1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ KHU VỰC VÀ ASEAN ĐỀ TÀI Trình bày tổng quan kinh tế của Indonesia trên cơ sở so sánh với Singapore

75 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: TỔNG QUAN KINH TẾ CỦA INDONESIA

  • 1. Điều kiện tự nhiên, điều kiện văn hóa xã hội và chính trị của Indonesia

    • 1.1. Điều kiện về tự nhiên

      • 1.1.1. Vị trí địa lý

      • 1.1.2. Điều kiện khí hậu

      • 1.1.3. Điều kiện tài nguyên thiên nhiên

    • 1.2. Điều kiện về văn hóa, xã hội.

      • 1.2.1. Dân số, lao động và việc làm

      • 1.2.2. Giáo dục và đào tạo

    • 1.3. Chính trị của indonesia

  • 2. Đánh giá các chỉ số kinh tế quan trọng của Indonesia (2016- 2021)

    • 2.1. Tổng sản phẩm quốc nội GDP và tốc độ tăng trưởng GDP

      • 2.1.1. Tổng sản phẩm quốc nội GDP

      • 2.1.2. Tốc độ tăng trưởng GDP

    • 2.2. GDP bình quân đầu người

    • 2.3 Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

    • 2.4 Thu hút FDI

  • 3. Đánh giá tổng quan về kinh tế Indonesia

    • 3.1. Lịch sử phát triển kinh tế Indonesia qua các giai đoạn

    • 3.2.  Tổng quan kinh tế của Indonesia (2016-2021)

      • 3.2.1. Nông Lâm nghiệp và thủy sản 

      • 3.2.2. Công nghiệp 

      • 3.2.3. Dịch vụ 

      • 3.2.4. Xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ

      • 3.2.5. Đầu tư và phát triển (đầu tư trong và ngoài nước)

      • 3.2.6. Thu chi ngân sách nhà nước    

      • 3.2.7. Bức tranh kinh tế (2016-2021)

  • PHẦN II: SO SÁNH KINH TẾ GIỮA INDONESIA VÀ SINGAPORE

  • 1. Chỉ tiêu so sánh: GDP và GDP bình quân đầu người

  • 2. Chỉ tiêu so sánh: Chỉ số giá tiêu dùng CPI

  • 3. Chỉ tiêu so sánh: Cán cân thương mại

  • 4. Chỉ tiêu so sánh: Thu hút FDI

  • 5. Chỉ tiêu so sánh: Tổng nợ nước ngoài

  • TRẢ LỜI CÂU HỎI PHẢN BIỆN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Với vị trí địa lý như vậy, Indonesia trở thành đầu mối giao thương của thế giới và là một trong những nước ASEAN được các nhà đầu tư quan tâm và ưu tiên hàng đầuvới tốc độ phát triển kin

TỔNG QUAN KINH TẾ CỦA INDONESIA

Điều kiện về tự nhiên

Indonesia, tên gọi chính thức là Cộng hòa Indonesia, là một đảo quốc nằm ở khu vực Đông Nam Á, quần đảo nằm giữa biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo" vì lãnh thổ của nước này bao gồm 13.487 hòn đảo với dân số ước tính đạt hơn 274,1 triệu người (năm 2020), xếp thứ 4 thế giới và đứng thứ 3 châu Á

Là một quốc gia được bao bọc bởi 2 đại dương và 2 lục địa, Indonesia là một khu vực rất chiến lược Có vị trí địa lý trung tâm và gần ngay sát một trong những tuyến cao tốc thương mại biển quan trọng bậc nhất kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương khiến Indonesia trở thành cửa ngõ số một cho khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương Sự phát triển thương mại hàng hải thông qua eo biển Malacca khiến cho vùng biển này trở thành một trong những điểm nghẽn quan trọng nhất tiếp cận Biển Đông Mỗi năm hàng hóa với giá trị ước tính khoảng 5,3 nghìn tỷ đô la Mỹ được vận chuyển thông qua vùng biển này, 1,2 nghìn tỷ đô la Mỹ trong số này là giao thương trực tiếp với Hoa Kỳ Ước tính có khoảng từ 50 nghìn đến 60 nghìn tàu thuyền chuyển tiếp tại eo biển Malacca mỗi năm Chính bởi vì các nền kinh tế khu vực và toàn cầu phụ thuộc chặt chẽ vào eo biển Malacca nên không chỉ an ninh mà cả sự liên tục trong an toàn tuyến đường hàng hải cũng đều trở thành những cân nhắc chiến lược quan trọng

Vị trí địa lý của Indonesia tạo ra rất nhiều lợi thế trong việc giải quyết những lo ngại về an ninh hàng hải trong khu vực Vai trò tích cực của Indonesia trong giai đoạn phôi thai và phát triển tiếp theo của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) kể từ khi thành lập năm 1967 vốn luôn có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách đối ngoại của quốc gia này Vào năm 2018, Bộ Ngoại Giao Indonesia tuyên bố Cơ Chế Hợp Tác Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của các quốc gia Đông Nam Á trong đó nêu bật ba lĩnh vực chủ chốt: tôn trọng các thông lệ quốc tế và tìm giải pháp thông qua đối thoại; giải quyết những thách thức an ninh chủ chốt; và kiến tạo những trung tâm kinh tế tại Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương.

Với vị trí địa lý như vậy, Indonesia trở thành đầu mối giao thương của thế giới và là một trong những nước ASEAN được các nhà đầu tư quan tâm và ưu tiên hàng đầu với tốc độ phát triển kinh tế khá cao và thuận lợi cho việc hợp tác giao thương với các duy trì hợp tác chặt chẽ với các nước trong và ngoài khu vực như Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ… Indonesia đã chứng minh được những lợi thế chiến lược về vị trí địa lý Đó là một sự mở rộng đáng kể của các cánh cửa thương mại sẽ tăng cường kết nối với nền kinh tế toàn cầu.

