới Phật pháp đầu nguồn

“Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào là vừa đủ để nói: “Tỷ-kheo thiện xảo về duyên khởi?

- Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo biết như sau: Nếu cái này có, cái kia có; do cái này sanh, cái kia sanh Nếu cái này không có, cái kia không có; do cái này diệt, cái kia diệt Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; do duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi ”3.

Trong cảnh giới đầu nguồn, người đọc nhận ra rằng 12 nhân duyên của Kinh tạng truyền thống được trình bày tuần tự từng chi phần, chi phần trước làm nhân duyên để sinh khởi chi phần sau, cho đến chi phần chót là Tử, sau chi phần Tử là một số hình dung từ định tính là lão, sầu, bi, khổ, ưu, não Như vậy, trong Kinh tạng, giáo lý Thập nhị nhân duyên không hề phân đoạn hay phân nhóm, không hề đặt định ra biên giới của kiếp trước, kiếp hiện tại hay kiếp tương lai Việc phân đoạn nhóm hay đặt định ra

ba thời chỉ xảy ra trong Luận tạng hay Sớ giải mà thôi Điều này nội hàm một vài điều:

Thứ nhất, vấn đề nằm ở chi số 12 “tử” Như trên đã nói, chi

số 12 không xuất hiện riêng lẻ như 11 chi khác mà có những định tính chung quanh, cụ thể là lão (đứng trước) và sầu, bi, khổ, ưu, não (đứng sau) Khi đưa yếu tố thời gian vào, cụ thể là yếu tố tương lai, thì có vấn đề xuất hiện Cái tương lai chỉ mang tính giả định, không thực, không chắc, chỉ có tính chất lý thuyết thuần túy, nên đặt cái đuôi tiêu cực “sầu, bi, khổ, ưu, não” gắn vào cái ở trong tương lai là thiếu chặt chẽ về nguyên tắc luận lý Hơn nữa, tương lai ở trong khoảng thời gian của kiếp này, theo luận lý, thì đã mang tính chất giả định, không có thực, không

3 http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung115.htm

Trang 5

chắc chắn, huống gì là tương lai ở kiếp sau, đời sau, 25 kiếp sau,

2 triệu kiếp sau

Thứ hai, tất cả các mắc xích và từng mắc xích trong giáo lý Thập nhị nhân duyên theo cách miêu tả của Kinh tạng vì không phân đoạn nhóm, không đặt định vào ba thời, nên đều nằm trên một nền tảng bình đẳng với nhau Một khi các luận giả đẩy một

số mắc xích vào trong quá khứ (những cái đã qua, đã rồi, đã “quá khứ không truy tầm quá khứ đã đoạn tận”), và khi các luận giả đẩy một số mắc xích vào trong tương lai (những cái gì chưa có, chưa xác lập được, “tương lai không ước vọng”) có nghĩa là các luận giả đã phá vỡ tính bình đẳng nền tảng mà trong đó các chi phần được xếp đặt Và, nghiêm trọng hơn là việc tạo nên tình thế: Cái quá khứ là cái đã rồi, cái tương lai là cái không với tay tới được Hơn nữa, nhờ căn bản bình đẳng này mà dễ dàng thiết lập quan điểm triết học sâu sắc hơn: Cái này nằm trong cái kia Điều này dẫn đến điều thứ ba

Thứ ba, cái tương lai là cái chưa có, mà cái chưa có không thể nào làm nhân hay làm quả cho cái đã có Thế mà giáo lý Thập nhị nhân duyên, nếu hiểu một cách viên dung thì bất cứ một chi phần nào đều làm nhân và làm duyên cho tất cả các chi phần còn lại

Từ những điều đã được trình bày ở trên, người viết có thể tạm kết luận rằng phương thức giải thích TTLTNQ hữu dụng ở phương diện: xây dựng một không thời gian tuyến tính có tính căn bản, ước lệ, và thông tục Trên nền tảng không thời gian tuyến tính này, mà giáo lý TTLTNQ dùng 12 chi Nhân duyên phác họa ra được bức tranh nhân quả nối kết cả ba đời hay ba kiếp: quá khứ, hiện tại và vị lai, cũng có nghĩa là nối kết nhân quả nhiều đời nhiều kiếp, nhiều đến nỗi phải dùng từ vô lượng

vô số Dù vậy, TTLTNQ vẫn thuộc về giai đoạn phát triển sớ giải

và luận tạng

2 Điểm thứ hai: Thái độ của người tu đối với tham dục

Thái độ căn bản của một hành giả Phật giáo đối với tham dục

Trang 6

được diễn đạt sắc nét trong Chơn lý, người viết xin trích đầy đủ

như sau:

