1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

030tu-tuong-phat-hoc-cua-to-su-minh-dang-quang-trong-bo-chon-ly

16 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 155,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÖ TÖÔÛNG PHAÄT HOÏC CUÛA TOÅ SÖ MINH ÑAÊNG QUANG TRONG BOÄ CHÔN LYÙ Cư sĩ Minh Mẫn Nhà nghiên cứu Phật học TP HCM I MỞ ĐẦU Dân tộc ta thừa hưởng nhiều tư tưởng triết lý tôn giáo cũng như chính trị[.]

Trang 1

Cư sĩ Minh Mẫn

Nhà nghiên cứu Phật học TP HCM

I MỞ ĐẦU

Dân tộc ta thừa hưởng nhiều tư tưởng triết lý tôn giáo cũng như chính trị và văn học của nhân loại, từ tư tưởng Nho gia, Đạo giáo đến Phật học Suốt thời kỳ dài “Tam giáo đồng nguyên” đã có sự hòa hợp nhuần nhuyễn để dân tộc ta có một nếp sống hài hòa, từ văn hóa đến kiến trúc, nghi lễ, chính trị, giáo dục, giao tế Vì thế, những di tích còn để lại ngày nay ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, mỗi làng đều

có đình, miếu và chùa trong một quần thể làng xã

Nét đẹp văn hóa ấy kéo dài gần hai ngàn năm, đến khi Pháp thuộc, nền văn hóa mới du nhập vào đất nước, một phần thành thị bị pha loãng bởi nền văn hóa mới này Nền văn hóa mới được tuổi trẻ đón nhận với sự háo hức và họ như được cởi trói từ tư tưởng đến văn hóa, giáo dục… Chính vì thế, hình dạng chữ La-tinh cũng dễ được chấp nhận thay thế cổ ngữ, được gọi là quốc ngữ Từ những thay đổi nhanh chóng đó, Nho - Thích - Lão cũng

bị lùi dần Hình ảnh ông đồ với áo dài khăn xếp chỉ xuất hiện mỗi khi làng mở hội, cảnh nhàn tản vui thú điền viên của Tiên gia Lão giáo cũng rút sâu vào non cao núi thẳm, còn Phật giáo thì các nhà

sư cũng chỉ xuất hiện nơi ma chay của xóm làng Người dân nơi

đô thị ít biết đến những hình thái xa xưa, nếu thỉnh thoảng xuất hiện, thị dân xem đó là nét văn hóa lỗi thời lạc hậu Do sự thờ

Trang 2

ơ của xã hội mới, các chùa ít được tuổi trẻ xuất gia kế thừa làm

“điệu”, “chú tiểu”, các nhà sư phải lập gia thất để có con kế thừa giữ chùa, thờ Phật Ngoài ma chay đám tiệc, các nhà sư còn phải tự túc kinh tế trên các thửa ruộng làng quê Do vậy, chư Tăng không còn thời giờ chuyên sâu vào giáo lý và hành trì tu tập nên công việc hoằng pháp đã gián đoạn một thời gian khá dài, người dân gọi là Phật tử trên danh nghĩa, không ai biết đến giáo lý và lịch sử nhà Phật Họ duy trì tín ngưỡng theo tập quán ông bà, họ chỉ biết đạo Phật là tôn giáo đáp ứng cho kẻ quá cố và một tín ngưỡng dự phòng cho kiếp sau

II TỔNG QUAN VỀ HỆ PHÁI KHẤT SĨ

1 Bối cảnh lịch sử

a) Thời Bắc thuộc

Qua những thời kỳ thịnh suy của Phật giáo Việt Nam gắn liền với vận mệnh dân tộc, chúng ta có thể thấy Phật giáo hưng thịnh vào đầu thế kỷ thứ I, khi trung tâm Luy Lâu có mặt tại Giao Chỉ trước cả trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Quốc