Nền kinh tế bao gồm lĩnh vực thủy sản, nơi Indonesia có nguồn thu nhập từ cá tốt, nơi sau này hầu hết các sản phẩm biển sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài Ở lĩnh vực du lịch, Indonesia có hàng triệu địa điểm đẹp đáng được sử dụng làm điểm du lịch với giá cả phải chăng, điển hình như Bali là nơi có nét đẹp và văn hóa độc đáo nên hàng năm có rất nhiều du khách nước ngoài đến thăm nơi này.

Tuy nhiên, Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á, và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động, gồm cả Krakatoa và Tambora, cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ 19 Điều này đã gây thiệt hại rất lớn về con người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế.

Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa mưa và khô riêng biệt Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp khoảng từ 1.780 - 3.175 milimét (70 - 125 in), và lên tới 6.100 milimet (240 in) tại các vùng núi Các vùng đồi núi, đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java, Kalimantan, Sulawesi, và Papua có lượng mưa lớn nhất Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80% Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngày trung bình tại Jakarta là 26 - 30 °C (79 - 86 °F) Những điều kiện này đều vô cùng thích hợp để phát triển nông nghiệp Ngoài ra, diện tích, khí hậu nhiệt đới cùng với hình thế địa lý quần đảo của Indonesia khiến nước này có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ hai thế giới - chỉ sau Brazil, và hệ động thực vật của nó là sự pha trộn của các giống loài Châu Á và Australasia Bờ biển dài 80.000 km của Indonesia được bao quanh bởi các biển nhiệt đới cũng đóng góp vào mức độ đa dạng sinh thái cao của nước này Indonesia có nhiều hệ sinh thái biển và bờ biển, gồm các bãi biển, đụn cát, cửa sông, bãi lầy, rặng san hô, bãi cỏ biển, bãi bùn ven biển, bãi thuỷ triều, bãi tảo, và các hệ sinh thái nhỏ trong đất liền Thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan và hệ sinh thái đẹp đã giúp Indonesia có tiềm năng rất lớn trong phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái.

1.1.3 Điều kiện tài nguyên thiên nhiên

Indonesia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú về lâm, nông nghiệp và khoáng sản với trữ lượng lớn dầu lửa, khí đốt, thiếc, đồng và vàng

Nói Indonesia - đất nước vạn đảo là rất đúng, nhưng nói Indonesia là đất nước của rừng nhiệt đới cũng không sai, bởi diện tích rừng của Indonesia chiếm trên 70% diện tích tự nhiên (khoảng gần 131.000 km2) Với một diện tích rừng rộng lớn, trữ lượng rừng cao, hệ sinh thái đa dạng, phong phú nên ngành lâm nghiệp của Indonesia rất phát triển, đây là một ngành kinh tế quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội của Indonesia.

Trong diện tích gần 131 triệu ha rừng được chia ra: rừng nguyên sinh 41,3 triệu ha, rừng tái sinh 45,6 triệu ha, rừng trồng 2,8 triệu ha, đất không có rừng 41,1 triệu ha. Rừng của Indonesia được phân thành 3 loại: rừng phòng hộ, rừng bảo tồn (ở ta là rừng đặc dụng) và rừng sản xuất.

Các loại rừng phòng hộ, rừng sản xuất giao cho các địa phương quản lý, sau đó các địa phương giao lại cho các chủ rừng quản lý, bảo vệ Đối với rừng sản xuất, Indonesia đã có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, hiện nay đã cấp được khoảng 30 triệu ha rừng, thời gian sử dụng đất lâm nghiệp được quy định 35 năm Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp chủ yếu cấp cho các công ty nhà nước, cấp trực tiếp cho dân rất hạn chế Khác với nước ta, rừng bảo tồn do Bộ Lâm nghiệp quản lý, thông qua các khu bảo tồn, các trung tâm bảo tồn quản lý theo ngành dọc.

Rừng Indonesia đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Australia về mức độ đặc hữu, với 1.531 loài chim, 511 loài có vú, 270 động vật lưỡng cư, 2.827 động vật không xương sống; với bờ biển dài trên 80.000 km được bao quanh bởi biển nhiệt đới, đã tạo nên một hệ sinh thái đa dạng, phong phú.

Mặc dù có diện tích rừng khá lớn, những năm gần đây, rừng Indonesia suy giảm mạnh do áp lực dân số tăng nhanh, do phá rừng trồng cọ, do chặt phá rừng trái phép, do khai thác khoáng sản và đặc biệt do cháy rừng Chính phủ Indonesia đã có những biện pháp tích cực để hạn chế việc giảm diện tích rừng, trữ lượng rừng.

Diện tích đất canh tác chỉ chiếm khoảng 8% diện tích lãnh thổ thậm chí con số này đã từng bị giảm xuống do diện tích đất canh tác bị thu hẹp mạnh từ việc thiếu sự quan tâm và hỗ trợ đúng mức của Chính phủ nước này cho ngành nông nghiệp. Khoảng 100.000 hécta đất nông nghiệp Indonesia đã bị chuyển giao cho các nhà máy và ngành bất động sản từ năm 2010, gây nhiều thách thức cho việc đáp ứng nhu cầu trong nước đối với một số mặt hàng nông sản chiến lược Tuy nhiên, Indonesia đã và đang thực hiện mở rộng đất canh tác, đơn cử như việc thực hiện kế hoạch chuyển 1,4 triệu hecta đất than bùn thành đất nông nghiệp Hiện nay, dịch Covid 19 cũng gây ra một số ảnh hưởng đến nông nghiệp của Indonesia Tuy nhiên, Chính phủ Indonesia đã ninh lương thực cũng như cải thiện phúc lợi của nông dân và ngư dân Indonesia đã xây dựng khu sản xuất lương thực nhằm củng cố hệ thống lương thực quốc gia Tổng thống Joko Widodo đã chỉ đạo triển khai các dự án khu thực phẩm ở Trung Kalimantan và Bắc Sumatra Khi các dự án được triển khai, người nông dân được tập hợp lại dưới hình thức hợp tác xã, để dễ dàng hơn trong việc tiếp cận hỗ trợ, tài chính và các cơ sở khác do chính phủ phối hợp với các doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân cung cấp.

