1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Buổi thảo luận dân sự thứ ba TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

17 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 258,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản và nếu có điề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Buổi thảo luận dân sự thứ ba

TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN

GIẢNG VIÊN: LÊ THANH HÀ

Trang 2

Mục lục:

Bài tập 1: Khái niệm tài sản

1.1/ Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh

hoạ về giấy tờ có giá

1.2/ Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39

có cho câu trả lời không?

1.3/ Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định sô 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?

1.4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ

khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài)

1.5/ Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy

chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

1.6/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến

“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”

1.7/ Bitcoin là gì?

1.8/ Theo Toà án, Bitcoin có là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết

1.9/ Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết

1.10/ Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Toà án đối với Bitcoin trong mối

quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam

1.11/ Quyền tài sản là gì?

1.12/ Có quy định nào cho phép khẳng định tiền thuê, quyền mua tài sản là quyền tài sản không?

1.13/ Đoạn nào của quyết định số 05 cho thấy Toà án nhân dân tối cao theo hướng quyền thuê, quyền mua là tài sản?

1.14/ Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao trong Quyết định sô 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với khái niệm tài sản)?

Bài tập 2: Căn cứ xác lập quyền sở hữu

2.1/

Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị

về khẳng định này của Tòa án?

Trang 3

2 / Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

2

3 / Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

2

4 / Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chị Vân

đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án?

2

5 / Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảo không còn

là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị về khẳng

định này của Tòa án?

2

6 / Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất

có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vì sao?

Bài tập 3: Chuyển rủi ro đối với tài sản

3.1/

Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sở pháp

lý khi trả lời

3

2 / Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

3

3 / Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

Tài liệu tham khảo:

Văn bản pháp luật

1 Bộ luật dân sự 1995,

2 Bộ luật dân sự 2005,

3 Bộ luật dân sự 2015,

4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010,

5 Nghị định 96/2014/NĐ-CP,

6 Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005,

7 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh

nghiệp

8 Quyết định số: 06/2017/QĐ-PT về” V/v giải quyết kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa

9 Bản án số 39/2018/DSST ngày 28 tháng 8 năm 2018 về “V/v đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng” của Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long,

10.Bản án số: 22/2017/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2017 về “V/v khiếu kiện Quyết định truy thu thuế” của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre

Bài viết đăng trên báo tạp chí

1 Nguyễn Minh Oanh, “Các loại tài sản trong Luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí

Luật học số 1/2009, tr.14-15

2 Đỗ Thành Công, “Vai trò của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vấn đề

Trang 4

kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, in Đỗ Văn Đại (chủ biên), tr 3-6.

Trang 5

Bài tập 1: Khái niệm tài sản

*Tóm tắt Quyết định số 06/2017/QĐ-PT ngày 11/7/2017 về “Giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án” của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Nguyên đơn: ông Phan Hai, sinh năm 1939

Bị đơn: ông Phan Quốc Thái, sinh năm 1977

Tòa án ra quyết định:

Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án giữa ông Phan Hai và ông Phan Quốc Thái Ông Phan Hai yêu cầu công Phan Quốc Thái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành 0926009, số vào Sổ 01868QSDĐ/DS-DK cấp ngày 23/7/1999 của Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh mang tên Lương Thị Xàm Tòa sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì cho rằng “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản, không thể xem là giấy tờ có giá nên khơng thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án Tòa phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Hai, tiếp tục đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn kiện cho ông Hai

*Tóm tắt Bản án số 39/2018/DSST ngày 28/8/2018 về “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng” của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn: ông Võ Văn B, bà Bùi Thị H, sinh năm 1954

Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thuỷ T, sinh năm 1979

Ông Võ Văn B bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên lên Ủy ban nhân huyện Long Hồ để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng trong quá trình làm lại bị bà Nguyễn Thị Thuỷ T tranh chấp vì bà đưa ra được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông B báo mất Ông B yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 090902 thửa đất 1595 diện tích 489,1mo Bà T yêu cầu ông trả 120.000.000 đồng thì mới trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên Tuy nhiên sau đó bà T rút lại yêu cầu đòi nợ nhưng vẫn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của ông B và buộc bà T phải giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông B và bà H

