31 BÀI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc 2019, Tập 10, Số 2, trang 31 37 Đặt vấn đề Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, có tốc độ gia tăng nhanh, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chấ[.]
Trang 1BÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc2019, Tập 10, Số 2, trang 31-37
Đặt vấn đề
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh mạn tính, có
tốc độ gia tăng nhanh, không chỉ ảnh hưởng
đến sức khỏe thể chất của bệnh nhân mà còn
làm giảm năng suất lao động, tác động tiêu cực
tới đời sống tinh thần, giáo dục và xã hội Trong
10 năm, từ năm 2002 đến 2012, số lượng người
Việt Nam được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ đã
tăng đến 211 %, trong đó có 90 % là bệnh nhân
ĐTĐ típ 2 Theo công bố năm 2017 của Liên
đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), nước ta có
tới 3,5 triệu người mắc đái tháo đường, chiếm
tỷ lệ 5,6 % dân số trưởng thành Trong đó, số ca đái tháo đường không được chuẩn đoán lên đến hơn 1,8 triệu người [2]
Ngày nay, với sự chuyển đổi từ mô hình nghiên cứu y sinh học sang mô hình tâm lý -sinh học - xã hội, chúng ta càng có được nhận thức về sức khỏe sâu sắc hơn Bên cạnh các thông số lâm sàng, cận lâm sàng, các phép đo tuổi thọ, nghiên cứu sức khỏe còn cần đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Đối với bệnh nhân đái tháo đường típ 2, thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng cuộc sống
Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
đái tháo đường típ 2 trên địa bàn tỉnh Bắc ninh
Kiều Thị Tuyết Mai*, Nguyễn Phương Chi, Phan Thị Thúy, Nguyễn Thanh Bình
TrườngĐạihọcDượcHàNội
*Email:kieumai210@gmail.com (Ngàygửiđăng:26/4/2019-Ngàyduyệtđăng:24/7/2019)
sUMMaRY
Across-sectionalsurveystudywasconductedon821patientswithtype2diabetesat5 hospitals in Bac Ninh province from October 1st to December 31st- 2017 dealing with (1) measuring the heath-related quality of life of diabetes patients using EQ-5D-3L, and (2) examiningtherelationshipbetweenclinicalconditionsandhealthstatus.Informationonsocio-demographics and medical conditions including the occurence of diabetes-related complicationswereobtainedfromthepatients’medicalrecords,andinstead,dataonquality oflifewerecollectedbyinterviewingwithareadystructuredquestionnaire.Patientsevaluated themselvestheirhealthstatusinfivedimensions(5D)andvisualanalogscale(VAS).TheEQ5D scorewascalculatedbasedonthe3LresponsesbytheThailandversionofthevalueset.Factors significantlyassociatedwithEQ-5D-3Lscoreswereexaminedbymultivariatelinearregression analysis. The mean scores assessed by EQ5D and EQVAS were 0.87 (SD=0.20) and 69.49 (SD=14.8),respetively.Ageadvancement,insultinuse,diabeticduration,educationleveland pathiccomplicationswereassociatedwithlowerinstrument’sscores.
Từkhóa:Đáitháođường,chấtlượngcuộcsống,EQ5D,BắcNinh.