Một trong những loại cây trồng quan trọng nhất ở Indonesia là cây lúa, đây là cây lương thực chủ yếu với diện tích là 8 triệu ha năm 2018, chiếm khoảng 22,8% diện tích đất nông nghiệp của nước này Lúa được trồng ở cả đồng bằng và miền núi ở Indonesia, với các ruộng lúa ở vùng cao chủ yếu dựa vào nước trời và ít dùng phân bón hóa học Vùng đồng bằng lúa có tưới chiếm khoảng 90% tổng diện tích trồng lúa quốc gia và chiếm 94% tổng sản lượng Kết quả là, năng suất lúa vùng được tưới tiêu cao hơn khoảng 60% so với năng suất vùng cao lệ thuộc nước trời Vùng đồng bằng trồng lúa tập trung nhiều ở Java, nhưng cũng phổ biến trên các đảo Sumatra và Sulawesi - cả ba 3 hòn đảo này góp khoảng 89% tổng sản lượng gạo quốc gia Ngoài ra còn có một lượng nhỏ lúa được trồng trên các đảo bên ngoài theo một hệ thống canh tác truyền thống Với cách canh tác quảng canh này chủ yếu với nông dân sản xuất nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, những người đang thiết lập một trang trại trồng hỗn hợp của cây cao su và cây lương thực Cây lúa được trồng xen trong các vườn cao su mới trồng hoặc vườn cao su già cỗi đã bị đốn hạ Ở đây nông dân thường trồng xen lúa nương và ngô trong vườn cao su để tự túc lương thực.

Cây công nghiệp Đất ở Indonesia cũng rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp vì chúng có đủ chất dinh dưỡng Indonesia cũng xuất khẩu một số lượng đáng kể cao su, chè, cà phê và các loại gia vị Công nghiệp liên quan nhiều đến chế biến khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp.

Điều kiện về văn hóa, xã hội

1.2.1 Dân số, lao động và việc làm

Dân số hiện tại của Indonesia là 278.202.982 người vào ngày 28/02/2022 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc, chiếm 3,51% dân số thế giới

Indonesia đang đứng thứ 4 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ Mật độ dân số của Indonesia là 154 người/km2 Với tổng diện tích đất là 1.812.108 km2 57,29% dân số sống ở thành thị (157.521.358 người vào năm

Biểu đồ 1.1: Dân số Indonesia qua các năm

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Indonesia

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ dân số các nước ASEAN (1960 – 2020)

Số liệu dân số theo độ tuổi (ước lượng):

 71.785.515 thanh thiếu niên dưới 15 tuổi (36.526.924 nam / 35.258.591 nữ)

 174.662.244 người từ 15 đến 64 tuổi (87.780.159 nam / 86.882.085 nữ)

 16.144.323 người trên 64 tuổi (7.113.691 nam / 9.030.632 nữ)

Indonesia đang sở hữu lượng dân số trẻ lớn, đồng nghĩa với việc quốc gia nắm trong tay một nguồn lao động dự trữ dồi dào, năng động, có khả năng tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kĩ 4 thuật; thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế truyền thống đòi hỏi nhiều lao động cũng như các ngành hiện đại cần nhiều chất xám Ngoài ra, đây cũng là tiềm năng về thị trường tiêu thụ rộng lớn.

Indonesia còn là một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo Java là sắc tộc lớn nhất với hơn 42% dân số Hồi giáo là tôn giáo có số tín đồ nhiều nhất với hơn 230 triệu người vào năm 2019 và Indonesia cũng là quốc gia có số dân theo đạo Hồi lớn nhất trên thế giới.

Biểu đồ 1.5: Số tín đồ theo tôn giáo tại Indonesia 2019 (triệu người)

(Nguồn: wikipedia) Lao động và việc làm:

Indonesia đang sở hữu một lực lượng lao động vô cùng dồi dào với tổng lực lượng lao động theo báo cáo là đã đạt tới hơn 134 triệu lao động vào năm 2020.

Biểu đồ 1.6: Số lượng lao động của Indonesia giai đoạn 2016 - 2020

Từ bảng số liệu, lực lượng lao động có xu hướng tăng đều qua các năm, từ 125.958.781 người (năm 2016) lên 135.802.879 người (năm 2019) Tuy nhiên, năm

2020 có sự giảm nhẹ xuống 134.616.083 người.

Biểu đồ 1.7: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Indonesia 2016 - 2020

Cùng với sự gia tăng về lực lượng lao động, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động Indonesia cũng tăng lên 68,08 % vào năm 2021 từ 67,77 % vào năm 2020, tăng 0,31%.

Số lượng người có việc làm ở Indonesia đã tăng lên 131.064.305 người vào năm

2021 từ 128.454.184 người vào năm 2020 Tổng cộng có 78,14 triệu người (59,62%) làm việc trong các hoạt động phi chính thức, giảm 0,85 điểm phần trăm so với tháng 8 năm 2020.

Mặc dù số lượng vô cùng dồi dào nhưng phần lớn lực lượng lao động ở Indonesia trình độ học vấn còn thấp Trong số 128 triệu lao động có việc làm ở Indonesia, số người có trình độ trong lĩnh vực của họ chỉ là 40 triệu lao động Điều này dễ hiểu nếu đề cập đến 55 triệu lao động chỉ tốt nghiệp tiểu học (SD) và 16 triệu lao động khác chỉ tốt nghiệp trung học cơ sở (SMP)

Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới, đại dịch Covid-19 khiến cho hơn 80% thanh thiếu niên 15 tuổi Indonesia đạt dưới mức độ đọc hiểu tối thiểu theo chuẩn của

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); 70% học sinh không đạt chuẩn về trình độ đọc, viết cơ bản theo 14 bài kiểm tra của Chương trình Đánh giá Học sinhQuốc tế (PISA) của OECD, đưa Indonesia xếp trong nhóm kém nhất (8%) trong số 77 quốc gia tham gia Thậm chí có một bộ phận học sinh Indonesia mặc dù đã tốt nghiệp cấp III, song trung bình chỉ học tập hiệu quả trong 7,8 năm; trong đó, con số này giảm xuống thấp nhất là 6,9 năm vào tháng 7/2021 Điều này khiến chất lượng nguồn lao động Indonesia có nguy cơ ngày càng suy giảm Thu nhập hàng tháng của Indonesia ở mức 170 USD vào tháng 12 năm 2020, giảm so với con số trước đó là 183 USD vào tháng 12 năm 2019 và cao nhất ở mức 185 USD vào tháng 12 năm 2018.