Trong ba trung tâm Phật giáo đời Hán, trung tâm Luy Lâu là

trung tâm có tổ chức Tăng đoàn sớm nhất Trong sách Lý hoặc

luận viết về những tệ trạng của giới Tăng sĩ Giao Châu vào hạ

bán thế kỷ thứ hai, Mâu Tử viết: “Sa-môn ngày nay có kẻ lại thích

uống rượu ngon, có khi có vợ con, biết cất giữ tiền bạc, của quý, lại chuyên môn lừa dối” 1 Như vậy, ta biết rằng Tăng đoàn Giao Châu

thời đó đã khá đông đảo mới có nhiều tệ đoan như vậy Danh từ

“Sa-môn ngày nay” mà Mâu Tử dùng không thể để chỉ một số ít Tăng sĩ Ấn Ðộ có mặt tại Giao Châu, mà là chỉ số đông Tăng sĩ Giao Châu vậy2

Phật giáo được truyền từ Ấn Độ vào nước ta thời Hùng Vương, khoảng năm 300 trước Tây lịch, và đoàn hoằng pháp của vua A-dục (Asoka) do Ngài Sona và Uttara dẫn đầu là những người đầu tiên

1 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận.

2 Sđd

Trang 3

đem Phật giáo vào nước Văn Lang thời Vua Hùng (tức là lúc Phật Quang truyền nón gậy cho Đồng Tử vào thời Hùng Vương; nếu tính từ lúc Khương Tăng Hội, Mâu Bác truyền vào thì đầu thế kỷ dương lịch)

Việt Nam lúc bấy giờ bị sáp nhập vào phương Bắc, được đặt làm quận Giao Chỉ, một trong những quận đời Hán Tuy ở cách xa, văn hóa, văn tự và một số mặt trong cuộc sống vẫn bị giao thoa với người Hán Một số tập tục thế gian vẫn còn ảnh hưởng, do vậy tôn giáo cũng không tránh khỏi chịu ảnh hưởng về nghi lễ, trang phục, nếp sống, sinh hoạt

Cho dù thế nào, việc trang phục của tu sĩ Phật giáo Việt Nam cũng mang nét dân tộc thuần túy, ngay cả kinh sách cũng dùng chữ Nho hoặc chữ Nôm mà không sử dụng Sanskrit hoặc Pali, ngoại trừ các sư Nam tông Theo sách sử Theravada, Nam tông có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ thứ III trước công nguyên, nhưng theo Thích Huệ Giáo, Phật giáo Nam tông Việt Nam bắt nguồn từ Campuchia ở thập niên 1930, do một bác sĩ chuyên ngành thú y, thế danh Lê Văn Giảng làm việc và sinh sống, xuất gia tu học tại Campuchia, sau khi về nước

đã trở thành một vị sư (Hòa thượng Hộ Tông) theo truyền thống Nam tông và truyền bá rộng rãi Phật giáo Nam tông Có thể xem Ngài là người đặt nền móng ban đầu cho Phật giáo Nam tông Việt Nam và phát triển đến nay, bên cạnh sự nỗ lực của một số Tăng sĩ, cư

sĩ Nam tông Việt Nam3

Cũng từ tập quán thuần Việt và ít nhiều ảnh hưởng Trung Quốc, kinh tụng bằng chữ Hán, áo mão y hậu cũng lai Hán, tập tục cúng sao giải hạn, vàng mã, trai đàn chẩn tế cũng từ Trung Quốc

mà có Trước kia một số vị trang phục y hậu, áo mão thêu thùa gấm vóc như hoàng bào của vua và một số tiết tấu nhạc lễ ảnh hưởng nhạc cung đình

Tuy Bắc thuộc, nhưng Phật giáo vẫn duy trì và phát triển nhờ Phật giáo Trung Quốc thịnh hành Sau này vì bị nhà Minh tịch thu

3 Sđd, chương 26

Trang 4

kinh sách, luận sớ, nên Phật giáo Việt Nam đã bị thất thoát nhiều thư tịch, văn học, sử liệu Riêng Thiền tông, không có nghi lễ rườm

rà, không cúng sao giải hạn hay nặng nhiều nghi tế, nhất là khi Trần Nhân Tông lập Trúc Lâm thiền phái, kết tập ba dòng thiền chính là Thảo Đường, Vô Ngôn Thông, Tỳ-ni-đa-lưu-chi Sau thời gian Phật giáo cực thịnh, Nho giáo bắt đầu ảnh hưởng trong triều chính, chư Tăng rút sâu vào rừng núi tĩnh tu, đất nước trải qua giai đoạn tiêu cực bởi tinh thần hủ Nho, nặng về danh lợi, học hàm phẩm trật; tinh thần siêu thoát của nhà Phật bị đánh mất, mọi cung cầu trong cuộc sống được đo lường bởi danh phận, học sĩ, phẩm trật triều đình qua các giai cấp Sĩ - Nông - Công - Thương Chính

vì thế mà tiếp theo đó, các triều đại nhà Nguyễn không còn đủ lực

vô úy gắn kết nhân dân trước sự xâm lăng đô hộ của phương Tây trong thế kỷ XIX

b) Thời Pháp thuộc

Sau thời gian Gia Long và Tây Sơn tranh chấp, đến khi Quang Trung mất, tinh thần binh sĩ và nội tình phân tán nên Nguyễn Ánh