Trang 232
(CLCS) với đối tượng và công cụ nghiên cứu rất
đa dạng Trong đó, EQ-5D là bộ công cụ được
đánh giá hữu ích và thuận tiện trong sử dụng
Mới đây, nhóm nghiên cứu tại Bệnh viện Lão
khoa Trung ương đã công bố nghiên cứu về
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo
đường sử dụng bộ công cụ EQ-5D-3L và chỉ ra
một số yếu tố có liên quan như tuổi tác, giới
tính, điều kiện kinh tế hay các bệnh đồng mắc
của bệnh nhân [4] Tuy nhiên, với đặc thù là
bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối trong hệ
thống chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại
Việt Nam, các bệnh nhân trong nghiên cứu trên
sẽ có tình trạng sức khỏe phức tạp hơn so với
đa số bệnh nhân tại các tuyến cơ sở Ngoài ra,
mức độ ảnh hưởng của các nhóm biến chứng
cụ thể vẫn chưa được phân tích rõ Chính vì thế,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu này tại một số
cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh với mục tiêu: đánh giá chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường
típ 2 bằng bộ công cụ EQ-5D-3L và xác định một
số yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đốitượngnghiêncứu
Bệnh nhân được lựa chọn theo phương
pháp chọn mẫu thuận tiện dựa trên các tiêu
chuẩn: (1) được chẩn đoán mắc đái tháo đường
típ 2, (2) khám chữa bệnh tại một trong các cơ
sở nghiên cứu gồm bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc
Ninh, trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh,
bệnh viên đa khoa huyện Tiên Du, bệnh viện đa
khoa thị xã Từ Sơn và bệnh viện đa khoa huyện
Lương Tài, (3) trong khoảng thời gian từ
1/10/2017 - 31/12/2017, (4) bệnh nhân có bảo
hiểm y tế, (5) và đồng ý tham gia phỏng vấn
Nghiên cứu tiến hành loại trừ: (1) bệnh nhân
dưới 18 tuổi, (2) bệnh nhân đã từng trả lời
phỏng vấn
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, 821
bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
Phươngphápnghiêncứu: Mô tả cắt ngang.
Phươngphápthuthậpsốliệu
Thu thập dữ liệu đánh giá chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân thông qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi EQ-5D-3L và thang trực quan EQ-VAS
QuyđổiđiểmđánhgiácủabộcôngcụEQ-5D-3L
Bộ công cụ EQ-5D- 3L gồm 5 câu hỏi đánh giá giá trị CLCS và 3 mức trả lời cho mỗi trạng thái sức khỏe Một trạng thái sức khỏe có thể chuyển đổi thành mức thỏa dụng tương ứng với giá trị dao động từ -0,594 đến 1 1 biểu thị cho trạng thái sức khỏe hoàn hảo, 0 biểu thị cho cái chết Hiện nay có 27 bộ giá trị quy đổi cho thang điểm EQ5D: Tây Ban Nha, Thụy Điển, Anh, Đức, châu Âu, Nhật Bản… [6] Nhóm nghiên cứu lựa chọn quy đổi giá trị CLCS theo Thái Lan, quốc gia thuộc khu vực châu Á, có điều kiện địa lý khá tương đồng với Việt Nam và bộ quy đổi theo thang điểm của Thái Lan
Giá trị thỏa dụng được tính theo công thức:
H = 1 - 0,202 - 0,121*mo – 0,121*sc – 0,059*ua – 0,072*pd – 0,032*ad – 0,190 *m2 – 0,065*p2 – 0,046*a2 – 0,139*N3
Với 0,202 là hằng số (Lấy 0,202 khi bất kỳ giá trị nào trong 3 câu hỏi được đánh điểm khác 1);
mo là tính vận động, mo=1 khi điểm đánh giá CLCS là 2 điểm, mo = 2 khi điểm đánh giá CLCS