Sự gia tăng số lượng lực lượng lao động không tương xứng với việc mở rộng việc làm đã làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở Indonesia trong những năm gần đây Điều này có thể thấy rõ ở biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.8: Tỷ lệ thất nghiệp Indonesia 2016 – 2020 (%)

Tỷ lệ thất nghiệp của Indonesia tăng lên 7,07% vào tháng 8 năm 2020, từ con số được báo cáo trước đó là 5,18% vào tháng 8 năm 2019.

1.2.2 Giáo dục và đào tạo

Các nghiên cứu của tổ chức Hướng dẫn kinh doanh toàn cầu (GBG) đánh giá, Indonesia hiện sở hữu gần 4.500 với hơn 25.500 chuyên ngành đào tạo, tuy nhiên các tổ chức giáo dục bậc đại học của Indonesia vẫn xếp ở hạng kém trong bảng đánh giá chất lượng giáo dục toàn cầu Cụ thể, cuối năm 2017, chỉ có 65 trong số gần 4.500 trường đại học được đánh giá đạt mức đào tạo hạng A Hầu hết các trường đại học hoạt động yếu kém đều thuộc sở hữu tư nhân, các trường đại học này cung cấp các dịch vụ giáo dục không đạt chuẩn và hàng năm đào tạo ra hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp với chất lượng thấp Đây là một trong những lý do chính làm cho tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học thất nghiệp ngày càng tăng từ số 374.868 người năm 2016 lên 463.390 người trong năm 2017 Thực trạng đáng báo động này đã khiến Bộ nghiên cứu, Công nghệ và Giáo dục đại học Indonesia công bố kế hoạch đóng cửa hoặc sáp nhập 1.000 cơ sở giáo dục đào tạo tư nhân vào năm 2019 Theo phân tích, đánh giá của GBG, một vấn đề lớn khác của các trường đại học Indonesia hiện nay là thiếu đội ngũ giảng viên có trình độ Thực trạng này sẽ còn nghiêm trọng hơn khi đội ngũ giảng viên tại các trường đại học Indonesia đang đến độ tuổi nghỉ hưu và dự kiến sẽ có khoảng 6.000 giảng viên sẽ nghỉ hưu vào năm 2021.

Indonesia, nền kinh tế lớn nhất ASEAN có thể sẽ không đủ thời gian để trang bị cho người lao động những kỹ năng, kiến thức cần thiết trong việc duy trì tính cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà với các nền kinh tế khác trong khu vực Bên cạnh đó, Indonesia cũng đang rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao (ước tính khoảng 50% trong tổng số lao động hiện có tại Indonesia) trong bối cảnh quốc gia này đang đẩy mạnh mục tiêu phát triển kinh tế… Tất cả những khó khăn trên đang cản trở sự phát triển kinh tế của Indonesia Đứng trước thách thức trên, Chính phủ Indonesia đang nỗ lực tận dụng triệt để xu hướng khuyến khích các trường đại học tích cực theo đuổi phương pháp giáo dục điện tử để giúp đất nước xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức và giải quyết triệt để tình trạng thất nghiệp trong tầng lớp thanh niên Xu hướng khởi nghiệp công nghệ đang phát triển mạnh mẽ tại Indonesia và phương pháp giáo dục điện tử cũng được các trường đại học nghiên cứu triển khai kết hợp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động…

Bên cạnh đó, để cải thiện chất lượng của các trường đại học địa phương, chính phủ Indonesia đã khuyến khích các trường đại học có uy tín nước ngoài mở các cơ sở giáo dục tại Indonesia hoặc liên kết, hợp tác với các trường đại học địa phương triển khai chương trình đào tạo với hy vọng mang lại chất lượng tốt hơn Theo Bộ Nghiên cứu, Công nghệ và Giáo dục, tháng 9/2018, có 2 trường đại học của Australia đã được Indonesia chấp thuận mở cơ sở đào tạo tại Indonesia Nhiều trường đại học tại Indonesia đã hợp tác với các trường đại học nước ngoài thông qua trao đổi giảng viên và sinh viên, tài trợ học bổng, chương trình đào tạo, nghiên cứu chung

Chính phủ Indonesia đang nỗ lực tận dụng triệt để xu hướng khuyến khích các trường đại học tích cực theo đuổi phương pháp giáo dục điện tử để giúp đất nước xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức và giải quyết triệt để tình trạng thất nghiệp trong tầng lớp thanh niên Xu hướng khởi nghiệp công nghệ đang phát triển mạnh mẽ tạiIndonesia và phương pháp giáo dục điện tử cũng được các trường đại học nghiên cứu triển khai kết hợp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động… Việc này có thể tạo ra một thế hệ lao động trẻ với đầy đủ tri thức và kỹ năng lao động cần thiết có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp tuyển dụng lao động.

Chính trị của indonesia

Là một quốc gia trong khu vực ASEAN, và cũng giành độc lập cùng thời kỳ vớiViệt Nam, kể từ khi ban hành bản hiến pháp đầu tiên (1945) và thành lập nền cộng hòa

(1950), Indonesia đã đã trải qua nhiều bước thay đổi quan trọng trong đời sống chính trị và đạt được những thành công nhất định

Chính trị Indonesia vận hành theo cấu trúc của một nước cộng hòa dân chủ đại nghị tổng thống chế, theo đó Tổng thống Indonesia là nguyên thủ quốc gia và đồng thời là người đứng đầu chính phủ, cũng như của một hệ thống đa đảng Quyền hành pháp được thực thi bởi chính phủ Quyền lập pháp được trao cho cả chính phủ và lưỡng viện quốc hội là Hội nghị Hiệp thương Nhân dân, gồm Hội đồng Đại diện Khu vực (tức thượng viện) và Hội đồng Đại diện Nhân dân (tức hạ viện) Nhánh tư pháp độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp.