đã thừa thắng, một phần nhờ ngoại bang, bắt tay với Trung Quốc

và Pháp, tuy chưa chặt chẽ lắm, nhưng cũng có chỗ cho binh sĩ an lòng Vua Gia Long có thiện cảm hơn do khi ông còn gian truân

có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ Khi chiến tranh kết thúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, tuy nhiên, năm

1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm

dò bang giao, thuyền trưởng là Achille De Kergariou nói rằng vua Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước

đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa4 Đến khi Minh Mạng kế thừa, tinh thần cải cách tiến bộ hơn, thuê quân Pháp huấn luyện quân đội, giúp cho binh lực và nội chính vững mạnh

Vì thế, theo đánh giá đương thời, quân đội nhà Nguyễn cực mạnh

so với các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia Ngược

4 Wikipedia.

Trang 5

lại đến thời Tự Đức, tổ chức suy sụp có lẽ vì tài chánh hạn hẹp,

vả lại Tự Đức không theo cách tổ chức của phương Tây mà quay

lại Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo Tuy tiếp thu một số cái

hay của Pháp để cải cách, nhưng vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu châu là bọn man di, là quân xâm lược Trong thời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp và các giáo sĩ nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của Đế quốc La Mã

- một hoàng đế từng tàn sát hàng loạt giáo dân Công giáo

Dưới triều Nguyễn, trong các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, tuy Phật giáo ít bị kỳ thị nhưng chủ lực chính trị vẫn nằm trong tay Nho gia Từ năm 1817 về sau, số đông Nho gia cảm thấy có một sự liên kết giữa phong trào truyền đạo Cơ Đốc và

sự phát triển của thế lực thực dân, cho nên đã bắt đầu chống đối Cơ Đốc giáo Sự chống đối này phát triển mạnh từ khi vua Minh Mạng lên ngôi Phật giáo thời bấy giờ một phần vì không có ảnh hưởng trực tiếp đến chính trị, một phần vì có tinh thần dung hợp không

kỳ thị tôn giáo, nên đã không phải là động lực đưa tới những đạo dụ

“cấm đạo” của vua Minh Mạng Chính sách đàn áp kỳ thị Cơ Đốc giáo về phía chống lại chính quyền Lực lượng Cần Vương mà phần chủ yếu là Nho sĩ cũng tiếp tục xô đẩy một số người Công giáo vào thế đối lập5

Chính những lý do đó mà Pháp lấy cớ xâm lăng Việt Nam Chiến tranh Pháp - Việt nổ ra vào thời nhà Nguyễn 1858 - 1884 Đồng thời các giám mục Pháp cũng bắt tay với quân Pháp để thôn tính Việt Nam Sau đó miền Tây Nam Bộ cũng rơi vào tay Pháp Thời kỳ Pháp thuộc được kể từ 1884 - 1945 Cũng từ khi nhà Nguyễn bị đô hộ, chữ Nôm, chữ Nho bị thay bởi chữ La tinh ngày nay gọi là chữ quốc ngữ Sau khi bị Pháp đô hộ, đạo Công giáo được tự do phát triển Nam Định là cái nôi sơ khai khi đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, các giáo xứ Bùi Chu, Phát Diệm lập cứ điểm vừa truyền giáo vừa chống lại triều đình Một số chùa