“Lục căn thanh tịnh tức là sáu căn trong sạch, vì loài người có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý: thiện là trắng, ác là đen, không không là trong sạch, có có là dơ bẩn, lục trần là chất bụi, dính vào khó rửa phủi cho ra Đóng bụi dơ thì ngộp khổ, nhiễm vật chất mới chết, mới ác hung Lục trần như nấm mả, lục căn trong trần như thây ma, lục thức như dòi tửa Loài thú thấp hèn cho loài người là sung sướng với sắc tốt, tiếng thanh, mùi thơm, vị ngọt, vật êm, đồ khéo Trái lại loài người đã quá khổ chán rồi mới thấy trần là dơ dính khó chùi, vì nó mà tham, sân, si, độc ác; ở trong nó con người với thú in nhau Người ta muốn lên cao, Trời, Phật bởi đã kinh nghiệm, được học, nên xa lánh cõi người, dứt bỏ lục căn, quét sạch lục trần, tránh xa lục thức, làm Trời, Phật, vui sướng, nhẹ nhàng chắc thật Lấy tinh thần làm vật chất, lấy đạo lý làm sự đời, mới là trong sạch”4

Sau loạt định nghĩa với những động từ “là”, “tức là”, Chơn lý

chuyển sang loạt định tính bằng phương pháp so sánh với động

từ “như”: “Lục trần như nấm mả, lục căn như thây ma, lục thức như dòi tửa” Cách định tính này thể hiện một lần nữa cách nhìn khinh miệt của Chơn lý đối với trần – thức – căn, nhất quán với cách định danh “Lục trần là chất bụi” ở trên Người đọc có thể

tìm thấy nguồn gốc của thái độ khinh miệt đối với các “vị ngọt” của trần gian ở trong Kinh tạng truyền thống Nói cách khác, ở

điểm này Chơn lý trung thành với ý tưởng chính trong Kinh tạng

truyền thống và lặp lại thái độ khinh miệt này của Kinh tạng truyền thống bằng những từ ngữ khác mà thôi Cần ghi nhận rằng Kinh tạng không nói riêng lẻ trần, thức và căn mà nói chung

ba pháp này trong một từ: “dục” Dục có thể được hiểu là sự tương tác hoạt dụng chung của trần – thức – căn theo chiều hướng đắm nhiễm của phàm phu

Kinh Ví dụ con rắn (Alagaddùpama sutta) thuộc Trung Bộ

4 Minh Đăng Quang, Sđd, tr.68

Trang 7

Kinh kể lại câu chuyện về một vị Tỷ-kheo tên Arittha có quan

điểm cho rằng hưởng thọ các dục không có trở ngại gì cho việc

tu tập nên được các Tỷ-kheo bạn khuyên can như sau: “Hiền giả Arittha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt Thế Tôn không có nói như vậy Hiền giả Arittha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương Thế Tôn

đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây Thế Tôn

đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn Thế Tôn đã thuyết các dục được

ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn”5

Ở đây, Chơn lý đã bổ sung cho thái độ trên bằng cách diễn

tả hai tâm trạng khác nhau của loài thú và loài người đối với 6

loại trần là “sắc tốt, tiếng thanh, mùi thơm, vị ngọt, vật êm, đồ khéo” Đối với 6 trần này, loài thú thì ước ao, còn loài người thì

nhàm chán mà hướng đến cõi Trời, cõi Phật Đối tượng của ý căn thường được gọi là pháp trần, ở đây đối tượng của ý căn được định danh là ‘đồ khéo’ Người đọc cảm thấy thú vị khi từ ‘đồ khéo’ vừa có tính chất mới lạ so với bộ thuật ngữ Phật học phổ thông, vừa gần gũi với những cái cụ thể sinh động trong đời sống bình

dị của con người Ai mà không nhận ra sự khéo léo của người thợ may thể hiện trong chiếc áo, của người thợ mộc trong cái bàn, của người nội trợ trong bữa cơm ‘sum họp gia đình’ Ai mà không nhận ra sự khéo léo ở cấp độ cao hơn trong những bức danh họa

có giá trị triệu đô, sự khéo léo trong những tác phẩm điêu khắc hay kiến trúc bậc thầy, trong những áng văn, bài thơ, nhạc điệu

5 http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung22.htm

Trang 8

bất hủ Đó chính là pháp trần đang làm say đắm lòng người, nói

theo Chơn lý là đang làm say đắm ý căn của con người Thật ra,

pháp trần không chỉ là sự khéo léo của người thợ may, thợ mộc nhạc, họa hay thi ca, mà còn là sự khéo léo của những nhà kiến tạo ý tưởng, xây dựng khái niệm, đề xướng học thuyết và những

thứ trừu tượng khác Tất cả, theo Chơn lý, đều là đồ chơi của đứa

con nít ý căn

Đối với các thứ như sắc tốt, mùi thơm, vị ngon, vật êm thì

Chơn lý định tính tâm trạng của loài thú là ước ao, định tính

tâm trạng của loài người là nhàm chán Cách nói như vậy có thể

hiểu là Chơn lý ngầm chê trách những người còn ước ao đối với

sắc tốt mùi thơm, vì đó là tâm trạng kém phát triển của loài thú Chê trách như vậy có cực đoan và bất cận nhân tình hay không là chuyện khác, và cần nhiều bút mực hơn để minh định