Hiến pháp năm 1945 cho phép phân chia giới hạn quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp Hệ thống chính phủ được mô tả là "tổng thống chế với các đặc điểm của hệ thống nghị viện" Sau các cuộc bạo loạn tháng 5 năm 1998 và sự từ chức của Tổng thống Suharto, một số cải cách chính trị đã được thực hiện thông qua sửa đổi Hiến pháp Indonesia, dẫn đến thay đổi đối với tất cả các nhánh quyền lực trong chính phủ.

Đánh giá các chỉ số kinh tế quan trọng của Indonesia (2016- 2021)

2.1 Tổng sản phẩm quốc nội GDP và tốc độ tăng trưởng GDP

2.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội GDP

Biểu đồ 2.9: GDP Indonesia 2016 – 2021 (đơn vị: tỉ USD) (Nguồn: https://tradingeconomics.com/indonesia/gdp ) Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2016-2021, GDP của

931,88 tỉ USD và cao nhất vào năm 2019 với 1119,09 tỉ USD GDP tăng dần qua các năm từ 2016-2019, riêng 2020 GDP của Indonesia có xu hướng giảm do ảnh hưởng của dịch bệnh, tới năm 2021 GDP lại khôi phục về mức 1099,11 tỉ USD.

2.1.2 Tốc độ tăng trưởng GDP

Biểu đồ 2.10: Tốc độ tăng trưởng GDP của Indonesia 2016 – 2021 (%)

(Nguồn: https://www.statista.com/statistics/320068/gross-domestic-product-gdp- growth-rate-in-indonesia/ )

Năm 2016 , tốc độ tăng trưởng kinh tế của Indonesia là 5,03%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng 7% mà Tổng thống Joko Widodo tuyên bố khi vận động tranh cử Tổng thống vào năm 2014 Nguyên nhân Indonesia không đạt được mục tiêu này là do những cải cách chậm chạp, quan liêu, nhu cầu toàn cầu sụt giảm.

Năm 2017 , tốc độ tăng trưởng kinh tế của Indonesia đạt 5,07%, cao hơn mức tăng 5,02% của năm 2016, do đầu tư và xuất, nhập khẩu gia tăng Thống đốc Ngân hàng Trung ương Indonesia - BI cho biết, một trong những thành tựu kinh tế tốt nhất của Indonesia là thặng dư thương mại tháng 11/2017 đạt 12 tỷ USD, cao hơn so với mức thặng dư 8,48 tỷ USD của cùng kỳ năm 2016; dự trữ ngoại hối ở mức 125,9 tỷ USD

Năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5,17% Đây là mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại, chủ yếu nhờ vào tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư và chi tiêu của chính phủ, trong đó tiêu dùng hộ gia đình đóng góp 2,74% (tăng 5,05%); đầu tư là 2,17%

Trong năm 2019 , tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này chỉ đạt 5,02%, thấp hơn mức 5,17% của năm 2018 và mục tiêu 5,3% do Chính phủ đề ra trong kế hoạch ngân sách nhà nước năm 2019 Trong đó, nguyên nhân là do đầu tư và xuất khẩu suy yếu Theo giới phân tích, trước những tác động của xung đột thương mại Mỹ - Trung, đầu tư vốn là lĩnh vực đóng góp lớn thứ hai vào tăng trưởng GDP của Indonesia chỉ tăng 4,45%, giảm mạnh so với mức 6,67% của năm 2018 Xuất khẩu cũng giảm 0,87%

Năm 2020 , GDP của Indonesia lần đầu tiên suy giảm trong hơn 2 thập kỷ, giảm

2,07% so với 2019 Nguyên nhân là do những ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid

19 đã khiến Tiêu dùng, lĩnh vực chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Indonesia suy giảm mạnh và kéo GDP sụt giảm theo.

Tới năm 2021 , GDP của Indonesia đã phục hồi với mức tăng trưởng 3,69% so với năm trước sau khi chính phủ nới lỏng các hạn chế và xuất khẩu cao kỷ lục nhờ giá hàng hóa tăng.

2.2 GDP bình quân đầu người

Biểu đồ 2.11: GDP bình quân đầu người của Indonesia 2016 – 2021 (US Dolars) (Nguồn: https://www.statista.com/statistics/320149/gross-domestic-product-gdp-per- capita-in-indonesia/ )

Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2016-2021, GDP bình quân đầu người của Indonesia đạt: trung bình là 3963,55 USD/ người, GDP đạt thấp nhất vào năm 2016 với 3605,72 USD/người và cao nhất vào năm 2019 với 4136,3 USD/người Nhìn chung, GDP bình quân đầu người của Indonesia có xu hướng tăng theo các năm và tốc độ tăng trưởng hằng năm đều lớn hơn 3% Duy chỉ có năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Indonesia đạt mức -3.11%, giảm 241,68 USD/người so với con số 4136,3 USD/người của năm 2019.

2.3 Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (năm cơ sở 2018)

Chỉ số giá tiêu dùng - Consumer Price Index (hay viết tắt là CPI) là chỉ số mức giá tiêu thụ trung bình cho giỏ hàng hóa hay dịch vụ của một người – thước đo chính của lạm phát Các danh mục quan trọng nhất trong CPI của Indonesia là Thực phẩm, đồ uống và thuốc lá (25% tổng trọng lượng), Nhà ở, nước, điện và nhiên liệu gia dụng (20,4%), Giao thông vận tải (12,4%) và Nhà cung cấp thực phẩm và đồ uống / Nhà hàng (8,7%) Chỉ số này cũng bao gồm: Thiết bị gia dụng, dụng cụ và bảo trì định kỳ (6%); Chăm sóc cá nhân và các dịch vụ khác (5,9%); Thông tin, truyền thông và dịch vụ tài chính (5,8%); Giáo dục (5,6%); và Quần áo và giày dép (5,4 %) Y tế và Giải trí, thể thao và văn hóa chiếm 4,7% còn lại Dựa trên biểu đồ trên, có thể kết luận rằng trong các tháng từ tháng 6 năm 2020 - tháng 6 năm 2021, chỉ số CPI tăng từ 105,06 lên 106,46 cũng có thể được hiểu là lạm phát 1,33%.