*Tóm tắt Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/9/2017 về “Việc khiếu kiện Quyết định truy thu thuế” của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre

Nguyên đơn: ông Nguyễn Việt Cường, sinh nằm 1984

Bị đơn: Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre, Chi trưởng Cục thuế tỉnh

Bến Tre

Trang 6

Ông Nguyễn Việt Cường kiện Chi cục trưởng chi cục thuế Bến Tre vì đã truy thu thuế về việc ông mua bán tiền điện tử Thực tế, hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào xác định tiền kỹ thuật số, tiền ảo là hàng hóa và đồng thời cũng chưa

có quy định nào về việc mua bán tiền ảo là kinh doanh hàng hóa được pháp luật cho phép và phải chịu thuế Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cường, hủy quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/5/2016 của Chi cục trưởng Chi cục thuế Bến Tre đã áp dụng với ông Cường

*Tóm tắt Quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10-4-2018 về “Vụ án Tranh chấp chia tài sản chung về việc mua hóa giá nhà” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Loan

Nguyên nhân vụ án:

Đầu năm 1976, cụ T được Quân đội cấp căn nhà số 63 đường B do là người có công với cách mạng Ngày 27/8/1995, cụ T chết, không để lại di chúc, có lập giấy ủy quyền cho bà L là con riêng của cụ T4 trọn quyền giải quyết những việc có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với căn nhà trên Bà L đã mua hóa giá căn nhà trên sau khi có sự đồng ý của toàn bộ các con cụ T, tuy nhiên sau đó bà

L đã chiếm đoạt căn nhà và cho công ty THNN NV thuê mà không bàn bạc với con

cụ T là bà H và ông T1 Ngày 29/8/2008, Bà H khởi kiện yêu cầu chia ngôi nhà số

63 đường B cho các thừa kế của cụ T Ngày 17/11/2014, bà H có đơn yêu cầu chia tài sản chung là ngôi nhà số 63 đường B trên biên bản thỏa thuận của Thanh tra Bộ Quốc phòng Tòa án nhân dân tối cao đã hủy toàn bộ bản án phúc thẩm số 125/2015/DS-PT và sơ thẩm số 186/2014/DS-PT, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân TPHCM xét xử sơ thẩm lại

1.1/ Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh hoạ về giấy tờ có giá.

Giấy tờ có giá được quy định là tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 105 BLDS

2015 như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”

Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Khoản 1 Điều 3

Thông tư 04/2016/TT-NHNN quy định: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận

nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.”

Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư số 46/VBHN-NHNN thì giấy tờ có giá gồm: Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, Trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc, lãi khi đến hạn, các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ

Các giấy tờ khác chỉ được coi là “giấy tờ có giá” nếu có đủ các điều kiện sau: Trị giá được thành tiền, được phép giao dịch, được pháp luật quy định rõ nó là “giấy tờ

có giá”

Trang 7

Ví dụ có giấy tờ có giá: Tín phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,…

1.2/ Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án số 39 có cho câu trả lời không?

Các loại giấy tờ không thuộc các loại giấy tờ có giá được quy định trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, không phải là bằng chứng để chứng minh nghĩa vụ trả nợ thì không được coi là giấy tờ có giá Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chỉ được coi là các loại giấy tờ chứng minh cho quyền sử dụng/sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản đấy nên không được coi là giấy tờ có giá trị

Trong quyết định phúc thẩm số 06/2017/QĐ-PT” có đoạn: “Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất,

là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá” Và trong Bản án số 39/2018/DSST có đoạn: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng

là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng cho đất, cho thấy nội dung này hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự”

Như vậy, cả hai văn bản trên đều xác nhận rằng “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” chỉ là giấy tờ pháp lý ghi nhận quyền của chủ sở hữu tài sản, chủ sở hữu quyền sử dụng Tuy nhiên Quyết định số 06 thì ghi rất rõ là

“không thể xem là loại giấy tờ có giá” còn Bản án số 39 tuy ghi nhận chỉ “là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất” nhưng lại không trả lời câu hỏi “đây có phải là giấy tờ có giá hay không”

1.3/ Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định sô 06 và Bản án

số 39 có cho câu trả lời không? Vì sao?

