Công nghiệp hóa ở nớc ta xuất phát từ điểm rất thấp về phát triển kinh tế- xã hội, về phát triển lực lợng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tí
Trang 1Đề tài : Vận dụng một nội dung triết học để nghiên cứu một
hiện tợng thực tế.
Mở đầu
Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua phát triển kinh tế rất sôi động, các nớc nhanh chóng thực hiện các chính sách kinh tế nhằm đa kinh tế phát triển, trong đó con ngời là vị trí trung tâm Muốn vậy các nớc không còn con đờng nào khác là phải thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá Do vậy vấn đề công nghiệp hoá là vấn đề chung mang tính toàn cầu khiến mọi ngời đều phải quan tõm nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam vẫn thuộc loại những nớc nghèo nhất thế giới, nền kinh tế cũn ở tình trạng lạc hậu, đất nớc cha thoỏt khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất cha ổn định, tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bội chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (6,28% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu ngời thuộc loại thấp nhất thế giới: 220USD, tốc độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nớc trong khu vực Gắn liền với nền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của sản xuất nhỏ Cùng với những thuyền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyền thống lạc hậu của những người đó chết đang đè nặng lên vai ngời đang sống Vì vậy muốn không bị tụt hậu xa hơn nữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung
-ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và
Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (20-25/1/1994) đã xác định tới
đây nớc ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.”Chủ trơng đó tiếp tục đợc hoàn thiện và
có bớc phát triển mới ở các Đại hội VII,VIII,IX và trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Trung ơng Song dựa vào đâu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì
Trang 2từ chỗ thấy đợc tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí nh
đã từng xảy ra trớc đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu
điều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa
Công nghiệp hóa ở nớc ta xuất phát từ điểm rất thấp về phát triển kinh tế- xã hội, về phát triển lực lợng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất phát triển của lực lợng sản xuất
Vận dụng vốn kiến thức đó học kết hợp với việc nghiờn cứu t i liài li ệu trong cỏc sỏch tham khảo và trờn mạng internet,… tụi mạnh dạn chọn đề tài
“Mối quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quỏ trỡnh cụng nghiệp húa – hiện đại húa của nước ta hiện nay” để làm chủ để cho bài
luận của mỡnh
Nội dung
1 Nhận thức chung
1.1 Phơng thức sản xuất
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phơng thức
sản xuất biểu thị cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở
những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời Với một cách thức nhất định của sự sản xuất xã hội, trong đời sống xã hội sẽ xuất hiện những tính chất, kết cấu và những đặc điểm tơng ứng về mặt xã hội
Đối với sự vận động của lịch sử loài ngời, cũng nh sự vận động của mỗi xã hội cụ thể, sự thay đổi phơng thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay
đổi có tính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã
Trang 3hội đợc chuyển sang một chất mới Phơng thức sản xuất là cái mà nhờ nó ngời ta có thể phân biệt đợc sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau Dựa vào phơng thức sản xuất đặc trng của mỗi thời đại lịch sử, ngời
ta hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào C Mác viết:
“ Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những t liệu lao động nào”
Phơng thức sản xuất, cách thức mà con ngời ta tiến hành sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tơng ứng.