là 3 điểm sc là khả năng tự chăm sóc, ua là hoạt động thường ngày, pd là mức độ đau đớn, ad là
sự lo lắng buồn chán Sc, ua,pd, ad tính điểm tương tự mo; m2=1 khi điểm đánh giá CLCS ở khía cạnh vận động là 3 điểm, p2 và a2 đánh giá tương tự với p2 là mức độ đau đớn, a2 là sự lo lắng N3=1 khi xuất hiện bất kỳ một khía cạnh được đánh giá 3 điểm, còn lại bằng 0
Nộidungnghiêncứu:
- Phỏng vấn bệnh nhân nhu thập các thông tin hành chính: Tên, tuổi, giới, trình độ học vấn, nơi cư trú, thu nhập trung bình, nghề nghiệp, thời gian mắc bệnh
- Phỏng vấn bệnh nhân về chất lượng cuộc sống: EQVAS và 5 câu hỏi EQ-5D-3L
Nghiên cứu viên hồi cứu bệnh án để thu thập các thông tin về tình trạng sức khỏe và bệnh tật: Chiều cao, cân nặng, BMI, biến chứng, bệnh mắc kèm, thuốc sử dụng
Trang 3Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc2019, Tập 10, Số 2, trang 31-37
Phântíchsốliệu:
Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS
20.0 Tất cả các biến phân loại được thống kê mô
tả qua tỉ lệ phần trăm Các biến định lượng được
tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Thống kê
phân tích sử dụng kiểm định T-test, Anova test,
Mann-Whitney và Kruskal-Wallis so sánh giá trị
trung bình giữa các nhóm Giá trị p<0,05 cho
thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử
dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất
lượng cuộc sống Phương pháp Stepwise được
sử dụng để đưa từng biến vào cho tới khi có được mô hình tốt nhất Các biến được chọn phải
có p của hệ số nhỏ hơn hoặc bằng 0,05
Xác định mức độ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của các loại biến chứng bằng mô hình so sánh điểm xu hướng (Propensity score matching method) Mô hình probit được sử dụng để ước lượng điểm CLCS và từ đó tính toán ra điểm xu hướng; sau đó sẽ xem xét và loại
bỏ các quan sát có điểm xu hướng quá cao hoặc
1
Giới
Nhóm tuổi
Thời gian mắc bệnh (năm)
ĐH trở lên 106 12,9
HbA1c
Trình độ văn
hóa
BMI
Nghề nghiệp
Bệnh mắc kèm
< 1 triệu 108 13,1 Biến chứng Không 621 75,7
Thu nhập
hàng tháng
(đồng)
Phác đồ điều trị
Insulin + thuốc 95 11,6
Đặc điểm
động Tự chăm sóc ngày đớn Tâm lý
Mức 1
Mức 2
Mức 3
Bảng1.Đặcđiểmchungcủamẫunghiêncứu
Trang 4quá thấp Bước cuối cùng là hình thành mẫu so
khớp điểm xu hướng để tính toán tác động của
biến chứng
Kết quả nghiên cứu
Đặcđiểmcủamẫunghiêncứu
Đặc điểm của 821 bệnh nhân thuộc mẫu
nghiên cứu được mô tả tại bảng 1
Bệnh nhân có 52,4 % là nam giới, độ tuổi chủ
yếu là từ 61 đến 70 tuổi chiếm 35,4 % Phần lớn
bệnh nhân có trình độ văn hóa dưới THPT và
THPT (84,8 %) Nghề nghiệp chủ yếu là nông
dân (43,8 %) và người đã về hưu (21,8 %) Vì vậy,
nhìn chung thu nhập của họ tương đối thấp,
trên 60 % thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng
Thời gian mắc bệnh của 44,9 % bệnh nhân là từ
1 đến 5 năm Bệnh mắc kèm thường gặp là tăng
huyết áp (48,6 %) và rối loạn lipid máu (23,9 %)
59,1 % bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu có chỉ số HbA1c dưới 7 %, đồng thời, 45,1 % bệnh nhân ở ngưỡng thừa cân với chỉ số BMI ≥ 23 Tỉ
lệ bệnh nhân có biến chứng là 24,3 %
Đánhgiáchấtlượngcuộcsốngcủabệnh nhân
