DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTSGTBS : Suy giáp trạng bẩm sinh CTSLSS : Chương trình sàng lọc sơ sinh HMGT : Hormon giáp trạng T3 : Triiodothyronin T4 : Tetraiodothyroxin TRH : Thyroid releasi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học
TS.LÊ ANH TUẤN
PGS TS NGÔ VĂN TOÀN
HÀ NỘI 2010
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGTBS : Suy giáp trạng bẩm sinh
CTSLSS : Chương trình sàng lọc sơ sinh
HMGT : Hormon giáp trạng
T3 : Triiodothyronin
T4 : Tetraiodothyroxin
TRH : Thyroid releasing hormon
TSH : Thyroid stimulating hormon
ELISA : Phương pháp định lượng miễn dịch enzym
KN : Kháng nguyên
KT : Kháng thể
RIA : Radio immuno assay
XQ : X Quang
EIA : Enzym immuno assay
BVPSTƯ : Bệnh viện phụ sản trung ương
Trang 3Thuật ngữ sàng lọc sơ sinh dùng để mô tả một số xét nghiệm được làm trongnhững ngày đầu tiên của đứa trẻ khi vừa lọt lòng mẹ Những đứa trẻ này hoàn toànkhông có bất cứ biểu hiện bất thường về mặt hình thái Tuy nhiên chúng có nguy
cơ tiềm ẩn những bệnh lý liên quan đến nội tiết-chuyển hoá-di truyền mà nếuchúng ta không phát hiện được ở giai đoạn này thì trẻ sẽ bị ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự phát triển thể chất và tinh thần, thậm chí dẫn đến tử vong Vì vậy,sàng lọc sơ sinh là một biện pháp dự phòng hiện đại với trình độ khoa học và kỹthuật cao nhằm phát hiện ra tần suất các bệnh tật của mỗi địa phương, mỗi quốc gia[1]
Mặc khác trong giai đoạn hiện nay, chất lượng dân số đang là vấn đề quantâm của nhiều nước trên thế giới nhằm mục đích cho ra đời những đứa trẻ hoàntoàn khoẻ mạnh, thông minh, phát triển tâm thần, thể chất bình thường để trở thànhnhững công dân có ích cho gia đình và xã hội [1] Vì vậy đây là một chương trình
có ý nghĩa rất quan trọng và nó đã trở thành chiến lược của nhiều quốc gia trên thếgiới trong đó có Việt Nam
Trang 4Chương trình sàng lọc sơ sinh trên thế giới bắt đầu từ những năm 60 của thế
kỷ trước, sau hơn 40 năm, hệ thống sàng lọc sơ sinh đã được thiết lập tại nhiềuquốc gia trên thế giới Ngày nay, chương trình sàng lọc sơ sinh không chỉ mở rộng
về quy mô và phạm vi sàng lọc mà các nhà khoa hoc còn mở rộng số lượng bệnhđược sàng lọc, điển hình như suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD,phenylxetone niệu
Suy giáp trạng bẩm sinh là bênh phổ biến đứng thứ 2 sau bướu cổ, không chỉ
có tần suất cao ở trong vùng dịch tễ bướu cổ mà gặp ở mọi nơi trên thế giới Cónhiều nguyên nhân dẫn đến suy giáp như thiểu sản tuyến giáp, cấu trúc bất thườngcủa tuyến giáp, tuyến giáp lạc chỗ hoặc không có tuyến giáp Bệnh này thường ítđược phát hiện sớm hoặc chỉ được chỉ định sàng lọc khi mẹ có bệnh lý về tuyếngiáp (cường giáp đang điều trị thuốc) Tỉ lệ thiểu năng tuyến giáp hiện nay ở cácnước trên thế giới từ 1/3500 đến 1/4000 trẻ mới sinh ra Một nghiên cứu về SGBStại 5 tỉnh: Tp HCM, Lâm Đồng, Hà Giang, Đà Nẵng, Huế năm 2004-2005 đã sànglọc cho 19.200 trường hợp, phát hiện có 4 trẻ bị SGBS, tần suất mắc là 1/4800
Tuy bệnh SGTBS đã được sàng lọc ở Việt Nam từ rất sớm nhưng nhữngnghiên cứu về tỷ lệ bệnh ở trẻ sơ sinh được sàng lọc ở Việt Nam vẫn chưa nhiều.Vì
vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tỷ lệ bệnh suy giáp trạng bẩm sinh tại một
số tỉnh phía Bắc từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010” nhằm những mục
tiêu sau
Mục tiêu nghiên cứu:
Mô tả tỷ lệ suy giáp trạng bẩm sinh tại một số tỉnh phía Bắc từ tháng 6năm 2009 đến tháng 3 năm 2010
Mô tả một số yếu tố liên quan với tình trạng suy giáp trạng bẩm sinh
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ
1 Một số hiểu biết về bệnh suy giáp trạng bẩm sinh
1.1 Định nghĩa:
SGTBS là một tình trạng giảm chức năng tuyến giáp, sản xuất hormon tuyến giápdưới mức bình thường, làm giảm nồng độ hormon máu do đó gây giảm chuyển hoá[8]
1.2 Sinh tổng hợp HMTG
1.2.1 Tổng hợp HMTG
Iod được tập trung tại tuyến giáp, dưới tác dụng của men Peroxydase Iod vô
cơ được hữu cơ hoá thành iod oxy hoá Iod oxy hoá gắn vào Thyroglobulin tạothành MIT và DIT MIT và DIT ghép đôi tạo thành T3 hoặc T4 Sau đó T3,T4 đượcgiải phóng khỏi Thyroglobulin vào máu nhờ men Peptidase đến cơ quan đích làmnhiệm vụ hormone Sau khi làm nhiệm vụ hormone Iod được giải phóng nhờ menDesiodase, và Iod lại quay lại chu trình ban đầu
1.2.2 Điều hoà bài tiết
SƠ ĐỒ ĐIỀU HOÀ TỔNG HỢP HORMONE TUYẾN GIÁP:
Trang 6Điều hòa bài tiết hormon tuyến giáp theo cơ chế điều khiển ngược(Feedback) âm tính: Khi nồng độ hormon giáp trong máu tăng cao sẽ ức chế vùngdưới đồi và tuyến yên, làm TRH và TSH giảm tiết, do đó tuyến giáp giảm bài tiết
T3, T4 Ngược lại, khi nồng độ T3, T4 trong máu giảm thấp sẽ có tác dụng kích thíchvùng dưới đồi và tuyến yên tiết nhiều các TRH và TSH, hậu quả là T3, T4 lại đượctiết nhiều Nhờ cơ chế điều hoà này mà nồng độ hormon tuyến giáp trong máu ởngười bình thường luôn ở mức bình thường
1.2.3 Vai trò của hormon TSH
TSH là hormon của thuỳ trước tuyến yên, tác dụng lên mô đích là tuyếngiáp
Tăng số lượng và kích thước tế bào tuyến giáp, phát triển các maomạch của tuyến, do đó làm tăng trọng lượng tuyến [5]
Tăng tổng hợp và giải phóng hormon T3,T4
Tăng hoạt bơm iod do đó làm tăng khả năng bắt iod của tế bào tuyếngiáp
Tăng gắn iod vào nhân Tyrosin
Tăng phân giải Thyroglobulin trong nang giáp để giải phóng hormonvào máu [4] [5]
1.3 Vai trò của HMGT (T 3 , T 4 )
T3, T4 do các tế bào nang giáp tiết ra, bản chất hoá học là nhân Tyrosin cógăn Iod, có rất nhiều tác dụng lên sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể [4] [5]
Với sự phát triển của bào thai
Tuyến giáp và hệ thống thuỷ trước tuyến yên liên quan TSH bắt đầu hoạtđộng từ tuần lễ thứ 11, trước thời kỳ này tuyến giáp của bào thai không thu nhậniod phóng xạ,do nồng độ cao của enzym loại 3’-5’ deiodinase của nhau thai, hầuhết T3, T4 của máu mẹ bị bất hoạt trong nhau thai và rất ít HMGT dạng tự do đếntuần hoàn nhau thai
Trang 7Chính lượng hormon tự do từ máu mẹ tuy ít nhưng rất quan trọng cho pháttriển sơ bộ của não Tuy nhiên sau 11 tuần, thai phát triển phụ thuộc vào HMGTcủa ban thân nó.