Biểu đồ 2.12: Chỉ số giá tiêu dùng của Indonesia 2012 – 2022

(Nguồn: Statistics Indonesia ) Để giảm bớt khó khăn cho các gia đình bị ảnh hưởng do dịch COVID-19 và làm động lực thúc đẩy nền kinh tế quốc gia thông qua tăng cường sức mua của người dân. Trong năm 2021, trước ảnh hưởng của dịch bệnh covid – 19 Chính phủ Indonesia đã hỗ trợ cho người dân bằng ngân sách với số tiền 110.000 tỷ rupiah (gần 8 tỷ USD). Năm 2020 khi dịch bệnh mới bắt đầu bùng phát ở các quốc gia trên thế giới và ở Indonesia thì CPI gia tăng ở mức thấp Nhưng khi đến năm 2021 dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn và độ bao phủ vaccine rộng, hơn nữa Chính phủ Indonesia cũng đưa ra nhiều gói hỗ trợ người dân giúp nền kinh tế của Indonesia dần được phục hồi.

Biểu đồ 2.13: Chỉ số giá tiêu dùng tổng thể 2020 – 2021 của Indonesia

Lạm phát lõi - không bao gồm thực phẩm và các loại hàng hóa do chính phủ kiểm soát - đã giảm trong 9 tháng liên tiếp tính đến tháng 12/2020 xuống còn 1,6% Đây là mức thấp chưa từng thấy kể từ khi BPS bắt đầu ghi nhận chỉ số này vào năm 2004, báo hiệu nhu cầu và sức mua suy yếu và được cho là sẽ làm chậm hoạt động sản xuất và kinh doanh, đồng thời gây rủi ro cho toàn bộ nền kinh tế

Mức độ và sự biến động của tỷ lệ lạm phát của Indonesia trong lịch sử cao hơn so với các quốc gia mới nổi ngang hàng Trong khi các thị trường mới nổi khác có tỷ lệ lạm phát từ 3 đến 5% mỗi năm, trong giai đoạn 2005 đến 2014, Indonesia có tỷ lệ lạm phát trung bình hàng năm vào khoảng 8,5% so với cùng kỳ Tuy nhiên, kể từ năm

2015, lạm phát Indonesia đã được kiểm soát Trên thực tế, nó đã bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên lạm phát thấp Cơ quan Thống kê Trung ương (BPS) đã công bố Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) có mức tăng giá hoặc lạm phát hàng năm tính đến tháng

Con số này vượt quá kỳ vọng của giới phân tích là lạm phát hàng năm 1,81%, và là mức lạm phát hàng năm cao nhất trong vòng 2 năm trở lại đây Nguyên nhân gây ra lạm phát lớn nhất đến từ nhóm hàng thực phẩm, đồ uống và thuốc lá với mức tăng 0,41%, tiếp theo là nhóm giao thông vận tải hàng không với mức tăng 0,06% Thành công trong việc ngăn chặn các trường hợp hàng ngày do Covid-19 đã làm cho một số lĩnh vực không thiết yếu mở cửa trở lại, do đó hoạt động kinh tế đã trở lại và thúc đẩy nhu cầu công cộng trong bối cảnh giá hàng hóa tăng Giá lương thực biến động mạnh ở Indonesia (dễ bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết) và sau đó tạo ra gánh nặng lớn cho những hộ gia đình nghèo hơn sống dưới (hoặc trên) chuẩn nghèo Các hộ gia đình này chi hơn một nửa tổng thu nhập khả dụng của họ cho các mặt hàng lương thực, đặc biệt là gạo Do đó, giá lương thực cao hơn gây ra lạm phát trong rổ nghèo nghiêm trọng và có thể dẫn đến gia tăng mức độ nghèo đói Thu hoạch yếu kém kết hợp với phản ứng chậm chạp của chính phủ trong việc thay thế các sản phẩm thực phẩm địa phương bằng hàng nhập khẩu là những nguyên nhân chính gây ra áp lực lạm phát ở Indonesia.

Biểu đồ 2.14: Tỷ lệ lạm phát ở Indonesia 2010 – t1/2022

Trong 10 năm trở lại đây, mức giá thấp nhất được ghi nhận là 11.964.022 Rupiah/ ounce vào năm 2013 - do tỷ lệ lạm phát trên toàn thế giới giảm nghiêm trọng, giá vàng đã giảm mạnh ở Indonesia và mức cao nhất được ghi nhận là 30.028.376 Rupiah/ ounce vào năm 2020 Mức giá cao nhất và thấp nhất chênh nhau tới 2,5 lần, nhìn chung thì giá vàng ở Indonesia đang trong xu hướng mạnh lên và liên tục lập kỷ lục nhất là sau khi đại dịch bùng phát Bởi vì, vàng thường được coi là một khoản đầu tư an toàn (an toàn trú ẩn), vì giá trị của nó có xu hướng ổn định trong thời điểm điều kiện kinh tế bấp bênh như hiện nay Gần đây do ảnh hưởng của cuộc chiến giữa Nga và

Ukraine cũng khiến cho giá vàng của Indonesia tăng cụ thể giá vàng đã tăng khoảng 6% (theo goldprice.org) so với trước khi cuộc chiến diễn ra

Biểu đồ 2.15: Giá vàng tại Indonesia

(Nguồn: goldprice.org) Chỉ số đô la Mỹ

Khi lạm phát giảm, tỷ giá hối đoái IDR / USD có xu hướng suy yếu hoặc mất giá như đã thấy trong quý đầu tiên của năm 2018 khi lạm phát là 1,03% với tỷ giá hối đoái là 9.173,73 IDR / USD Để quản lý các dòng vốn biến động và tạo ra một vùng đệm chống lại các cú sốc bên ngoài có thể xảy ra, việc tiếp tục linh hoạt tỷ giá hối đoái kết hợp với dự trữ ngoại hối tích lũy là điều cần thiết Dự trữ ngoại hối của Indonesia đã tăng nhanh chóng từ 51,6 tỷ USD năm 2008 lên gần 150 tỷ USD vào năm 2021 Điều này cho phép Indonesia giảm bớt tình trạng xấu đi của các điều kiện tài chính quốc tế trong tương lai gần.