Khi các dục hay ‘sự hoạt dụng của bộ ba trần – thức – căn

phàm phu’ được định tính là ‘thây ma’, là ‘nấm mả’, là ‘dòi tửa’ trong Chơn lý; là ‘khúc xương’, là ‘gậy nhọn’, là ‘đầu rắn’ trong Kinh tạng thì sự quyết liệt vượt thoát là tất yếu Chơn lý đã thể

hiện sự quyết liệt vượt thoát này bằng những từ: dứt bỏ, quét sạch, tránh xa Rồi quyết liệt hơn nữa với: sát, trảm, diệt

Người viết cảm thấy thích thú và không thể không viết thêm rằng trong văn mạch bừng bừng cảm tính của sát – trảm – diệt như vậy, văn phong của đùng đùng trống trận, của chiến mã sa trường như vậy, một chữ “thì” thật to, chuyện bất ngờ xảy ra Giọng văn êm dịu như từ trong hậu cảnh xuất hiện và đan xen vào, thấm đẫm tính chất từ tốn nhẹ nhàng, giọng văn ấy được dùng để kể câu chuyện một cậu học trò nhu mì, chăm chỉ hạt bột, không có gì xuất sắc đáng biểu dương, cũng không đến đỗi ở lại lớp Cậu ta nhẩn nha xuất hiện trong một khung cảnh thanh

bình: “ như học trò lên lớp, sống mực thường bền dài, yên vui hơn cái tham lam thái quá rồi bất cập, đã không rồi mà khổ mãi”6 Điều này cho thấy hậu cảnh của Chơn lý vẫn là một trạng thái đạt đạo,

6 Minh Đăng Quang, Sđd, tr.68.

Trang 9

tỉnh giác, thư thái và an hòa.

3 Điểm thứ ba: Giảng giải về Chánh niệm

Người viết cảm thấy ngạc nhiên vì tần xuất xuất hiện và ý

nghĩa phong phú của chữ “Chánh niệm” trong Chơn lý số 5 “Bát

chánh đạo”, và xin trích dẫn đầy đủ theo trật tự như sau:

01 “Chánh niệm đạo, là con đường tưởng nhớ chánh”.

02 “Chánh niệm đạo, là tưởng nhớ con đường chánh”.

03 “Chánh niệm: là niệm tưởng Phật, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng, niệm tưởng chúng sanh khổ, để tìm phương tiện cứu độ”.

04 “Chánh niệm: là nhớ chắc các tướng trong thân thể là vô thường, khổ não, vô ngã Ghi nhớ rằng: cái thọ vui hay cái thọ khổ, những sự lành, những sự ác, các danh từ và sắc pháp trong thế gian đều là vô thường, khổ não, vô ngã, không tham sân si, dục vọng, luyến ái.”

05 “Chánh niệm là đạo thoát khổ của kẻ tà niệm”.

06 “Chánh niệm là nhơn, sanh ra chánh định là quả”.

07 “Muốn đắc chánh định, thì phải thật hành chánh niệm”.

08 “Ai muốn có chánh định yên, thì phải cần có chánh niệm Nhờ niệm tưởng ghi nhớ một điều phải nào đó, tâm ta mới định nghỉ yên chơn như được”.

09 “Chánh niệm đạo là cảnh giới của bậc Bồ-tát (giác hữu tình giáo hóa)”.

10 “Chánh niệm là pháp của bậc Bồ-tát”.

Ngoài tần xuất mà chữ “chánh niệm” trực tiếp xuất hiện, còn

có những đoạn diễn giải trực tiếp liên quan đến chánh niệm, cụ thể

như: “Sự niệm tưởng chơn chánh, niệm tưởng việc qua rồi, việc hiện tại, và việc sẽ đến, phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo, cho hạp

Trang 10

lẽ chánh chơn thật”.7 Những trích dẫn ở trên có thể là những cánh cửa sổ mở ra để cho chúng ta thấy tầm quan trọng của chánh niệm

trong ngôi nhà giáo nghĩa của Chơn lý

Trong nhà Phật nói chung, bất kỳ truyền thống nào đều có đề cập đến chánh niệm, nhất là những sơn môn chuyên tu thiền định