5 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận

Trang 6

bị biến thành nhà thờ Theo một số tài liệu lịch sử như sách của

Louvet La vie de Mgr Puginier, tiểu thuyết lịch sử Bóng nước Hồ

Gươm của Chu Thiên, các tài liệu trong Văn khố Hội Thừa sai

Paris (M.E.P.)… cho thấy điều này

Sau thời gian dài, tu sĩ Phật giáo không cập nhật kiến thức, văn minh Tây phương, cứ mãi ôm ấp chữ Nho, chữ Nôm mà lớp trẻ không thể tiếp thu dễ như chữ quốc ngữ (La tinh), vì vậy khó tìm người trẻ kế thừa “trụ Như Lai xứ” Vì không được đi học theo kiến thức thời đại, chỉ biết ma chay đám tiệc và làm ruộng, nên hầu hết các sư được gọi là Cổ Sơn Môn hay Lục Hòa Tăng, họ đều có vợ con, ăn thịt cá, uống rượu, kiêm luôn cúng đình cúng miễu Người dân xem tu sĩ đó là một cái nghề để đáp ứng ma chay, xem ngày tháng cưới hỏi, xây cất được ưu thế là thân cận gần gũi người dân, nhưng cũng vì thế người dân thiếu sự kính trọng hơn các linh mục Phật giáo tồn tại trong thời Pháp thuộc nhờ gắn kết với tập quán nhân dân, đáp ứng được nhu cầu tâm linh của giới bình dân Thêm vào lúc Nho gia chiếm địa vị độc tôn khi nhà Nguyễn dùng đó để khôi phục và bảo vệ nhà nước tập quyền chuyên chế theo thuyết vua là Thiên tử, nên Nho gia đả kích gièm xiểm Phật giáo để vua chúa nghe theo Thời kỳ hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn suy thoái của Phật giáo

Khi nền văn minh Tây Âu thâm nhập vào xã hội Việt, mọi cơ cấu truyền thống bị đảo lộn, tình làng nghĩa xóm được đo lường bởi tài sản và địa vị xã hội, thị dân hóa cuộc sống Gia Long cũng nặng

về Tây phương do ân nghĩa, nên ảnh hưởng đến thời Tự Đức, Phật giáo vẫn còn bị giới hạn nhiều mặt về xây dựng và phát triển Có sự tách hẳn Phật giáo ra khỏi ảnh hưởng triều chính xưa kia Từ nhà Nguyễn, Phật giáo suy vi hẳn, không nghe danh tánh một cao Tăng chứng đắc hay một danh Tăng nổi bật nào

Một số vị chân tu ẩn thân nơi rừng sâu núi thẳm, uy tín Phật giáo trong nhân gian cũng nhợt nhạt Một số tu sĩ ngả sang thần quyền, bùa phép, ảnh hưởng của Đạo gia, mê tín dị đoan xâm nhập vào thiền môn Ngược lại cách thờ phượng, hành lễ của Công giáo

Trang 7

mang tính giản dị thanh thoát, nhạc lễ cũng khác hẳn nhạc lễ trống phách ồn ào của Phật giáo Tin Lành càng đơn giản hơn và mang vẻ trí thức hơn Hai tổ chức tôn giáo nói trên được chính quyền bảo hộ

và dành nhiều đãi ngộ

Sau đệ nhị thế chiến, trước sự ồ ạt tấn công văn hóa và tôn giáo

từ phương Tây, các cao Tăng Phật giáo ở Trung Hoa, Sri Lanka, Thái Lan ý thức được sự tồn vong của đạo Phật nên các Ngài khởi xướng chấn hưng Phật giáo Từ 1950 - 1951 Đại hội Phật giáo thế giới tổ chức tại Tích Lan đã chọn giáo kỳ ngũ sắc và thành lập nội quy sinh hoạt chung, tôn trọng các tông phái của mỗi quốc gia Việt Nam có Hòa thượng Tố Liên dẫn đầu đoàn tham dự, từ đó, Phật giáo Việt Nam là thành viên thường trực trong hội Phật giáo Liên hữu

Thập niên 1920, tuy Phật giáo Việt Nam suy thoái, vẫn có những bậc lương đống âm thầm đào tạo Tăng tài như: Ở miền Nam

có Hòa thượng Từ Phong, Khánh Hòa, Chí Thành, Huệ Quang, Khánh Anh, Tâm Thông, Hoằng Nghĩa ; ở miền Trung có Hòa thượng Tuệ Pháp, Thanh Thái, Đắc Ân, Tâm Tịnh, Phước Huệ ;