Một vài trường hợp phát triển thai nhi xảy ra trong điều kiện không cóHMGT của thai tiết ra, sự phát triển não và cơ chất của hệ xương bị ảnh hưởng,hậu quả gây nên chứng đần (phát triển tinh thần chậm và lùn) [7]
Với sự phát triển thể chất sau khi sinh
Bao gồm sự phát triển hệ xương, các cơ quan tương xứng cả về cấu trúc vàchức năng Sự phát triển thể chất ở trẻ em là một quá trình diễn ra liên tục và chịu
sự tương tác của nhiều yếu tố: di truyền, nội tiết, môi trường,… [6]
Ngay sau đẻ,sự phát triển thể chất bắt đầu phụ thuộc vào HMTG, hormontăng trưởng (GH) cũng như các yếu tố tăng trưởng (GF)
Tác dụng với sự phát triển của xương
HMGT có tác dụng trực tiếp và gián tiếp lên sự phát triển hệ xương Cùngvới GH, HMGT tăng kích thích biệt hoá xương, sự chín xương tăng sự đổi mớixương làm giảm độ đậm đặc xương HMGT kích thích phát triển các sụn đầuxương và trực tiếp kích thích xương phát triển theo chiều dài Ngoài ra HMGT còngây tăng huỷ xương và kích thích tái tạo các mô xương mới Trẻ SGTBS nếu điềutrị muộn sẽ lùn và tuổi xương chậm hơn so với tuổi thực
Với sự phát triển của hệ thần kinh
HMGT đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển bình thường của hệthần kinh bao gồm não bộ cũng như hệ thần kinh ngoại biên Giai đoạn quan trọngnhất cho sự phát triển của não bộ là sau khi sinh đến 2-3 tuổi Đến lúc 3 tuổi, trọnglượng não bộ đã tăng gấp 3 lần so với giai đoạn sơ sinh Thiếu HMGT trong thời
kỳ này gây: giảm phân chia tế bào thần kinh đệm, giảm phân nhánh các đuôi gaicác nơron, giảm myelin hoá, tổn thương dẫn truyền thần kinh, giảm khối lượngnão Các hậu quả trên lâm sàng là: chậm phát triển vận động, rối loạn hành vi ứng
Trang 8xử, rối loạn vận ngôn, điếc, giảm trương lực cơ, run giật, co giật và các mức độphát triển tâm thần Cơ chế cử những tác dụng này còn phức tạp,các giả thiết chorằng HMGT tương tác với yếu tố tăng trưởng thần kinh - NGF [17] Tất cả cácthương tổn thần kinh do thiếu HMGT như trên đều không hồi phục và sẽ gây ảnhhưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của trẻ nếu điều trị muộn.
Tóm lại, HMGT có vai trò quan trọng trong sự phát triển thể chất và tâmthần của trẻ nhất là trong vài năm đầu tiên Các ảnh hưởng của thiếu HMGT làtoàn diện và nặng nề, những trẻ SGTBS điều trị muộn có thể coi như những trẻ tànphế thực sự
1.4 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Ở trẻ em SGTBS có thể có rối loạn bẩm sinh về hình thái hoặc rối loạn bẩmsinh tổng hợp HMGT
1.4.1 Do hình thái tuyến giáp:
SGTBS do rối loạn bẩm sinh hình thái tuyến giáp chiếm đa số (80-90%) các trườnghợp SGTBS Gồm
Vô năng tuyến giáp
Tuyến giáp lạc chỗ
Giảm sản tuyến giáp
Vô năng tuyến giáp: Chiếm 37% trong loạn sản tuyến giáp, do rối loạn pháttriển tuyến, không có tuyến giáp hoàn toàn
Giám sản, lạc chỗ tuyến giáp: Tuyến giáp chỉ là mẫu nhỏ và lạc chỗ, chiếm36% trong loạn sản tuyến giáp, do rối loạn quá trình di cư của tuyến hoặc rối loạnhình thành mầm của tuyến ở chỗ nào đó trên đường đi từ đáy lưỡi đến vùng tuyếngiáp Vị trí lạc chỗ thường ở lưỡi, thường gặp ở sau lưỡi hoặc giữa đáy lưỡi và eotuyến giáp
Trang 9Nguyên nhân của loạn sản tuyến giáp chưa thật rõ rang nhưng thấy có liênquan tới một số yếu tố như
Mùa, khí hậu: Nhật Bản thấy mắc bệnh cao hơn vào cuối mùa xuân,đầu mùa thu Ở Australia và Quebec bệnh mắc cao vào cuối thu vàđông
Chủng tộc: Hoa Kỳ người da đen mắc bệnh thấp hơn người da trắng
Giới: Trẻ gái mắc bệnh nhiều hơn trẻ trai
Tỷ lệ mắc bệnh cao khi có mẹ mắc bệnh tự miễn hoặc có mẹ và ngườitrong gia đình mắc bệnh tuyến giáp
Những người mang HLA AW24 thì nguy cơ bị SGTBS tăng 6-8 lần
1.4.2 Do rối loạn tổng hợp HMGT
Chiếm 10- 15% trong SGTBS, là nhóm bệnh di truyền lặn gắn nhiễm sắc thểthường và có tính chất gia đình, những người trong gia đình có thể mắc bệnh Đặcđiểm lâm sang là: có suy giáp trạng và có bướu cổ
Dựa vào các rối loạn sinh hoá thấy có những rối loạn tổng hợp
Rối loạn tập trung Iod
Rối loạn hữu cơ Iod
Rối loạn ghép đôi các Iodothyroxin
Rối loạn thuỷ phân Thyroglobulin
Rối loạn khử Iod