Về phương diện tu tập, chánh niệm có mối liên quan hữu cơ với tất

cả những dạng thiền tập khác nhau, từ thiền Tịnh chỉ Samadhi đến thiền Minh sát Vipassana, từ thiền Tứ niệm xứ cho đến Từ bi quán, thậm chí các dạng Tổ sư thiền khác nhau Chánh niệm trong Kinh tạng truyền thống là một yếu tố chủ lực, yếu tố trung tâm của việc thiền tập, là nội lực của thiền tập

Xin mở ngoặc nhắc lại một chuyện bên lề Có một lần ngồi

chung xe với một Tăng sinh, vị ấy nói: “Người tu thiền thì ngoài thời giờ công phu chính thức, thời giờ cho những sinh hoạt còn lại đều ở trong trạng thái cận định” Người viết cảm thấy thích thú và cho

rằng cận định trong câu đó là chỉ cho trạng thái chánh niệm, hay đặc biệt hơn là thân hành niệm

Chúng ta hãy xem Kinh tạng truyền thống đề cao thân hành

niệm, một dạng của chánh niệm như sau: “Như một ai, này các Tỷ-kheo, với tâm biến mãn cùng khắp biển lớn, có thể bao gồm tất

cả con sông bé nhỏ đổ vào biển cả, cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai tu tập, làm cho sung mãn thân hành niệm, cũng bao gồm tất cả thiện pháp, gồm những pháp thuộc về minh phần” Hay “Có một pháp, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến cảm hứng lớn, lợi ích lớn, an ổn lớn khỏi các khổ ách, chánh niệm tỉnh giác, đưa đến chứng đắc tri kiến, đưa đến hiện tại lạc trú, đưa đến chứng ngộ quả minh và giải thoát Một pháp ấy là gì? Chính là thân hành niệm”8 Theo người viết, đó là lý do nền tảng tại sao có sơn môn tập trung chuyên chú vào chánh niệm, lấy chánh niệm làm cốt lõi cho công phu tu tập

7 Sđd, tr.102.

8 http://www.lotusmedia.net/unicode/TangChiBoKinh/chuong01.htm#16

Trang 11

Đến đây người viết có thể tạm kết luận rằng: Chánh niệm

trong Kinh tạng và trong Chơn lý đều có vị trí cốt lõi, đặc biệt là

về phương diện công phu tu tập Tạm kết như vậy không có nghĩa

là có sự tương đồng hoàn toàn, trùng khớp hoàn toàn Sau đây là một trong những điểm có tính chất định tính và phân tích sâu sắc

trong Kinh tạng mà Chơn lý không có được

Diễn giải về Bát chánh đạo (BCĐ), Kinh tạng có đoạn: “Ai tinh tấn đoạn trừ tà kiến, thành tựu chánh kiến; như vậy là chánh tinh tấn của vị ấy Ai chánh niệm đoạn trừ tà kiến, chánh niệm đạt được và an trú chánh kiến; như vậy là chánh niệm của vị ấy Như vậy ba pháp này chạy theo, chạy vòng theo chánh kiến, tức là chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm”9 Đọc tiếp chúng ta sẽ thấy rằng đoạn kinh trên lập lại cho tất cả 5 chi BCĐ đầu tiên gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, và Chánh mạng Như vậy có ba pháp nói chung, hay cụ thể là ba chi BCĐ quyết định việc tu tập có thành công hay không, đó là Chánh kiến, Chánh tinh tấn và Chánh niệm Người viết xin đề nghị một cách nhìn qua minh dụ, Chánh kiến như đèn sáng, Chánh tinh tấn như ý chí, và Chánh niệm như sức khỏe Đối với một hành giả trên con đường tu tập thì đèn sáng, ý chí, và sức khỏe là ba điều kiện, ba phương tiện tiên quyết để việc tu tập tiến triển đúng tiến

độ và đạt đến chỗ thành tựu tốt đẹp nhất

“Kinh tạng Nikaya có trọng tâm là giác ngộ, là giải thoát, là diệt tận khổ đau, đạt đến cảnh giới Niết-bàn theo hình thái hay cơ chế ‘người giác ngộ trước, kẻ giác ngộ sau’; và vì vậy mà mờ nhạt đối với tinh thần tích cực hành hoạt của Bồ-tát trong sự nghiệp nhập thế, giáo hóa, tận đáy xã hội, thậm chí ở những vực thẳm của

xã hội Danh từ Bồ-tát thường chỉ cho bản thân Thái tử Sĩ Đạt Ta trên con đường tìm cầu chân lý Kinh tạng hệ phát triển đã chuyển trọng tâm từ việc giác ngộ giải thoát sang việc cứu độ đồng loạt với phương châm ‘cùng nhau giác ngộ, không trước không sau’, thậm chí người đứng ra cứu độ ‘về đến nơi đến chốn’ sau người được cứu

9 http://www.lotusmedia.net/unicode/TrungBoKinh/trung117.htm

Ngày đăng: 14/04/2022, 09:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w