Trong số 821 bệnh nhân tham gia trả lời phỏng vấn, có 770 người trả lời đầy đủ 5 câu hỏi của EQ5D Điểm trung bình CLCS quy theo bộ giá trị EQ5D là 0,87 (sd = 0,20) Trên 5 khía cạnh của CLCS, tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ cho mức 3 - mức
độ nghiêm trọng nhất là khá thấp, dao động từ 0,4 đến 0,9 % Số lượng bệnh nhân cho rằng mình không gặp khó khăn nào trong 5 khía cạnh đạt từ 75,8 % đến 94,4 % Vấn đề tâm lý là
Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc2019, Tập 10, Số 2, trang 31-37
1
Nhóm tuổi
Thời gian mắc bệnh (năm)
ĐH trở lên 106 12,9
HbA1c
Trình độ văn
hóa
BMI
Nghề nghiệp
Bệnh mắc kèm
< 1 triệu 108 13,1 Biến chứng Không 621 75,7
Thu nhập
hàng tháng
(đồng)
Phác đồ điều trị
Insulin + thuốc 95 11,6
Đặc điểm
động Tự chăm sóc ngày đớn Tâm lý
Mức 1
Mức 2
Mức 3
2
Mô hình
Thời gian mắc bệnh -0,005 0,002 0,015 -0,779 0,129 0,000
Biến chứng Độ giảm trước ghép cặp Độ giảm sau ghép cặp Độ giảm trước ghép cặp Độ giảm sau ghép cặp
Bảng2.Tầnsuấtđánhgiátrên5khíacạnhcủabộcâuhỏiEQ5D
Hình1.Tầnsuấtđánhgiáchấtlượngcuộcsốngtheothangtrựcquan
Trang 5Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc2019, Tập 10, Số 2, trang 31-37
điều gây ảnh hưởng xấu tới nhiều bệnh nhân
nhất Trong khi đó, khả năng tự chăm sóc bản
thân của bệnh nhân ĐTĐ ít bị ảnh hưởng nhất
(bảng 2)
Có 801 bệnh nhân đưa ra nhận định về chất
lượng cuộc sống theo thang trực quan (VAS) với
giá trị trung bình thu được là 69,49 (sd = 14,80)
Khi đánh giá tình trạng sức khỏe trên thang
điểm từ 0 tới 100, giá trị 70 có tần suất được lựa
chọn cao nhất với 167 BN chiếm 20,8 %, tiếp
theo là giá trị 80 (18,4 %) và 60 điểm (14,6 %)
Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố ảnh
hưởngđếnchấtlượngcuộcsốngcủabệnhnhân
Đối với điểm EQ5D, phân tích hồi quy tuyến
tính đa biến theo phương pháp Stepwise đưa ra
5 mô hình khác nhau Mô hình được chọn có hệ
số R2 hiệu chỉnh cao nhất đạt 0,158 Dựa trên
phương trình hồi quy, ta thấy nếu như các biến
độc lập khác không thay đổi thì giá trị EQ5D của
bệnh nhân có biến chứng sẽ thấp hơn 0,05 so với bệnh nhân không có biến chứng Việc phải
sử dụng insulin cũng làm giảm 0,061 điểm EQ5D
Đối với điểm EQVAS, mô hình hồi quy có R2 hiệu chỉnh là 0,256, xác định 4 yếu tố ảnh hưởng tới CLCS của bệnh nhân là tuổi, biến chứng, thời gian mắc bệnh và trình độ văn hóa Các biến thu nhập và trình độ có tương quan dương với CLCS trong khi các yếu tố còn lại có tương quan âm
Mứcđộảnhhưởngcủacácbiếnchứngtới CLCS
Dựa trên các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS đã xác định được ở mô hình hồi quy, tiến hành ghép cặp theo phương pháp PSM, để giảm nhiễu do các biến khác nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các loại biến chứng lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Kết quả cho thấy biến chứng loét bàn chân do ĐTĐ có ảnh
2
Mô hình
Thời gian mắc bệnh -0,005 0,002 0,015 -0,779 0,129 0,000
Biến chứng Độ giảm trước ghép cặp Độ giảm sau ghép cặp Độ giảm trước ghép cặp Độ giảm sau ghép cặp
Bảng3.Cáchệsốcủamôhìnhhồiquytuyếntínhđabiến
Bảng4.ĐộgiảmCLCScủanhómbệnhnhânmangbiếnchứng
Trang 6hưởng lớn nhất với mức giảm là 0,30 điểm