Rối loạn tổng hợp Thyroglobulin
1.5 Triệu chứng lâm sàng
Tuỳ theo mức độ và thời gian bị bệnh, cũng như tuỳ theo nguyên nhân gâybệnh thấy có những biểu hiện lâm sàng khác nhau
1.5.1 Suy giáp trạng phát hiện sớm
Thường gặp do loạn sản tuyến giáp, rất ít gặp do rối loạn tổng hợp
- Trẻ mới đẻ có triệu chứng
Trang 10 Chiều cao giảm, cân nặng thường lớn hơn bình thường hoặc bìnhthường
Hạ thân nhiệt
Trẻ biếng ăn, mút bú kém, bú lâu, táo bón
Vàng da sớm và kéo dài
Khó thở, tím tái
Tóc rậm, khô, thô, lông mày thưa, rậm lông ở lưng
Thâm nhiễm ở cung mày và mũi, da lạnh, khô, có các vân tím, thóptrước và sau rộng, các đường khớp rộng
Khóc khàn, lưỡi to dày, môi dày
Giảm trương lực cơ, thoát vị rốn
Trẻ không khóc hoặc khóc ít, ngủ nhiều, thờ ơ với xung quanh
Càng ngày càng thấy chậm lớn rõ, lùn không cân đối, các chi ngắn,chậm phát triển tinh thần và vận động
1.5.2 SGTBS đến muộn
Thường do lạc chỗ tuyyén giáp, trên lâm sàng có thể thấy biểu hiện suy giáptrạng nhưng các triệu chứng thường không đầy đủ
- Triệu chứng chủ yếu
Trẻ chậm lớn, lùn không cân đối
Đầu to, mặt thô, mũi tẹt, má phị, mắt hùm hụp, môi dày, tóc mọc thấp
Da khô, phù niêm, bụng to, thoát vị rốn, táo bón
Chậm phát triển tinh thần và vận động
1.5.3 SGTBS ở trẻ sơ sinh
Biểu hiện lâm sàng SGTBS ở trẻ sơ sinh thường không rõ ràng, hoặc không
có triệu chứng gì, do vậy tỷ lệ phát hiện SGTBS ở trẻ sơ sinh còn rất thấp Để tạothuận lợi cho việc phát hiện sớm trên lâm sàng, có thể cho điểm lâm sàng (điểmAppgar)
Trang 11 Vàng da kéo dài : 1 điểm
Trương lực cơ giảm : 1điểm
Da khô : 1 điểm
Thóp sau rộng : 1 điểm
Thai quá 40 tuần : 1 điểm
Cân nặng khi đẻ trên 3,5 kg : 1 điểm
Khi có trên 5 điểm là gợi ý có thể mắc suy giáp trạng,cần làm xét nghiệm đểchẩn đoán xác định
Xét nghiệm này thương có giá trị chuẩn đoán nguyên nhân bệnh:
o TSH máu tăng: gặp trong suy giáp trạng tiên phát Trong trườnghợp T3, T4 giảm nhẹ hoặc còn bù thì TSH bình thường hoặc tăngnhẹ
Trang 12o TSH máu giảm: gặp trong suy giáp trạng thứ phát Đôi khi TSHkhông định lượng được Cần làm nghiệm pháp TRH để tìm nguyênnhân do vùng dưới đồi, sau khi tiêm TRH không thấy TSH thayđổi chứng tỏ thiếu TSH do tuyến yên.
o Dựa vào nồng độ TSH máu, người ta ứng dụng vào chương trìnhsàng lọc sơ sinh
Lấy máu gót chân trẻ sơ sinh thấm trên giấy Guthrie để địnhlượng TSH
Định lượng nồng độ TSH bằng kỹ thuật ELISA, RIA
Kiểm tra T3, T4 trong máu để chẩn đoán xác định SGTBS khitest TSH sàng lọc tăng (TSH > 30mUI/L)
Xạ hình tuyến giáp
Qua xạ hình tuyến giáp có thể phát hiện được nguyên nhân SGTBS do vônăng hay lạc chỗ tuyến giáp, hoặc suy giáp trạng mà tuyến giáp vẫn còn ở vị tríbình thường
Chụp XQ tuổi xương
Chụp XQ tuổi xương: trong bệnh SGTBS các điểm cốt hoá xuất hiện muộn,tuổi xương chậm hơn tuổi thực, thấp hơn cả tuổi tầm vóc có khi chỉ bằng nửa tuổitầm vóc
XQ tuổi xương là một trong những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả điều trị.Chụp XQ xương sọ: chậm liền thóp và các khớp sọ Đậm đặc xương ở đáy
sọ và xung quanh 2 hố mắt tạo “hình kính” Xương bướm chậm phát triển nên đáy
sọ ngắn Các thông bào xương chũm, xương đá chậm phát triển Hố yên có thểrộng
Độ tập trung I131: độ tập trung I131 giảm trong rối loạn tổng hợphormon tuyến giáp
Các xét nghiệm khác
Trang 13o Phản xạ đồ gân gót: kéo dài hơn bình thường (bình thường 0,30 giây).
0,20-o Chuyển h0,20-oá cơ bản giảm (xét nghiệm này ít có giá trị thực hành ởtrẻ em vì có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm)
o Cholesterol máu tăng, ở trẻ nhỏ có thể bình thường
o Huyết đồ: thiếu máu đẳng sắc, hồng cầu bình thường
o Điện tim: nhịp xoang chậm, PR kéo dài, biên độ sóng P và phức bộQRS giảm, đoạn ST và sóng T dẹt hoặc đảo ngược
Tinh chất tuyến giáp toàn phần
Hormon tuyến giáp
1.7.1.1 Hormon tuyến giáp
Levothyroxin (Thyroxi : T 4 ) : (µg/kg/ngày)
Liều Levothyroxin theo tuổi
Trang 14Tác dụng của thuốc xuất hiện sau 12-24 giờ, đáp ứng tối đa vào ngày thứ 9,thời gian bán huỷ là 11-15 ngày Cần điều trị liên tục, tránh ngắt quãng, nếu khônguống được thì tiêm.