Trong thực tiễn xét xử, cụ thể là ở quyết định số 06 và bản án số 39 cho thấy rằng:

 Quyết định số 06 cho rằng “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá” Ta thấy rằng trong quyết định này ghi nhận rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là tài sản

 Còn bản án số 39, tòa chỉ lập luận rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

“hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với đất nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự” chứ không xác định rằng giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất có phải là tài sản hay không

Như vậy, bản án số 39 không nêu rõ rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản hay không, chỉ có quyết định số 06 cho ra câu

Trang 8

trả lời rõ ràng là “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà không phải là tài sản.”

1.4/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài)

Nhìn từ khái niệm tài sản, hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến

“giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” theo tôi là chưa thuyết phục vì:

 Tòa án lập luận rằng :”Theo điều 105 BLDS 2015 quy định về tài sản như

sau: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Như vậy, giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền

sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá” Từ việc đưa ra các lập luận theo theo điều 105 và

115 BLDS 2015 để cho rằng đây không phải là loại giấy tờ có giá, cũng như không phải là quyền tài sản khác thì tòa đã khẳng định ngay đây không phải

là tài sản

 Trong khi đó, tại điều 105 mà tòa đã trích dẫn, tòa án gián tiếp phủ nhận các dạng tồn tại khác của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như dạng vật), điều này chưa phù hợp với quy định của bộ luật hiện hành vì theo khoản 1

điều 105, BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài

sản.” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, tuy

nhiên hoàn toàn có thể xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vật bởi nó tồn tại dưới hình dạng vật chất nhất định, có thể được nắm, giữ và có giá trị

sử dụng

Như vậy, kết luận này đã đồng nhất hai khái niệm “tài sản” và “giấy tờ có giá”, dẫn tới nhiều hệ quả không giải thích được về mặt thực tế Cụ thể theo điều 115 BLDS

2015 quy định rằng “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền

tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.” Việc xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản đã

tước bỏ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất đối với loại giấy tờ này, từ đó dẫn tới việc một khi có tranh chấp, tòa án sẽ không có cơ sở để thừa nhận việc bảo hộ quyền chiếm hữu và sử dụng hợp pháp đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây ra những hậu quả tranh chấp không đáng có sau này.1

1.5/ Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?

Dựa vào khoản 1 điều 105, BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và

quyền tài sản” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy không phải tiền hoặc giấy

tờ có giá tuy nhiên nó lại được thể hiện dưới dạng vật chất, có hình dạng cụ thể (là

quyền sử dụng đất”, in Đỗ Văn Đại (chủ biên), Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao dịch về quyền sử dụng đất, Nxb Lao động 2012, tr.96, 97

Trang 9

tờ giấy), nằm trong khả năng chiếm hữu của con người (có thể thực hiện việc quản lý) Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được coi là tài sản, mà chỉ là văn bằng để nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của chủ sở hữu đối với đất, nhà ở đó