Biểu đồ 2.16: Tỷ giá hối đoái trung bình của IDR/USD

Đánh giá tổng quan về kinh tế Indonesia

3.1 Lịch sử phát triển kinh tế Indonesia qua các giai đoạn

Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã mang lại một mức độ kỷ lục cho chính sách kinh tế nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợ nước ngoài, và thu hút đầu tư cũng như viện trợ từ nước ngoài Indonesia là thành viên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thập niên 1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980, Đầu tư nước ngoài đổ vào Indonesia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và định hướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Indonesia phát triển với tốc độ trung bình trên 7%.

Indonesia là nước chịu tác động mạnh nhất từ cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997–1998 Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từ khoảng 2.000 Rp tới 18.000 Rp, và nền kinh tế giảm 13,7% Từ đó đồng Rupiah đã ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/dollar, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phục kinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậm chạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm 1998 đã ảnh hưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh tế Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Indonesia đứng hạng 143 trên 180 nước trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng của họ Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, Indonesia có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ. Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp, và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày, và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%

Kể từ cuộc khủng hoảng châu Á, kết quả tăng trưởng tương đối mạnh mẽ của Indonesia đã đi kèm với sự biến động sản lượng giảm Đáng chú ý, tăng trưởng kinh tế ở Indonesia chỉ chậm lại vừa phải trong thời kỳ suy thoái toàn cầu 2008-2009 Năm

2012 đến năm 2013, sự sụt giảm nhẹ là do nền kinh tế thế giới suy yếu, bị bao phủ bởi sự không chắc chắn và hoạt động xuất khẩu giảm sút Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế đã được hỗ trợ nhiều hơn bởi nhu cầu trong nước vẫn mạnh Năm 2014 cũng là một năm đầy thách thức do điều kiện kinh tế toàn cầu diễn biến khá xấu, nhìn từ sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm 2016, ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 3,362 đô la, và GDP trên đầu người theo sức mua tương đương (PPP) là12,422 (đô la quốc tế) Năm 2019, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia ước khoảng 1.112 tỷ đô la (3.585 tỷ đô la theo PPP), đứng thứ 16 thế giới, đứng thứ 5 châu Á và đứng số 1 Đông Nam Á Một sự sụt giảm rất lớn là vào năm 2020, nơi tăng trưởng kinh tế của Indonesia giảm rất mạnh so với năm 2019 do tác động của đại dịch Covid-19 đối với hoạt động kinh tế và doanh số bán hàng hóa hoặc dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực đều giảm với tốc độ khác nhau.

3.2 Tổng quan kinh tế của Indonesia (2016-2021)

Indonesia, đất nước 270 triệu dân, là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á với GDP 1,1 nghìn tỷ USD vào năm 2019 Trong khi nền kinh tế suy thoái vào năm 2020, các nhà kinh tế dự đoán rằng nền kinh tế sẽ có một sự phục hồi mạnh mẽ vào cuối năm

2021, do sự lan tỏa tích cực từ nền kinh tế toàn cầu mạnh hơn và nhu cầu trong nước dần được cải thiện Đó là một nền dân chủ đang phát triển mạnh với quyền tự trị đáng kể trong khu vực Quốc gia này nằm trên một trong những tuyến đường thương mại lớn của thế giới và có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú được phân bổ trên diện tích rộng bằng Hoa Kỳ Lục địa và bao gồm hơn 17.500 hòn đảo.

3.2.1 Nông Lâm nghiệp và thủy sản

Tăng cường lĩnh vực nông nghiệp luôn là ưu tiên của chính phủ Indonesia Năm

2016, chính phủ đã nới lỏng các quy tắc đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này Trong quá khứ năm năm, nó hoạt động để cải thiện hệ thống tưới tiêu cơ sở hạ tầng, tăng trợ cấp cho nông dân cho hạt giống và phân bón, và được cung cấp hiện đại nông cụ để tăng năng suất Năm 2017, đầu tư vào lĩnh vực này cũng tăng tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm là 23 phần trăm Cho đến năm 2020, các số liệu sơ bộ cho thấy GDP từ nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt cá ở Indonesia vào khoảng 2,12 tỷ rupiah Indonesia Đến nay Indonesia là một nền kinh tế thị trường với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, dân số trẻ, đông và đang phát triển (277,7 triệu người), lực lượng lao động 135 triệu người vào năm 2022 và sự ổn định về chính trị Đất nước này đã thay đổi từ một nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp thành một nền kinh tế cân bằng hơn, giảm bớt sự phụ thuộc truyền thống vào xuất khẩu chính Ngành nông nghiệp đóng góp tới 13,7% GDP của cả nước và sử dụng 27,7% dân số hoạt động vào năm 2021. Indonesia là nước sản xuất cao su tự nhiên lớn thứ hai trên thế giới Các cây trồng chính khác bao gồm lúa, mía, cà phê, chè, thuốc lá, dầu cọ, dừa và gia vị Diện tích đất của Indonesia được sử dụng cho nông nghiệp ngày càng tăng, và hiện là khoảng 30%. Điều này chủ yếu là do việc thiết lập các đồn điền quy mô lớn - đặc biệt là để sản xuất dầu cọ (xuất khẩu lớn thứ hai).