Thời gian đầu cần nằm bệnh viện để theo dõi, tránh các tai biến : suy tim,suy thượng thận…
Liothyronin (Triiodothyronin : T 3 )
Liều thuốc : liều đầu tiên nên cho thấp: 5 µg/kg/ngày
Dưới 1 tuổi: 20 µg/kg/ngày
1-3 tuổi: 50 µg/kg/ngày
Trên 3 tuổi: 100 µg/kg/ngày
Triiodothyronin (T3) mạnh gấp 3 lần Thyroxin (T4), hấp thu hoàn toàn quaruột, tác dụng lên chuyển hoá nhanh sau 6-8 giờ Do vậy cần chia liều làm 3 lầntrong ngày Thời gian bán huỷ của T3 ngắn (2 ngày), thường dùng T3 trong nhữngngày đầu tiên để rút ngắn tối thiểu thời gian thiếu hormon
1.7.1.2 Tinh chất tuyến giáp
(Thyroidin, Thyranon): Hiện nay không sử dụng để điều trị SGTBS vì kết quảkhông ổn định
2 Chương trình sàng lọc suy giáp trạng bẩm sinh trên thế giới và tại Vịêt Nam 2.1 Sàng lọc suy giáp trạng bẩm sinh và ý nghĩa của nó
Thuật ngữ “sàng lọc sơ sinh” dùng để mô tả một số xét nghiệm được làmtrong những ngày đầu tiên sau khi trẻ ra đời Ý nghĩa của sàng lọc sơ sinh là để tìmkiếm, rà soát một số bệnh có thể gây ra di chứng nặng nề về thể chất và trí tuệthậm chí là tử vong, mặt khác khi được phát hiện và điều trị sớm thì trẻ sẽ pháttriển như bình thường, chi phí cho điều trị rất rẻ mà đạt được hiệu quả cao
Trang 15Hệ thống sàng lọc sơ sinh đối với suy giáp bẩm sinh phải được xây dựngthành chuơng trình bao gồm 6 thành tố quan trọng là giáo dục về suy giáp bẩmsinh, sàng lọc, theo dõi, chẩn đoán, điều trị và đánh giá [12].
Giáo dục về suy giáp bẩm sinh: phải tiến hành giáo dục suy giáp bẩmsinh rộng rãi trong dân chúng, cũng như các nhà lãnh đạo hoạch địnhchính sách quốc gia, cán bộ, nhân viên y tế, thực hành, cũng như sựtham gia hưởng ứng của người dân
Sàng lọc suy giáp bẩm sinh: trước khi lấy máu gót chân trẻ, nhân viên
y tế phải tư vấn cho gia đình hiểu rõ về xét nghiệm sàng lọc suy giápbẩm sinh và đồng ý thực hiện xét nghiệm
o Thời điểm lấy mẫu máu tốt nhất là trong 3-7 ngày sau sinh vớiTSH vì lúc này trẻ đã bắt đầu thích nghi với môi trường bênngoài
o Khi thực hiện lấy mẫu nhân viên y tế phải thực điền đầy đủthông tin vào phiếu lấy mẫu
o Nhân viên y tế có thể thực hiện lấy máu ở gót chân hoặc ở tĩnhmạch
o Mẫu nên để khô tại nhiệt độ phòng 4 tiếng trước khi cho vàophong bì chuyển đến trung tâm xét nghiệm
Theo dõi: phòng xét nghiệm phải làm báo cáo sau mỗi tháng và gửi vềđịa chỉ nơi lấy mẫu để kịp thời theo dõi người bệnh.Bên cạnh đó, nhânviên y labo xét nghiệm sẽ liên lạc trực tiếp qua điện thoại với nhữngtrẻ dương tính với xét nghiệm sàng lọc để hướng dẫn bước tiếp theophải làm để chẩn đoán bệnh cho trẻ
Chẩn đoán suy giáp bẩm sinh dựa trên kết quả xét nghiệm: Đối vớinhững trẻ có xét nghiệm dương tính với xét nghiệm sàng lọc TSH thì
Trang 16phải làm xét nghiệm chẩn đoán bằng định lượng T4 trong mẫu máutươi của trẻ.
Điều trị suy giáp bẩm sinh: phương pháp điều trị cho bệnh này rất đơngiản tuy nhiên đòi hỏi phải điều trị lâu dài Nếu trẻ được phát hiệnsớm mắc bệnh thì chỉ cần 1 lượng hormon bổ sung hàng ngày là trẻ cóthể phát triển như bình thường, tránh được mọi di chứng về trí tuệ vàtinh thần
Đánh giá: sàng lọc đối với suy giáp bẩm sinh nhằm mục đích xác địnhtần suất mắc bệnh suy giáp bẩm sinh trong cộng đồng từ đó đưa racách thức dự phòng và hệ thống theo dõi chặt chẽ đối với những đốitượng nguy cơ cao Bên cạnh đó, thực hiện công tác đánh giá và kiểmtra chất lượng đánh giá và kiểm tra chất lượng đối với các cơ sở lấymáu cũng như là phòng xét nghiệm trung tâm đảm bảo sự tin cậytrong mỗi xét nghiệm
2.2 Chương trình sàng lọc suy giáp bẩm sinh trên thế giới
Từ giữa thế kỷ XX người ta đã quan sát thấy có một số bệnh tật đều sinh ratrong một gia đình, trong một địa phương, một chủng tộc nhất định Đó là nhữngbệnh lý phân tử mang yếu tố di truyền và gia đình Đó là những bệnh lý phân tửmang yếu tố di truyền và gia đình Đó là những bệnh lý rối loạn nội môi không gâychết người ngay như các bệnh cấp tính nhiễm khuẩn nhưng gây tác hại to lớn đếnquá trình phát triển và trưởng thành của con người Nếu không kịp thời phát hiện,điều tiết, bổ sung kịp thời những khiếm khuyết mang tính bẩm sinh, sẽ dẫn đứa trẻđến tàn phế và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Tuy tần suất mắc bệnhnày không cao, nhưng số người mang gen bệnh và tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh làkhông ít trong cộng đồng, nó âm thầm lan truyền trong dòng họ, chủng tộc và ảnhhưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số Đó là tiền đề để ngành sức khoẻ thế
Trang 17giới đề xuất biện pháp sàng lọc sơ sinh, nhằm phát hiện sớm và can thiệp sớm bệnh
lý này [16]
Đến năm 1963, bác sỹ Robert Guthry đã phát triển thành kỹ thuật máu giọttrên giấy để làm thành quy trình sàng lọc sơ sinh ở 29 bang trong Hợp Chủng QuốcHoa Kỳ cho một số bệnh lý huyết sắc tố, rối loạn nội tiết, chuyển hoá và một sốbệnh nhiễm khuẩn Từ đó họ đề nghị làm một số xét nghiệm đơn giản như testferric để chẩn đoán bệnh Phenylketon niệu Đây là nhóm nghiên cứu đầu tiên trênthế giới của văn phòng sức khoẻ bà mẹ trẻ em của Massachusetts đã tham gia vàochương trình y tế cộng đồng về sàng lọc sơ sinh cho trẻ em [16]
Ngay từ khi chương trình bắt đầu, người ta sử dụng giấy thấm máu đểchuyển mẫu máu từ những vùng xa đến phòng xét nghiệm Tuỳ từng điều kiện vềkinh tế và các bệnh lý di truyền của từng quốc gia khác nhau mà sàng lọc ưu tiêncác bệnh có tần suất mắc cao nhất để làm sàng lọc sơ sinh, trong đó có bệnh lý suygiáp trạng bẩm sinh