1.2 Lực lợng sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất là các khái niệm dùng để chỉ quan hệ mà C.
Mác gọi là “ quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội: quan hệ của ngời với tự nhiên và quan hệ của con ngời với nhau
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa ngời với giới tự nhiên Lực lợng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con ngời trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động với kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng lao động, biết sử dụng t liệu sản xuất để tạo
ra của cải vật chất.Trong quá trình sản xuất, lao động của con ngời và t liệu sản xuất, trớc hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất Trong đó, “ lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động”
T liệu sản xuất bao gồm đối tợng lao động và t liệu lao động
Trong t liệu lao động có công cụ lao động và những t liệu lao động khác cần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C Mác đã nêu một t
t-ởng quan trọng về vai trò của lực lợng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội C Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lợng sản xuất Do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay đổi phơng thức sản xuất của mình, và do thay đổi phơng thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài ngời thay đổi tất cả quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nớc đa lại xã hội nhà t bản công nghiệp”
1.3 Quan hệ sản xuất
Trang 4Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, khái
niệm lực lợng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “ quan hệ song trùng”
của bản thân sự sản xuất xã hội- quan hệ của con ngời với tự nhiên; còn
khỏi niệm quan hệ sản xuất biểu thị mặt thứ hai của quan hệ đó- quan hệ
của con ngời với con ngời trong sản xuất Sở dĩ quỏ trình sản xuất xã hội có thể diễn ra bình thờng, chính là vì trong sự sản xuất đó, mối quan hệ giữa con ngời với con ngời tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con ngời với giới tự nhiên Trong sản xuất, mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên thể hiện thành những trình độ khác nhau của lực lợng sản xuất Tuy nhiên, mối quan hệ đó đợc xây dựng trong và thông qua những quan hệ khác nhau giữa
ngời với ngời, tức là những quan hệ sản xuất Trong tác phẩm Lao động làm
thuê và t bản, C Mác viết: “ Trong sản xuất, ngời ta không chỉ quan hệ với
giới tự nhiên Ngời ta không thể sản xuất đợc nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất đợc ngời ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất
định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”
Nh vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con ngời ta,
dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với nhau những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn của ai cả Đó chính là những quan hệ sản xuất Tuy nhiên, quan hệ sản xuất là do con ngời tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan sự vận động của đời sống xã hội
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây:
+ Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc sở hữu về t liệu sản xuất + Quan hệ giữa ngời và ngời đối với việc tổ chức quản lý
+ Quan hệ giữa ngời và ngời đối với việc phân phối sản phẩm lao
động
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con ngời, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất thuộc đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực l-ợng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội Ba mặt quan
hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một
hệ thống mang tính ổn định tơng đối so với sự vận động không ngừng của
lực lợng sản xuất Các quan hệ sản xuất của một phơng thức sản xuất là một
hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dới nhiều hình thức Mỗi mặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò
Trang 5và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung
Tính chất của quan hệ sản xuất trớc hết đợc quy định bởi quan hệ sở hữu đối với t liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trng cơ bản của phơng thức sản xuất Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế- xã hội xác định, quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất luôn luôn có
vai trò quyết định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản
xuất Chính quan hệ sở hữu- quan hệ giữa các tập đoàn ngời trong việc chiếm hữu các t liệu sản xuất đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội Đến lợt mình, địa vị của từng tập đoàn ngời trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà các tập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản xuất Cuối cùng, chính quan hệ sở hữu là cái quyết định phơng thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn ngời theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội “ Định nghĩa quyền sở hữu t sản không phải là gì khác mà
là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sản xuất t sản”.( 7)
Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài ngời đã từng trải qua, lịch
sử đã chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với t liệu sản xuất: sở hữ t nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó t liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng
đồng Nhờ cơ sở đó nên về mặt nguyên tắc, các thành viên của mỗi cộng
đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và trong phân phối sản phẩm Do t liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đống nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau Ngợc lại, trong các chế độ t hữu, do t liệu chỉ nằm trong tay một số ít ngời nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít ngời đó Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ t hữu tiềm tàng khả năng trở thành đối kháng gay gắt Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ trong các chế độ sở hữu t nhân của các xã hội điển hình trong lịch sử( sở hữu t nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu t nhân trong chế độ phong kiến và sở hữu t nhân trong chế độ t bản) thì chế độ sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại sở hữu này
Trang 6C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh rằng chế độ t bản chủ nghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loài ngời Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ t hữu
Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hớng của mỗi nền sản xuất cụ thể Bằng cách nắm bắt các nhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vận động của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hớng thích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể Do vậy, việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vơn tới tối u Trong tr-ờng hợp ngợc lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan
hệ sở hữu, ảnh hởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiện đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trớc
đây Đây là điều rất đáng lu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức
quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của
con ngời, nên các quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế- xã hội Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của
sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong tr-ờng hợp ngợc lại, nó có khả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội
1.4 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Trang 7Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài ngời- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Quy luật này vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lợng sản xuất Đến lợt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Khuynh hớng của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều hớng tiến bộ Sự biến đổi đó, xét đến cùng, bao giờ cũng bắt đâù từ sự biến
đổi và phát triển của lực lợng sản xuất, trớc hết là của công cụ lao động
Do vậy, lực lợng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự biến
đổi của phơng thức sản xuất: Trình độ của lực lợng sản xuất trong từng giai
đoạn của lịch sử loài ngời thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con
ng-ời trong giai đoạn lịch sử đó Khái niệm trình độ của lực lợng sản xuất nói
lên khả năng của con ngời thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện ở:
+ Trình độ tổ chức lao động xã hội
+ Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con ngời
+ Trình độ phân công lao động
Trình độ của phân công lao động thể hiện rõ ràng nhất trình độ của lực lợng sản xuất
Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lợng sản xuất, còn có khái niệm
tính chất của lực lợng sản xuất Chính Ph Ăngghen đã sử dụng khái niệm
này để phân tích lực lợng sản xuất trong các phơng thức sản xuất khác nhau Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của quá trình sản xuất ra sản phẩm Quá trình này phụ thuộc vào tính chất của t liệu sản xuất và lao
động Lực lợng sản xuất có tính chất cá nhân thể hiện tính chất của t liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ công và tính chất của lao động là lao động riêng lẻ Những công cụ sản xuất nh búa, rìu, cày bừa, xa quay sợi do một ngời sử dụng để sản xuất vật dùng, không cần tới lao động tập thể, lực lợng sản xuất cóa tính chất cá nhân Khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều ngời mới sử dụng đợc, để làm ra một sản phẩm cần phải có sự hợp tác của nhiều ngời Mỗi ngời làm một bộ phận công việc mới hoàn thành đợc sản
Trang 8phẩm ấy cho nên lực lợng sản xuất mang tính chất xã hội hóa Ph Ăngghen
đã nhận định giai cấp t sản “ không thể biến những t liệu sản xuất có hạm
ấy thành những lực lợng sản xuất hùng mạnh mà lại không biến chúng từ chỗ là t liệu sản xuất do cá nhân sử dụng thành những t liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể đợc sử dụng chung bởi một số đông ngời”( 8) Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất không tách biệt với nhau
Quan hệ sản xuất đợc hình thành, biến đổi, phát triển do lực lợng sản xuất quyết định
Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động
và chế tạo ra những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn Cùng với sự biến
đổi và phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con ngời cũng tiến bộ Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tơng đối ổn định, có khuynh hớng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lợng sản xuất Lực lợng sản xuất là nội dung của phơng thức sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dung thay đổi trớc, sau đó hình thức mới biến đổi theo Tất nhiên, trong quan hệ với nội dung , hình thức không phải
là mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối với việc phát triển của nội dung
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình thành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất Sự phù hợp đó là động lực cho lực lợng sản xuất pats triển mạnh mẽ Nhng, lực lợng sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hớng
t-ơng đối ổn định Khi lực lợng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan
hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trở thành chớng ngại đối với sự phát triển của nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phơng thức sản xuất Sự phát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan
hệ sản xuất cũ, thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lợng sản xuất, mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển
Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phơng thức sản xuất đã lỗi thời
và sự ra đời của một phơng thức mới Trong xã hội có giai cấp đối kháng,
Trang 9mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời là cơ sở khách quan của các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội C Mác đã nhận định: “ Tới một giai
đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lợng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội”( 9)
đó là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định của lực lợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lợng sản xuất dựa vào đó đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc lìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển Ngợc lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lợng sản xuất thì trở thành “ xiềng xích trói buộc” kìm hãm sự phát triển của lực l-ợng sản xuất Song tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng nó sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực l-ợng sản xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy
định phơng thức phân phối phần của cải ít hay nhiều mà ngời lao động đợc hởng Do đó ảnh hởng đến thái độ của quảng đại quần chúng lao động- lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân công lao động
Tuy nhiên, không đợc hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan
hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản
Trang 10xuất mới trở thành động lực thúc đẩy con ngời hành động nhằm phát triển sản xuất
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội Sự tác
động của quy luật này đã đa xã hội loài ngời trải qua các phơng thức sản xuất: công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa và phơng thức sản xuất cộng sản tơng lai
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kế tiếp nhau từ thấp lên cao của các phơng thức sản xuất Nhng không phải bất cứ nớc nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phơng thức sản xuất mà loài ngời đã biết đến Thự tế phát triển của lịch sử nhân loại cho thấy, tùy theo điều kiện lịch sử- cụ thể, một số nớc có thể bỏ qua một hoặc một số phơng thức sản xuất để tiến lên phơng thức sản xuất mới cao hơn Đó chính là sự biểu hiện của quy luật chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nớc Quy luật chung chi phối sự vận động phát triển của tất cả các nớc; còn hình thức, bớc đi cụ thể lại tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nớc
2 Nhận thức chung về quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa
2.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội
từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao
2.2 Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Tạo điều kiện biến đổi về chất lợng sản xuất, tăng năng suất lao
động, tăng sức chế ngự của con ngời đối với tự nhiên, tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế; do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân
dân; góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội
- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc; nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con ngời- nhân tố trung tâm của nền sản xuất xã hội