Nếu áp dụng BLDS năm 2015 thì chưa thể xác nhận rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có phải là tài sản hay không mà còn cần căn

cứ vào thực tiễn đời sống với từng trường hợp khác nhau để đưa ra những lập luận, phán quyết có tính logic, phù hợp với bản chất từng sự việc và đúng đắn trong xét

xử

1.6/ Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận sở hữu nhà là một trong những căn cứ cho phép xác định quyền bảo hộ của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và nhà ở Vì vậy nó là một loại giấy

tờ có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện thẩm quyền của nhà nước đối với người

sử dụng, sở hữu đất hợp pháp

Trong bản án số 39, tuy Bộ luật tố tụng dân sự không quy định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp “Đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng” Tuy nhiên Tòa nhận định rằng “về nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lí do chưa có điều luật áp dụng.…Căn cứ Khoản 2 Điều 4, Khoản 14 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu đòi trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B và bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” Điều này cho thấy sự linh hoạt của Tòa án trong hướng giải quyết vụ việc, không gò bó trong bất

kì 1 điều luật nào, đồng thời bảo vệ được 1 phần quyền lợi của chủ sở hữu đất, nhà ở

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà ở là văn bằng xác nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân huyện Long Hồ cấp ngày 29/02/2008 cho hộ ông B và bà H Vì vậy việc bà T chiếm giữ các loại giấy tờ nêu trên là trái pháp luật theo trong bản án, căn cứ theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai

2013: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác

gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”.

Như vậy, hướng giải quyết của Toà án yêu cầu bà T trả lại giấy tờ cho ông B là hợp

lý, phù hợp với tình cảnh và tính chất vụ việc, đồng thời đã bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp cho chủ sở hữu đất là ông B

1.7/ Bitcoin là gì?

Bitcoin (ký hiệu: BTC, XBT) là một loại tiền mã hóa, được phát minh bởi Satoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2009 Bitcoin có thể được

Trang 10

trao đổi trực tiếp bằng thiết bị kết nối Internet mà không cần thông qua một tổ chức tài chính trung gian nào

Bitcoin là loại tiền mã hoá điển hình nhất, ra đời đầu tiên, và được sử dụng rộng rãi nhất trong thương mại điện tử Đến tháng 2 năm 2021, lượng tiền cơ sở của Bitcoin được định giá hơn 1.2 nghìn tỷ đô la Mỹ - là loại tiền mã hóa có giá trị thị trường lớn nhất Những biến động lớn trong giá trị của mỗi bitcoin đã tạo nên những tranh cãi về tính phù hợp kinh tế của Bitcoin như là một loại tiền tệ 2

1.8/ Theo Toà án, Bitcoin có là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp Theo Điều 4, Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016) và Văn bản hợp nhất 10/VBHN-NHNN 2019 đã có quy định rất rõ các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, cụ thể như sau:

"Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán, bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”

Đồng thời, tại các văn bản trên cũng cấm sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp tại Việt Nam Xét về khía cạnh này, Bitcoin là một phương tiện thanh toán còn quá mới ở Việt Nam, chưa được pháp luật Việt Nam cho phép thực hiện các hoạt động thanh toán

1.9/ Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.

Mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về cách quản lý tiền ảo Tình trạng pháp

lý của bitcoin giữa các quốc gia trong nhiều trường hợp được thay đổi liên tục và tính hợp pháp của bitcoin dưới dạng tiền tệ hay hàng hóa đều rất đa dạng với các hàm ý pháp lý khác nhau Một số quốc gia đã và đang tiến tới việc thiết lập các quy định pháp luật nhằm quản lý các đồng tiền kỹ thuật số như:

Nhật Bản là đất nước đi tiên phong trong việc chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin, cho phép người dân thanh toán bằng Bitcoin một cách hợp pháp Từ năm 2016, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận tiền kỹ thuật số là một công cụ tài chính và cho phép thành lập các sàn giao dịch tiền điện tử, đồng thời, xây dựng khung pháp

lý về tiền kỹ thuật số 3

Năm 2013, Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại bitcoin như là một loại tiền ảo phi tập trung có thể chuyển đổi Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) đã phân loại bitcoin là một loại hàng hóa vào tháng 9/2015 và cho phép các chứng khoán

2 https://vi.wikipedia.org/wiki/Bitcoin

3 https://phaply.net.vn/khung-phap-ly-ve-tien-ao-cua-mot-so-nuoc-va-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam-a252594.html

Ngày đăng: 14/04/2022, 09:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w