Cũng thời điểm này, giữa những năm 60, Australia và Newzealand bắt đầulàm thử nghiệm chương trình sàng lọc sơ sinh, đến đầu 1970 thì phát triển thànhchương trình quốc gia với 8 loại bệnh Phenylketon niệu
Tại các nước Châu Âu như Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, Thụy Điển,
Bỉ cũng được tổ chức thành chương trình quốc gia vào những năm 70
Trong hơn 40 năm qua, chương trình sàng lọc sơ sinh tại các quốc gia trênthế giới đã làm giảm tỷ lệ chết và chậm phát triển tinh thần Tiềm năng của chươngtrình mang lại là rất lớn kể cả về lợi ích kịnh tế và lợi ích về chính trị xã hội Tuynhiên chương trình cũng đòi hỏi những nổ lực lớn để vượt qua được những trở ngạikhi mới bắt đầu triển khai
Ở Châu Á có Singapore được bắt đầu sớm nhất vào năm 1965 Đến năm
1979 Nhật Bản đã tiến hành làm thêm chương trình sàng lọc sơ sinh cho bệnh lýsuy giáp trạng bẩm sinh [15]
Trang 18Hầu hết các nước khác trong khu vực đã triển khai chương trình vào nhữngnăm 80 Hồng Kông, Ma Cao làm năm 1984 với 2 loại bệnh là thiểu năng tuyếngiáp và thiếu hụt men G6PD Phát hiện tần suất mắc bệnh suy giáp trạng bẩm sinh
là 1/2404 trẻ sơ sinh sống Trung Quốc bắt đầu năm 1980, phát hiện tần suất mắccủa bệnh suy giáp trạng bẩm sinh là 1/3600 trẻ sơ sinh Hiện nay Bắc Kinh vàThượng Hải đã làm được 95% trẻ sinh ra hàng năm Nhưng tính trong toàn quốccòn thấp là 5% trẻ em được sàng lọc Đài Loan cũng đã có chương trình sàng lọc
sơ sinh từ năm 1981
Những nước trong khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương nhưPhilippines bắt đầu từ 1990,Thái Lan từ năm 1996 Phát hiện tỷ lệ suy giáp bẩmsinh là 1/3314 sơ sinh [14]
Hàng chục năm qua, chương trình sang lọc sơ sinh được tổ chức Năng lượngNguyên tử Liên Hợp Quốc (IAEA) tài trợ dự án RAS 6/032 cho vùng Châu Á –Thái Bình Dương với mục tiêu sử dụng năng lượng nguyên tử và mục đích hoàbình.Chương trình này đã thành lập Ban Chỉ Đạo quốc tế với sự tham gia của cácnhà Nhi khoa, Sản khoa, Di truyền học và Khoa học kỹ thuật hạt nhân IAEA đãđào tạo, giúp đỡ nhiều nước trong khu vực triển khai thành công chương trình sanglọc bệnh suy giáp trạng bẩm sinh Giờ đây nhiều nước có tỷ lệ sang lọc rất cao (99-100%) và đã sang lọc được khá nhiều bệnh, trong đó có các bệnh rối loạn chuyểnhoá là những bệnh hiếm, đòi hỏi chi phí sang lọc rất cao [14]
2.3 Chương trình sàng lọc suy giáp bẩm sinh tại Việt Nam
Việt Nam đã bắt đầu tham gia chương trình sang lọc sơ sinh từ năm 1999với dự án khu vực có tên gọi là RAS/6/032 do Nguyên tử năng quốc tế tài trợ.Chương trình bắt đầu khởi động tại Viện Nhi Trung ương do GS.TS Nguyễn ThịThu Nhạn nguyên Viện trưởng Viện Nhi trung ương khởi xướng [13]
Từ năm 2000 đến năm 2005 dự án RAS làm điểm tại Hà Nội, hiện nay đếngiai đoạn mở rộng, phát triển ở các tỉnh phía Nam và miền Trung tập trung vào 2
Trang 19bệnh là suy giáp bẩm sinh và thiếu men G6PD Cho đến nay nhờ chương trình sanglọc suy giáp bấm sinh, các tỉnh trong dự án đã phát hiện ra rất nhiều trẻ mắc bệnh,góp phần làm giảm gánh nặng điều trị bệnh cho gia đình và xã hội Đồng thời quathời gian thực hiện chương trình sang lọc sơ sinh, tỷ lệ mắc bệnh của thiểu nănggiáp bẩm sinh tại Hà Nội được phát hiện là 1/2500 sơ sinh và tần suất mắc suy giápbẩm sinh tại 12 tỉnh thành miền Bắc là 1/4221 Như vậy qua hơn 5 thập kỷ nghiêncứu và thực hành, chương trình sang lọc suy giáp bẩm sinh đã được toàn cầu hoákhắp năm châu lục chung và tại Việt Nam nói chung (trong đó có Hải Phòng vàThái Nguyên là hai tỉnh nằm trong mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi).Tại bệnhviện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2002 đã triển khai chương trình sanglợc sơ sinh cho hang ngàn trẻ sinh ra tại bệnh viện chủ yếu 2 bệnh suy giáp bẩmsinh và thiếu men G6PD [1].
Tại Việt Nam từ năm 2006 cho đến nay đề án nâng cao chất lượng dân sốthong qua xây dựng và mở rộng chương trình sang lọc sơ sinh đã được triển khaitrong cả nước trong đó Bệnh viện Phụ sản trung ương phụ trách 12 tỉnh phía Bắccho tới năm 2010 bao gồm: Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, QuảngNinh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Ninh Bình và TháiNguyên Miền Nam do bệnh viện Từ Dũ phụ trách bao gồm: Thành phố Hồ ChíMinh, Đồng Nai, Long An, Tiền Giang, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Tháp, TâyNinh, Cà Mau, Vĩnh Long và Thừa Thiên Huế, Bà Rịa-Vũng Tàu Từ năm 2009Tổng cục Dân số/KHHGD đã hỗ trợ và xây dựng trung tâm sang lọc nữa tại miềnTrung là trường Đại học Y Dược Huế và mở rộng them 07 tỉnh ở Khu vực MiềnTrung là: Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định và Gia Lai
Có tần số mắc cao, tỷ lệ mắc trên thế giới 1/4000 sơ sinh, ở Châu Á 1/2500
sơ sinh Theo một số nghiên cứu gần đây ở nước ta tỷ lệ suy giáp bẩm sin vàokhoảng 1/3700 trẻ sơ sinh sống [1]
Trang 20Một nghiên cứu về SGBS tại 5 tỉnh: Tp HCM, Lâm Đồng, Hà Giang, ĐàNẵng, Huế năm 2004-2005 đã sàng lọc cho 19.200 trường hợp, phát hiện có 4 trẻ
bị SGBS, tần suất mắc là 1/4800
3 Một số yếu tố có liên quan với tình trạng suy giáp trạng bẩm sinh
SGTBS nguyên nhân loạn sản và rói loạn tổng hợp hormon tuyến giáp là hainguyên nhân phổ biến
Nguyên nhân do rối loạn tổng hợp hormon tuyến giáp đã có nhiều công bốcho rằng do di truyền lép nhiễm sắc thể thường