(thang EQ5D) và 32,5 điểm (thang EQVAS)
Đứng thứ 2 là biến chứng trên thận với 0,14
điểm (thang EQ5D) và 8,5 điểm (thang EQVAS)
Tuy nhiên, các vị trí còn lại có một số khác biệt
Với điểm EQ5D, các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc
về biến chứng trên mắt (0,11 điểm), trên tim
mạch (0,07 điểm) và biến chứng thần kinh
(0,02) Trong khi đó, ở điểm EQVAS, biến chứng
tim mạch làm giảm 6,4 điểm, biến chứng thần
kinh làm giảm 3,8 điểm, và biến chứng trên mắt
chỉ làm giảm 1,8 điểm
Bàn luận
Nghiên cứu được tiến hành tại cơ sở y tế
tuyến huyện và tuyến tỉnh - nơi khám chữa
bệnh của phần lớn người bệnh đái tháo đường
Việc xác định được các yếu tố có ảnh hưởng tới
CLCS đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ ra
đối tượng bệnh nhân cần hỗ trợ và đưa ra giải
pháp phù hợp nhằm cải thiện CLCS của người
bệnh Điểm trung bình của mẫu nghiên cứu là
0,87 (sd = 0,20) theo thang điểm EQ5D và 69,49
(sd = 14,8) theo thang trực quan Điều này phù
hợp với các nghiên cứu trước đây tại Trung
Quốc (0,79 - 0,94 và 61,5 - 78,6) [10], Nhật Bản
(0,86 và 74,3) [8] và một số quốc gia khác So
sánh với nghiên cứu tiến hành trong nước, kết
quả cao hơn so với nghiên cứu trên bệnh nhân
cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
(0,80 và 57,5) [4] Tuy nhiên, có thể nhận thấy
một số lý do giải thích cho sự khác biệt này
Trước hết, nhóm đối tượng được nghiên cứu tại
bệnh viện Lão khoa trung ương có hai yếu tố
nhân khẩu học làm giảm chất lượng cuộc sống
đó là độ tuổi trung bình cao hơn (69,4 tuổi so
với 61,8 tuổi) và tỉ lệ nữ giới lớn hơn (58,5 % so
với 47,6 %) Thứ hai, bệnh nhân trong nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương được
khám và điều trị tại tuyến trung ương, nên tính
chất bệnh có nhiều phức tạp hơn các trường
hợp khám chữa bệnh tại tuyến dưới (93 % có
bệnh mắc kèm, 75,4 % mắc bệnh trên 5 năm)
dẫn tới CLCS cũng sẽ thấp hơn [4]
Các yếu tố tuổi tác, thời gian mắc bệnh, sử
dụng insulin và biến chứng được chỉ ra là có ảnh
hưởng tới CLCS của bệnh nhân đái tháo đường Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây [3], [4], [5] Nhóm bệnh nhân có trình độ văn hóa và thu nhập cao thì CLCS cũng cao hơn Giá trị CLCS tính theo thang điểm EQ5D và EQVAS đều có mối quan hệ tuyến tính với trình độ văn hóa Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại Iran và Canada [3], [5]
Biến chứng ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị CLCS của bệnh nhân ĐTĐ Nhóm BN xuất hiện biến chứng có CLCS thấp hơn so với nhóm BN không xuất hiện biến chứng Kết quả này giống với hầu hết các nghiên cứu trên thế giới [9] và một số nghiên cứu tại Việt Nam [1] Ngược lại, trong khi một số nghiên cứu cho rằng HbA1c và BMI ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thì tại nghiên cứu này, hai chỉ số trên không thể hiện điều đó [7] Nguyên nhân là bởi ĐTĐ có diễn biến âm thầm khiến bệnh nhân không cảm nhận được các tác hại của mất kiểm soát đường huyết và cân nặng tới sức khỏe Chỉ đến khi các biến chứng xuất hiện, tác động mới thực sự rõ ràng Đặc điểm này dễ gây ra tâm lý chủ quan, thiếu quyết tâm trong tuân thủ điều trị và kiểm soát tốt đường huyết ở bệnh nhân trong gian đoạn chưa phát sinh biến chứng