ở miền Bắc có Hòa thượng Thanh Hanh, Phổ Tuệ Chủ xướng chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ được khởi xướng ở Ấn Độ bởi cư

sĩ David Hewavitarane, người Tích Lan, sau này xuất gia thành Đại đức Dharmapala Công việc đầu tiên của ông là vận động trùng

tu lại những Phật tích quan trọng ở Ấn Độ, và tiếp theo là lập hội Mahabodhi Society, xuất bản tạp chí Phật học, thành lập trung tâm Phật học và tu viện Phật giáo Nhờ có sự khuyến khích của thi sĩ

Edwin Arnold người Anh, tác giả The Light of Asia (Ánh sáng Á châu), và đại tá Henry Steel Olcott (người Hoa Kỳ), Dharmapala đã

đạt tới những thành công lớn Nhờ sự có mặt Tiến sĩ Ambedkar, hàng triệu người Ấn thuộc giai cấp hạ tiện tại Ấn Độ đã quy y theo Phật giáo Tại Nagpur ngày 14.10.1956, năm trăm ngàn người đã làm lễ quy y trong một lần6

Từ chất xúc tác này, chư Tôn đức Việt Nam mạnh dạn bắt tay

6 Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận

Trang 8

vào công cuộc chấn hưng Phật giáo mạnh mẽ, trong đó có sự góp sức của các cư sĩ nổi tiếng như bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám, Thiều Chửu, Đoàn Trung Còn Mạnh nhất là miền Trung, nơi đào tạo nhiều danh Tăng sau này đã cùng nhau đứng lên chống lại chính sách triệt tiêu Phật giáo của Ngô triều

2 Sự xuất hiện Tổ sư Minh Đăng Quang và Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam

Trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo, Phật giáo miền Nam vẫn chưa có sự gắn kết chặt chẽ vì chính quyền bảo hộ của Pháp trấn áp nhiều phong trào yêu nước Một số giáo phái tín ngưỡng được phát triển dưới sự quản lý chặt chẽ về chính trị của nhà nước bấy giờ, nhưng nới lỏng về đạo đức, mê tín hoành hành,

vì thế dễ phát sinh tha hóa, nhất là tu sĩ Phật giáo không còn nghiêm minh giới luật, làm cho quần chúng không còn niềm tin tôn giáo như trước đây; do đó một số tín ngưỡng mới ra đời được gọi là tôn giáo nội sinh Và đặc biệt, ở Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân về kinh tế, văn hóa,

xã hội và tư tưởng đã xuất hiện nhiều đạo mới, hoặc đi ra từ Phật giáo, hoặc đi ra từ tín ngưỡng dân gian, hoặc đi ra từ tam giáo như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh độ Cư

sĩ Phật hội Việt Nam, đạo Minh Sư và các nhóm Ngũ chi Minh đạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tân)

mở rộng ảnh hưởng vào đầu thế kỷ XX, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo

Đạo Phật Khất sĩ cũng ra đời trong thời gian này, mang một sắc thái đạo Phật đặc biệt tại miền Nam Việt Nam khi đất nước bị chia đôi sau đệ nhị thế chiến

Thân thế gia tộc Tổ sư Minh Đăng Quang

Đức Tổ sư Minh Đăng Quang là giáo chủ khai sáng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, tự Lý Huờn; sinh năm Quý Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, Vĩnh Long, miền Nam Việt Nam Sinh trưởng trong

Trang 9

một gia đình hiền lương đạo đức, Ngài là con út trong gia đình có

5 anh chị em Riêng Ngài được ngụ thai đến 12 tháng Chào đời được mười tháng thì thân mẫu mất, Ngài được thân phụ và kế mẫu nuôi dưỡng Thuở ấu thời, Ngài có nhiều đặc tính khác thường so với những trẻ cùng lứa tuổi, thông minh, oai nghi, nói năng, hành động trang nghiêm, điềm đạm Tuy còn bé nhưng Ngài ham thích đọc sách, nghiên cứu tôn giáo Do túc duyên với đạo lý, Ngài nhất quyết ra đi tìm chân lý cho dù thân phụ quyến luyến cản ngăn Mới

15 tuổi, một thân một bóng vượt biên giới qua Campuchia tầm sư học đạo Qua nhiều thử thách cam go, Ngài được ông Lục người Việt gốc Khmer hài lòng, trao truyền gia sản, sự nghiệp, nhưng Ngài từ chối Rồi nghiệp duyên tiền kiếp còn sót lại, Ngài kết hôn cùng cô Kim Huê - một cô gái công dung ngôn hạnh vẹn toàn,