Nhưng loạn sản tuyến giáp chiếm tới 80-95% của SGTBS, nguyên nhânchưa thật rõ ràng, đã có những giả thuyết để giải thích như: nhiễm trùng, miễndịch, bào thai học, gen di truyền, nhưng mỗi giả thuyết đều có những mặt khôngthể giải thích được [9,21], người ta cho rằng có một số yếu tố ảnh hưởng như:
Goujard báo cáo 322 trường hợp SGT do loạn sản tuyến giáp, thấy 75% làtrẻ gái [29]
Trang 213.2 Chủng tộc
Cũng theo nghiên cứu 90 trường hợp tại bệnh viện John Hopkins, số trẻ datrắng mắc bệnh cao hơn số trẻ da đen Trong 90 trường hợp chỉ có hai trường hợptrẻ mắc SGTBS là trẻ da đen [21]
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ người da đen mắc SGTBS là 1 : 32000 thấp hơn người datrắng là 1 : 3500 [9,21]
3.3 Miễn dịch
Một số công trình nghiên cứu cho thấy, có sự truyền kháng thể chống tế bàotuyến giáp từ người mẹ mắc bệnh tuyến giáp (ví dụ viêm tuyến giáp), tuy nhiên sựtruyền bị động kháng thể chống tế bào tuyến giáp lại không làm tổn thương tuyếngiáp ở động vật [29]
Cũng có giả thuyết miễn dịch cho rằng có liên quan đến sự chuyển quanhững tế bào có khả năng miễn dịch từ mẹ sang bào thai Những tế bào đó có thểgây ra thương tổn tuyến giáp từ một phản ứng thải loại quá mẫn chậm Ở động vậtnhững thương tổn này đã xảy ra sau khi truyền thụ động tế bào lymphocyte từđộng vật mắc bệnh viêm tuyến giáp [21,29]
Matsuura, N, Yamda năm 1980 đã nghiên cứu 2 trẻ trong một gia đình bịSGT thoáng qua được sinh ra từ một bà mẹ bị SGT do viêm tuyến giáp Hashimoto.Kháng thể kháng receptor của TSH đã được chứng minh có trong huyết thanh của
mẹ và hai trẻ Kháng thể antimicrosome và antithyroglobuline ngưng kết hồng cầudương tính ở bà mẹ và hai đứa trẻ nhưng đã âm tính ở hai trẻ sau 6 đến 8 tháng Sựphát triển vận động, thể lực, tinh thần của trẻ bình thường vào lúc 2 đến 4 tuổi [21]
Các nhà nghiên cứu gợi ý một liên quan của loạn sản tuyến giáp với
HLA-AW các nhóm B18 Tuy nhiên nghiên cứu của Jacobsen trong 33 trường hợp SGT
đã chỉ ra không có sự tương quan giữa SGT và các nhóm HLA [29]
Năm 1980 đã có hai báo cáo mâu thuẫn nhau về type HLA ở bệnh nhânSGT Nghiên cứu ở Nhật cho thấy mối liên quan giữa SGTBS và HLA type
Trang 22AW24, nhưng nghiên cứu ở phía Bắc trung tâm Florida đã so sánh nhóm trẻ bịbệnh và nhóm chứng đã không thấy bằng chứng sự tăng tần suất mắc bệnh ở nhómHLA - kháng nguyên A, nhưng lại có gợi ý tần suất mắc cao hơn ở bệnh nhân cóHLA type B18 [19,21,29].
Theo La Franch (1997) sự phát sinh của loạn sản tuyến giáp còn chưa rõràng,một vài trường hợp là kết quả của đột biến những nhân tố sao chép PAX 8 vàTTF 2 (đột biến di truyền trội nhiễm sắc thể thường) Những đột biến mất chứcnăng gen receptor TSH đã được chứng minh nguyên nhân một vài dạng có tínhchất gia đình của một số bệnh nhân không có tuyến giáp [18,24]
Gluters (1999) đột biến gen receptor TSH di truyền lặn nhiễm sắc thể thường cũngđược báo cáo ở bệnh nhân SGTBS do loạn sản tuyến giáp Đột biến trội nhiễm sắcthể thường của gen PAX 8 được mô tả trên một số bệnh nhân với các dạng khácnhau của loạn sản tuyến giáp Đột biến trội nhiễm sắc thể thường của gen PAX 8được mô tả trên một số bệnh nhân với các dạng khác nhau của loạn sản tuyến giáp
có tính chất gia đình trong nghiên cứu của ông [22,28]
3.4 Người mẹ hoặc những người trong gia đình bị bệnh về tuyến giáp
Childs phân tích những yếu tố nguyên nhân gây bệnh ở 90 trẻ SGTBS thấyrằng sự lưu hành những bệnh tuy giáp trong dòng họ là một vấn đề lưu ý Có tỷ lệcao bệnh tuyến giáp trong gia đình những trẻ này khi so sánh với nhóm chứng[21,49]
Trang 233.6 Độc tố môi trường
Sự nổi lên của bệnh SGT ở Anh và Bắc Mỹ trong suốt giai đoạn phát triểncách mạng công nghiệp đã có những gợi ý liên quan giữa bệnh và môi trường côngnghiệp Độc tố môi nguyên nhân SGT ở trẻ em và người lớn Cobalt chlorid, paraaminosalicylic acid, resorcinol, phenylbutazone, lithium, carbonate, vàpolibrominated biphenyls đã có liên quan tới sự phát triển của SGTBS Những chấthoá học đó của môi trường là nhân tố độc với tuyến giáp [21,23,25,26,27,31]
Những người mẹ trong giai đoạn có thai có sử dụng thuốc kháng giáp trạngtổng hợp, dùng tia X, phóng xạ thì nguy cơ tổn thương tuyến giáp cho trẻ rất cao,
và những tổn thương đó là không hồi phục
Đã có vài trường hợp SGT ở những trẻ mà ngươì mẹ khi mang thai mắc cườnggiáp hoặc ung thư tuyến giáp Tổng liều uống I131 của người mẹ khoảng 10- 225 µi
và uống vào giữa tuần 12 và tháng thứ 5 ủa thời kỳ thai nghén đã gây tổn thươngtuyến giáp ở trẻ em và khi trẻ ra đời sẽ bị SGTBS vĩnh viễn [21,49]
4 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Vùng Đông Bắc Bộ: Gồm có 11 tỉnh là Quảng Ninh, Bắc Kạn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái,Lào Cai Vùng này có diện tích khoảng 63.627km2, trong đó ¾ diện tích là đồi núi.Tính đến năm 2008 tổng dân cư trong vùng là 8.527.700 người, mật độ dân cư thưathớt với khoảng 140 người/km2 Khu vực Đông Bắc có địa hình phức tạp, việc đilại và giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong vùng đặc biệt là vùng cao, vùng
xa gặp nhiều khó khăn Đây cũng là khu vực tập trung nhiều dân tộc khác nhau:Tày, Nùng, Dao, có khoảng trên 30 dân tộc trong vùng Phần lớn dân cư có trình
độ dân trí thấp và trong vùng có sự chênh lệch đáng kể giữa trình độ học vấn vàchuyên môn kỹ thuật giữa các tỉnh trong vùng Các tỉnh : Thái Nguyên, Phú Thọ,Bắc Giang, Quảng Ninh có trình độ kinh tế xã hội phát triển không thua kém so
Trang 24với các tỉnh đồng bằng sông Hồng Các tỉnh còn lại trong vùng kinh tế, xã hội kémphát triển hơn.