Là quốc gia có quần đảo lớn nhất trên toàn cầu, với hơn 13 nghìn hòn đảo, Indonesia rất giàu tài nguyên biển Indonesia nằm trong số 5 nước sản xuất thủy sản và nuôi trồng thủy sản hàng đầu trên thế giới Ngành nuôi trồng thủy sản của Indonesia tăng trưởng mạnh mẽ trong thập kỷ qua, riêng năm 2017 đạt 6,2 triệu tấn và chỉ xếp sau Trung Quốc và Ấn Độ về sản lượng Từ các sản phẩm thủy sản được xuất khẩu bởi các nhà nhập khẩu, tôm là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Indonesia ra thế giới Năm

2018, tôm đóng góp ngoại tệ 1,3 tỷ USD, tương đương 36,96% tổng giá trị xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu tôm lớn của Indonesia không thể tách rời các nước nhập khẩu, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan và Trung Quốc là những thị trường chính tiêu thụ sản phẩm tôm của Indonesia Vào năm 2020, ngành thủy sản và đánh bắt cá đóng góp 2,8% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia Indonesia là nhà sản xuất cá lớn thứ hai thế giới sau Trung Quốc và ngành đánh bắt cá ngừ của nước này là một trong những ngành lớn nhất và có năng suất cao nhất trên toàn thế giới Ngành nuôi trồng thủy sản đóng góp tương đương 1,94 triệu USD doanh thu nhà nước ngoài thuế cho năm tính đến tháng 11 năm 2021, cao hơn nhiều so với con số mục tiêu là 1,39 triệu đô la, theo Bộ.

Với diện tích đất, dân số và nền kinh tế lớn nhất ở Đông Nam Á, Indonesia đang chuẩn bị trở thành cường quốc công nghiệp của khu vực Sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên trong lịch sử đã khiến ngành công nghiệp của nước này tụt hậu so với các công ty cùng ngành trong khu vực là Thái Lan, Malaysia và Việt Nam về xuất khẩu, ngay cả khi quốc gia này tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng GDP mạnh mẽ Các chính sách quan liêu và bảo hộ quá mức đã tiếp tục cản trở sự phát triển của xuất khẩu sản xuất, góp phần khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm hai con số trong quý 3 năm 2018, cũng như thâm hụt thương mại kéo dài của đất nước Tuy nhiên, các cải cách đang được tiến hành và Indonesia đã đạt được mức tăng trưởng GDP 5,1% trong năm 2018, trong đó cả lĩnh vực sản xuất nhẹ và nặng đều tăng Các ước tính cho thấy đóng góp của ngành sản xuất vào GDP ở mức 20,5%, không thấp hơn nhiều so với mức ở hầu hết các nền kinh tế công nghiệp hóa.

Cho đến nay ngành công nghiệp đóng góp khoảng 38,3% GDP và sử dụng22,7% lực lượng lao động vào năm 2021 (Ngân hàng Thế giới, 2022) Lĩnh vực công nghiệp bao gồm sản xuất hàng dệt may, xi măng, phân bón hóa học, sản phẩm điện tử,săm lốp cao su, quần áo và giày dép (hầu hết trong số này dành cho thị trường Mỹ).Chế biến gỗ cũng là một hoạt động chính vì quốc gia này là một trong những nhà sản xuất gỗ lớn nhất thế giới Indonesia là quốc gia châu Á duy nhất đã là thành viên củaOPEC, mặc dù tư cách thành viên của nó đã bị đóng băng kể từ tháng 12 năm 2017 do nước này không đồng ý cắt giảm sản lượng do OPEC yêu cầu

Du lịch và lữ hành, dầu cọ, than đá, ô tô, cao su, khoáng sản, dệt may và da giày là những ngành công nghiệp chính của Indonesia Ngành sản xuất chiếm 39,39% trong khi ngành dịch vụ chiếm 43,61% GDP vào năm 2017 Năm 2017, xuất khẩu ngành Dịch vụ cho Indonesia đạt 24,8 tỷ USD Xuất khẩu điện tử đạt 10,8 tỷ USD, máy móc đạt 9,70 tỷ USD, phương tiện đi lại đạt 7,77 tỷ USD, hóa chất đạt 18,8 tỷ USD, khoáng sản đạt 42,3 tỷ USD, dệt may đạt 22,6 tỷ USD và nông nghiệp đạt 52,4 tỷ USD vào năm 2017

Trong đó kể đến khu vực dịch vụ (các tổ chức tài chính, giao thông vận tải và thông tin liên lạc) đóng góp tới 44,4% GDP và sử dụng 49,6% dân số hoạt động vào năm 2021 (Ngân hàng Thế giới, 2022) Lĩnh vực ngân hàng đang phát triển tốt và ngân hàng Hồi giáo Syaria đã mở rộng nhanh chóng trong những năm gần đây Du lịch là một nguồn thu chính, mặc dù lĩnh vực này đã phải hứng chịu các mối đe dọa khủng bố và thảm họa thiên nhiên trong vài năm qua Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2019, cả nước đã đón 13,6 triệu lượt khách, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2018 (số liệu của Bộ

Du lịch) Chính phủ kỳ vọng đất nước sẽ trở thành điểm đến du lịch hàng đầu Châu Á và Thế giới vào năm 2045 với 73 triệu khách du lịch Kể từ năm 2020, quốc gia này đang chờ đợi biên giới thế giới mở cửa trở lại để đi lại quốc tế. Đại dịch COVID-19 đã có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu kể từ năm

2020 Tuy nhiên, sự phục hồi toàn cầu vẫn tiếp tục, ngay cả khi động lực đã suy yếu vào cuối năm 2021 và sự không chắc chắn gia tăng khi đại dịch bùng phát trở lại, để lại những dấu ấn lâu dài đối với hiệu suất kỳ hạn Tác động của đại dịch dường như đã ảnh hưởng đến cả hai phía của hầu hết các lĩnh vực và thị trường ở Indonesia trong năm thứ hai liên tiếp - gián đoạn nhu cầu do các vấn đề cung cấp - khiến triển vọng ngắn hạn không chắc chắn đối với các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.

Bảng 3.1: Phân tích hoạt động kinh tế theo ngành Indonesia

Phân tích hoạt động kinh tế theo ngành

Việc làm theo ngành (tính theo% tổng số việc làm)

Giá trị Gia tăng (tính bằng% GDP) 13,7 38.3 44.4

Giá trị gia tăng (% thay đổi hàng năm) 1,8 -2,8 -1,4

(Nguồn: Ngân hàng thế giới)

3.2.4 Xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ

SO SÁNH KINH TẾ GIỮA INDONESIA VÀ SINGAPORE

Ngày đăng: 14/04/2022, 07:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w