để đáp nghĩa sinh thành với thân phụ lúc tuổi xế chiều, rồi cũng chẳng bao lâu, người phối ngẫu cũng ra đi theo lẽ vô thường Từ đó không còn bận bịu gia đình, Ngài ra đi quyết tìm chân lý Núi Thất Sơn là nơi tu luyện tâm thức Ngài suốt thời gian chiêm nghiệm nghiên cứu về Phật giáo

Tâm nguyện nối truyền Chánh pháp Thích-ca

Trước bối cảnh phức tạp của xã hội và tín ngưỡng bị pha tạp, sau thời gian cầu pháp và ẩn tu, Ngài trở lại thị thành để giáo hóa nhân sinh

Về hình thức, Ngài sử dụng pháp phục theo Nam tông, theo nguồn gốc của thời Phật tại thế được Phật giáo nguyên thủy bảo tồn đến nay Ngài chủ trương ăn ngọ, trì bình khất thực nhưng giữ trường trai, ngủ gốc cây như trong “Pháp giáo truyền lưu Tứ y pháp” được đề cập trong giới nhà Phật, đó là con đường chấn chỉnh nếp tu tập đã bị thời gian làm phai nhạt

Bài pháp đầu tiên Ngài thuyết giảng là “Thuyền Bát-nhã”, sau khi ngộ lý vô thường từ sóng nước dập dìu trên biển Hà Tiên, mang tinh thần hợp duyên, vô thường, vô ngã của nhà Phật Ngài bắt đầu du

phương hoằng hóa với Tăng đoàn “tam y nhất bát” đúng với bài Nhất

bát thiên gia phạn - cô thân vạn lý du, vũ trụ là nhà, vạn vật là bạn!

Trang 10

Tư tưởng Tổ sư Minh Đăng Quang

Quan điểm võ trụ quan của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ

Chơn lý, tuy giải thích dẫn chứng theo tiến trình khoa học vật lý, từ

thể của vũ trụ đến nhân duyên của mỗi quả địa cầu, hình thể địa cầu, ánh sáng của địa cầu chúng sanh trong vũ trụ cuối cùng là chân lý vũ trụ theo trình độ khoa học hiện đại Tóm lại bài Chơn lý

“Võ trụ quan” hàm tàng thuyết nhân duyên trong giáo lý Phật giáo Nguyên thủy

Mười hiện trạng của võ trụ quan trong bộ Chơn lý đã xác định

yếu tố cấu thành qua bốn giai đoạn: thành - trụ - hoại - không với các yếu tố đất - nước - gió - lửa có sinh diệt nhưng vẫn tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, thì với giáo lý nguyên thủy coi một số pháp

(dharmas, thành tố) bị ô uế và hạn định là có thật, và đồng thời cũng

tin rằng một số pháp không bị ô uế (vô ô nhiễm) và không bị hạn định là có thật Theo nhận xét của phái Nguyên thủy, Niết-bàn có nghĩa là một sự thay đổi thực sự của những sự sinh tồn cá biệt, hữu

hạn (samkrta dharmas: hữu vi pháp) và ô uế (klésas) thành những pháp vô hạn định (asamskrta) và không ô uế Trong sự hình thành

và hoại diệt của vũ trụ vạn pháp, chơn lý đã xác định tính vô thường

chi phối bởi nhân quả Phần XV của “Ngũ uẩn” trong bộ Chơn lý viết:

“Chúng sanh sanh ra là bởi ấm, do nhân duyên chuyển nẩy, cái này cái

kia sanh cái nọ Cái có sanh cái có mà thôi, có hiệp có tan ”7 Cũng

trong Chơn lý:

Không sắc thân đâu có thọ cảm.

Không thọ cảm đâu có tư tưởng.

Không tư tưởng đâu có hành vi.

Không hành vi đâu có thức trí.

Không thức trí đâu có giác chơn!8

7 Tổ sư Minh Đăng Quang, Chơn lý, tập I, “Ngũ uẩn”, Hà Nội, Nxb Tôn giáo,

2009, tr.47.

8 Sđd, tr.37

Ngày đăng: 14/04/2022, 09:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w