Vùng đồng bằng sông Hồng: gồm 10 tỉnh/ thành phố là Hải Phòng, Hà Nội,
Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam,Vĩnh Phúc Khu vực ĐBSH có diện tích khoảng 21061,5 km2 Tổng dân số trongvùng tính đến năm 2008 là 19.654.800 người, mật độ dân cư trong vùng thuộc mứccao nhất cả nước khoảng 933 người/km2 ĐBSH có trình độ dân trí cao hơn khuvực đông bắc và tây bắc Chỉ khoảng 4% người > 15 tuổi chưa được đến trường.Đây là vùng trung tâm giao lưu giữa các khu vực khác trong miền Bắc đồng thờicũng là đầu mối giao thông, giao lưu dịch vụ, thương mại, du lịch của các tỉnh phíaBắc So với các khu vực khác thì ĐBSH có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn chophát triển kinh tế
Bắc Trung Bộ: gồm 3 tỉnh là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Có diện tích
khoảng 33.659,3 km2 Tổng số dân là 8.150.800 người, mật độ dân cư khoảng 242người/km2
Chúng tôi chọn mỗi vùng 01 tỉnh đại diện để tiến hành điều tra nghiên cứu
Chọn 3 tỉnh Thái Nguyên, Hải Phòng, Thanh Hóa vì đây là 3 tỉnh đại diện chomỗi vùng và có cỡ mẫu nghiên cứu lớn để giảm thiểu sai số trong nghiên cứu
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
1.1 Thời gian nghiên cứu :
Từ tháng 6/2009 đến hết tháng 3/2010
1.2 Địa điểm nghiên cứu
3 tỉnh phía Bắc đại diện cho 3 vùng
- Vùng đồng bằng sông Hồng: thành phố Hải Phòng
- Vùng Đông Bắc Bộ: tỉnh Thái Nguyên
- Vùng Bắc Trung Bộ: tỉnh Thanh Hoá
2 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các trẻ được làm sàng lọc trong vòng 28 ngày đầu sau sinh
2.1 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Tất cả các trẻ sơ sinh từ 48 giờ tuổi trở lên được lấy mẫu ở 3 tỉnh TháiNguyên, Thanh Hoá và Hải Phòng và mẫu được chuyển qua bưu điện và làm xétnghiệm sàng lọc tại trung tâm chẩn đoán trước sinh BVPSTƯ
− Các trường hợp đặc biệt
Nếu trẻ được truyền máu lấy máu trước truyền vì sau khi truyền kết quảthu thập sẽ không chính xác Nếu trẻ chưa được sàng lọc trước truyền, mẫu máuphải được thu thập 1 tháng sau khi truyền máu để đảm bảo mẫu máu thu thập làchính máu của trẻ
Trang 27Trong trường hợp hợp tiên lượng trẻ có nguy cơ tử vong nên làm sàng lọcbừng phương pháp lấy máu tĩnh mạch hay lấy máu gót chân khi tim trẻ còn đập Sàng lọc nên làm cả ở trẻ đẻ non và phải thận trọng trong giải thích kếtquả Trẻ non tháng với kết quả sàng lọc không bình thường cần phải sàng lọcnhắc lại lúc 1 tháng tuổi hoặc trước khi trẻ ra viện hoặc khi trẻ đến khám lại lầnđầu
Thẻ lấy mẫu cần phải gắn nhãn chính xác hay đánh dấu hoặc ghi kí hiệunếu mẫu đề thai chết lưu hoặc chết trong giai đoạn sơ sinh cần được lấy trướckhi trẻ chết
2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Mẫu thẻ có thể bị phòng xét nghiệm loại vì 1 số lý do phổ biến như:
- Bẩn: mẫu ở thẻ trộn lẫn với 1 số chất lạ như dầu, mực hoặc hóachất khác
- Mẫu với quầng huyết thanh: xảy ra do bóp quá mạnh gót chântrong quá trình lấy máu
- Mẫu không khô: mẫu máu phải để khô tự nhiên trong vòng 4 giờ
do đó những mẫu không đảm bảo khô sẽ xuất hiện xỉn và sám màu
- Quá bão hòa: xảy ra khi máu thấm quá vòng tròn trên thẻ
Không có mẫu: các thẻ được chuyển tới phòng xét nghiệm màkhông chứa mẫu máu nào có thể do bỏ sót hoặc đặt nhầm vào các thẻ làm rồi
3 Cỡ mẫu nghiên cứu
Đây là nghiên cứu theo mô tả cắt ngang nên công thức tính cỡ mẫu là:
Trang 28n1, n2, n3 là cỡ mẫu nghiên cứu của 3 tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hoá, HảiPhòng.
Tuy nhiên do số trẻ làm sàng lọc chỉ khoảng 10% số trẻ sơ sinh ở các tỉnh vàmẫu không đạt yêu cầu cũng không làm được xét nghiệm nên cỡ mẫu được lấy làtoàn bộ số trẻ được sàng lọc và có mẫu đạt yêu cầu trong thời gian nghiên cứu
4 Biến số nghiên cứu
Tỷ lệ % trẻđược sànglọc SGBS
Số trẻ đượclấy máu gótchân làm xétnghiệm
Xét nghiệmtheophươngphápđịnhlượngmáulấyởgótchântrẻ sơsinh
Tỷ lệ % trẻ bịSGBS
Số trẻ xétnghiệm cókết quả:
> 20µIU/mlMối liên quan
giữa các yếu tố
liên quan và tình
trạng SGBS
Ảnh hưởngcủa giới
Tỷ lệ % trẻnam bịSGTBS
Số trẻ nam cóTSH >
20µUI/L
Tỷ lệ % trẻ
nữ bịSGTBS
Số trẻ nữ cóTSH>
20µUI/L
Trang 29Tuổi thai Tỷ lệ % trẻ
đủ tháng bịSGTBS
Số trẻ đủtháng bịSGTBS
Hồicứutừthẻthuthậpmẫu
Tỷ lệ % trẻnon tháng bịSGTBS
Số trẻ nontháng bịSGTBS
Tỷ lệ % trẻgià tháng bịSGTBS
Số trẻ giàtháng bịSGTBSDân tộc Tỷ lệ % trẻ
Số trẻMường bịSGTBS
Kiểu đẻ Tỷ lệ % trẻ
đẻ thường
Số trẻ đẻthường bịSGTBS
Tỷ lệ % trẻ
đẻ mổ
Số trẻ mổ đẻ
bị SGTBS
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập mẫu sàng lọc bệnh suy giáp trạng bẩm sinh
Thời điểm thu thập mẫu
Thời điểm thu thập mẫu thường dựa vào thời điểm bà mẹ khi ra viện
Trang 30Thời điểm thu thập mẫu thông thường là 24 giờ sau sinh vì ở thời điểm nàychuyển hoá của trẻ đã được thiết lập và cân bằng với môi trường mới [16] Đặcbiệt đối với sàng lọc suy giáp bẩm sinh, việc này sẽ làm tăng các trường hợp (+)giả do TSH tăng cao sinh lý trong 24 giờ đầu Vì vậy thời điểm tốt nhất cho lấymẫu là từ 3-7 ngày tuổi (tối thiểu sau 48 giờ), không có nguyên tắc cứng nhắccho thời gian tối đa thu thập mẫu, nhưng mẫu thu thập quá muộn sẽ làm hỏngmục đích của chương trình sàng lọc.