So sánh ghép cặp theo phương pháp PSM cho thấy biến chứng loét bàn chân do ĐTĐ là biến chứng gây suy giảm CLCS của bệnh nhân mạnh nhất Tác giả Sothornwit cũng đưa ra kết luận tương tự khi tiến hành đo lường CLCS của bệnh nhân loét bàn chân, bệnh nhân với các biến chứng khác tại Thái Lan [9] Các vấn đề về bàn chân đái tháo đường có thể được ngăn ngừa bằng các biện pháp đơn giản như kiểm tra bàn chân ít nhất một lần một năm và giáo dục bệnh nhân về cách chăm sóc bàn chân thích hợp Nhấn mạnh các vấn đề này trong thực hành lâm sàng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Với cỡ mẫu lớn (821 bệnh nhân) và ước tính CLCS theo thang EQ-5D và EQVAS trên từng nhóm bệnh nhân ĐTĐ cụ thể, nghiên cứu của chúng tôi đã cung cấp các chỉ số đầu vào quan
Trang 7Nghiên cứu Dược & Thông tin thuốc2019, Tập 10, Số 2, trang 31-37
trọng về CLCS để phục vụ cho các nghiên cứu
tiếp theo về đánh giá kinh tế y tế trên người
bệnh ĐTĐ
Kết luận
Giá trị CLCS của bệnh nhân tại 5 cơ sở y tế
trên địa bàn Bắc Ninh theo thang điểm EQ5D
của Thái Lan đạt 0,87 điểm và theo thang điểm EQVAS đạt 69,49
Biến chứng, tuổi tác, trình độ văn hóa, thời gian mắc bệnh, sử dụng insulin và thu nhập là những yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu
Tài liệU ThaM khảo
1 Trần Ngọc Hoàng và Nguyễn Thị Bích Đào (2014) Đánh giá ảnh hưởng của các biến chứng trên chất lượng cuộc sống bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị tại bệnh viện nhân dân 115 YhọcthànhphốHồChíMinh, 18 (2), 161-167
2 IDF diabetes Atlas (2017) IDFDiabetesAtlas8thEdition, 126-128
3 M Javanbakht, F Abolhasani, A Mashayekhi và cộng sự (2012) Health related quality of life in patients with type 2 diabetes mellitus in Iran: a national survey PLoSOne, 7 (8), e44526
4 H T T Nguyen, B X Tran, M P Moir và cộng sự (2018) Health-related quality of life in elderly diabetic outpatients in Vietnam PatientPreferAdherence, 12, 1347-1354
5 D J O'Reilly, F Xie, E Pullenayegum và cộng sự (2011) Estimation of the impact of diabetes-related complications on health utilities for patients with type 2 diabetes in Ontario, Canada QualLifeRes, 20 (6), 939-943
6 R Rabin và F de Charro (2001) EQ-5D: a measure of health status from the EuroQol Group Ann Med, 33 (5), 337-343
7 M Ridderstrale, L M Evans, H H Jensen và cộng sự (2016) Estimating the impact of changes in HbA1c, body weight and insulin injection regimen on health related quality-of-life: a time trade
off study HealthQualLifeOutcomes, 14, 13
8 H Sakamaki, S Ikeda, N Ikegami và cộng sự (2006) Measurement of HRQL using EQ-5D in patients with type 2 diabetes mellitus in Japan ValueHealth, 9 (1), 47-53
9 J Sothornwit, G Srisawasdi, A Suwannakin và cộng sự (2018) Decreased health-related quality
of life in patients with diabetic foot problems DiabetesMetabSyndrObes, 11, 35-43
10 T Zhou, H Guan, J Yao và cộng sự (2018) The quality of life in Chinese population with chronic non-communicable diseases according to EQ-5D-3L: a systematic review QualLifeRes, 27:2799-814