Thẻ thu thập mẫu
Thẻ thu thập mẫu là loại giấy thấm để thu thập mẫu máu và phần điền cácthông tin về hành chính và chuyên môn cơ bản để quản lý và để gọi lại khi mẫunghi ngờ hoặc không đảm bảo chất lượng chuyên môn [12]
Điền thẻ cho kết quả tốt nhất nên dùng một bút mực bi màu xanh hoặc mựcmàu đen Người điền mẫu phải điền đầy đủ các mục Cách viết dễ đọc và điềncác dữ kiện phải chính xác
Thông tin cơ bản bao gồm: họ tên bé và ngày tháng năm sinh, chiều cao, cânnặng, dân tộc, họ tên mẹ, họ tên bố và địa chỉ, điện thoại nếu có Chú ý phải ghichính xác thời gian lấy mẫu và vị trí lấy mẫu Ngoài ra cần ghi rõ tiền sử sảnkhoa, cách đẻ, trẻ sinh 1 hay sinh đôi, sinh ba, bú mẹ hay bú bình, có truyềnmáu hay thay máu không, số lượng là bao nhiêu? Cần mô tả tình trạng của trẻlúc lấy mẫu, có dùng kháng sinh không? Nếu có thì liều lượng bao nhiêu?
Khi điền xong các thông tin vào mẫu, người thu thập tránh chạm tay vàocác vòng tròn lấy máu hoặc để mẫu tiếp xúc với các chất như cồn, dầu
5.2 Kỹ thuật lấy máu
Phương pháp lấy máu gót chân là phương pháp thuận tiện nhất đối với trẻ sơ sinhtrong chương trình sàng lọc sơ sinh Phương pháp này dễ ứng dụng và nguy cơbiến chứng thấp Phương pháp được đào tạo và huấn luyện cho tất cả các cán bộ y
Trang 31tế của các cơ sở y tế Các cán bộ có thể lấy mẫu máu tại gia đình, cộng đồng nếutrẻ đẻ tại nhà hoặc không được làm sàng lọc tại các cơ sở y tế.
Bảo quản và vận chuyển mẫu
Sau khi lấy mẫu máu, thẻ cần được để khô ngoài không khí ít nhất 4 giờ ở bềmặt phẳng và không thấm nước Giá đỡ đặc biệt đã có sẵn cho mục đích này.Thẻ mẫu không cần cất trong tủ lạnh, chỉ cần giữ ở ngăn kéo hoặc ngăn tủ, đặttrong túi ni lông, không đuợc tiếp xúc với lò sưởi hoặc tiếp xúc trực tiếp với ánhsáng mặt trờì Các thẻ cần tránh để gần với bất kỳ chất nào có mùi nhưsơn,vecni,các loại bình phun hoặc thuốc xịt côn trùng Khi cầm các thẻ máukhông chạm vào các cột máu hoặc làm bẩn chúng
Thẻ điền xong phải gửi đến phòng xét nghiệm 24 giờ sau khi thu thập.Không lưu giữ mẫu máu đợi nhiều mới gửi vì điều này có thể làm chậm kếtquả.Khi gửi các mẫu, các thẻ được gói trong giấy sạch và đặt so le sao cho cáccột máu trong các mẫu liền kề không tiếp xúc với nhau Các mẫu đặt trongphong bì chống ẩm và chuyển đến phòng xét nghiệm Có thể vận chuyển mẫubằng nhiều đường khác nhau:
Theo đường bưu điện: ngoài phong bì ghi “chương trình sàng lọc” để nhânviên bưu điện hiểu và vận chuyển ưu tiên ngay đến trung tâm xét nghiệm
Vận chuyển trực tiếp bằng tay: hàng ngày có nhân viên của chương trình đi
xe máy đến các nhà hộ sinh hoặc khoa sản trong phạm vi nhất định củatỉnh,khu vực (Quận,huyện…) lấy mẫu mang về trung tâm xét nghiệm
Để thích ứng với điều kiện chuyển mẫu trên, trung tâm xét nghiệm phải cóngười thường trục 24/24 giờ để nhận máu
5.3 Phương pháp kỹ thuật sử dụng để xét nghiệm bệnh suy giáp trạng bẩm sinh
Đo nồng độ TSH bằng kỹ thuật ELISA sandwich [3].
Trang 32Đây là kỹ thuật đáp ứng được mục tiêu của chương trình sàng lọc, nó manglại hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo được chất lượng xét nghiệm trên quy môlớn Vì vậy phương pháp sàng lọc sơ sinh sử dụng kỹ thuật ELISA đã được lựachọn vì nó đã đáp ứng được mọi yêu cầu cơ bản đề ra.
Cơ sở miễn dịch học :
Dựa trên phản ứng miễn dịch: phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể
đặc hiệu tương ứng.Trong các phuơng pháp miễn dịch đánh dấu,các chất địnhlượng (hocmon,thuốc…) được coi là các kháng nguyên, kháng thể là các chếphẩm được điều chế từ huyết thanh của động vật thí nghiệm hoặc bằng kỹ thuậtcủa công nghệ sinh học hiện đại
Các chất ghi dấu: trong các phương pháp miễn dịch đánh dấu, thành phần
được ghi dấu có thể là kháng nguyên hoặc kháng thể Sau khi được ghi dấu cácthành phần này không thay đổi về cấu trúc phân tử và hoạt tính sinh học (tínhkháng nguyên,tính kháng thể) Chất ghi dấu có thể trực tiếp gây ra tín hiệu đonhư trong phương pháp miễn dịch enzym ELISA [6]
Kỹ thuật ELISA trong sàng lọc suy giáp bẩm sinh
Nguyên lý: test định lượng TSH Bio-Rad dựa trên nguyên tắc
enzym-immunoassay sandwich EIA
Mẫu xét nghiệm được ủ dung dịch chứa kháng thể đơn dòng kháng TSHđược đánh dấu bằng peroxidase trong khay vi thể được tráng kháng thể đơndòng kháng TSH khác trên bề mặt Sau khi ủ khay được rửa sạch các kháng thểkháng TSH được đánh dấu còn thừa TSH trong mẫu được xác định bằng sảnphẩm màu của phản ứng giữa chất cộng hợp với chất sinh màu Nồng độ TSHtrong mẫu tương ứng với màu được đo tại bước sóng 450nm Đơn vị tính củaTSH là µIU/ml máu toàn phần