Năm 1966, Liên hiệp quốc đã thông qua Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa ICESCR và là một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế, cùng với Tuyên ngôn Quốc tế ước được đặt dưới s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI : TÌM HIỂU VỀ CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ,
VĂN HÓA, XÃ HỘI NĂM 1966
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Luật Quốc tế
Mã phách:
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Kết cấu của bài tập lớn 2
PHẦN NỘI DUNG 3
I LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA NĂM 1966 3
1.1 Lịch sử ra đời của Công ước 3
1.2 Tình trạng tham gia công ước 3
II NỘI NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA NĂM 1966 5
2.1 Tóm tắt nội dung công ước 5
2.2 Các nguyên tắc căn bản trong việc thực thi Công ước 6
2.3 Các quyền cụ thể trong công ước 9
III CƠ QUAN GIÁM SÁT THỰC THI CÔNG ƯỚC 18
3.1 Nhóm công tác theo phiên họp về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa tại ECOSOC (1978 ‐ 1985) 18
3.2 Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (CESCR) 18
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân
sự, chính trị (International Covenant on Civil and
Political Rights)
ECOSOC Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên
Hợp Quốc (The United Nations Economic and
Social Council)
Quốc (The United Nations
Commission on Human Rights)
CESCR Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (Committee
on Economic, Social and Cultural
Rights)
UDHR Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền,
1948 (Universal Declaration of Human
Rights)
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất được thừa nhận
chung bởi nền văn minh nhân loại, thể hiện ước mơ, khát vọng cháy bỏng và
sự quyết tâm đấu tranh để giành, giữ lấy của con người xuyên suốt cả chiều dài lịch sử Do đó, quyền con người luôn thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các nhà nước, thiết chế, tổ chức và cộng đồng, ngày càng có vị trí nổi bật
chính: nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và nhóm quyền dân sự, chính trị Việc phân loại các quyền con người thành hai nhóm quyền dân sự, chính trị
và kinh tế, xã hội, văn hóa xuất phát từ nhận thức cho rằng có sự khác nhau
về đặc điểm và những yêu cầu trong bảo đảm hai nhóm quyền này Trong đó, các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa có vị trí quan trọng, là một bộ phận cơ bản, thiết yếu trong tổng thể quyền con người
văn hóa trở thành mối quan tâm chung của toàn cộng đồng quốc tế, trở thành những giá trị cơ bản mà mỗi nhà nước hướng tới nhằm thu hút đông đảo công dân tham gia sâu hơn vào đời sống chính trị của mỗi nước, từ đó góp phần thúc đẩy dân chủ và tiến bộ trên toàn thế giới Năm 1966, Liên hiệp quốc đã thông qua Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) và là một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế, cùng với Tuyên ngôn Quốc tế
ước được đặt dưới sự giám sát của Ủy ban các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn
hóa Trong ICESCR năm 1966, nội dung các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà
ở, quyền giáo dục, quyền được bảo đảm mức sống phù hợp, quyền nghiên cứu
Trang 5khoa học, phát minh, sáng chế… Để có cái nhìn sâu rộng về những vấn đề, nội dung được quy định trong công ước, em lựa chọn đề tài “ Tìm hiểu về Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 ” làm nội dung nghiên cứu của bài tập lớn
2 Kết cấu của bài tập lớn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bài tập lớn được chia thành ba nội dung chính:
I Lịch sử ra đời và phát triển của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
xã hội, văn hóa năm 1966
II Nội nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966
III Cơ chế giám sát thực thi Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
I LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC
TẾ VỀ CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA NĂM 1966 1.1 Lịch sử ra đời của Công ước
Quá trình xây dựng Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được bắt đầu từ những ý tưởng đầu tiên về một Bộ luật quốc tế về nhân quyền được đặt nền móng trong Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, tức
được giao trách nhiệm soạn thảo và hoàn thiện nó Mới đầu trong quá trình soạn thảo, bản thảo được chia nhỏ thành một tuyên ngôn về các quyền con người tổng quát và một bộ quy tắc ràng buộc các bên tham gia ký Cái đầu tiên sau này trở thành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948
Bộ các quy tắc được tiếp tục soạn thảo, nhưng lại nảy sinh nhiều bất đồng giữa các thành viên Liên Hợp Quốc về sự tương quan mức độ quan trọng của các quyền dân sự và chính trị đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, dẫn đến việc bộ quy tắc bị phân ra thành hai bộ nhỏ, "một cái chứa các quyền dân sự và chính trị, và cái kia chứa các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa" Hai
bộ nhỏ này, gọi là hai Công ước, tiếp tục được hoàn thiện tới mức bao quát và đầy đủ nhất có thể, và sau đó được đưa ra cho các thành viên ký cùng lúc Mỗi Công ước đều chứa một điều khoản quy định quyền tự quyết của mọi dân tộc
Như vậy, Bộ quy tắc thứ nhất trở thành Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, trong khi cái thứ hai trở thành Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa Cả hai bản thảo công ước được đưa ra thảo luận tại cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1954, và được chấp thuận vào năm 1966
1.2 Tình trạng tham gia công ước
Trang 7Sau khi được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và mở cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2200A ngày 16/12/1966, ICESCR
đã có hiệu lực từ ngày 03/01/1976 theo Điều 27 của công ước Các quốc gia đầu tiên phê chuẩn công ước này là: Australia, Barbados, Belarus, Bulgaria, Chile, Colombia, Costa Rica, Cyprus, Đan Mạch, Đức, Hungary, Iran, Iraq,
Jamaica, Jordan, Kenya, Lebanon, Cộng hòa Ảrập Libi, Madagascar, Mali, Mauritius, Mông Cổ, Liên bang Nga, Na Uy, Phần Lan, Philippines,
Romania, Rwanda, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Tiệp Khắc, Tunisia, Ukraine và Uruguay Tính đến 01/5/2012, tổng cộng có 70 nước đã ký công ước, tuy nhiên vẫn còn một số nước, bao gồm Camoros, Cuba, Sao Tome and Principe, Nam Phi và Hoa Kỳ mặc dù đã ký nhưng vẫn chưa phê chuẩn Công ước 160 quốc gia đã phê chuẩn hoặc gia nhập (có tư cách thành viên) Việt Nam gia
nhập công ước vào ngày 24/9/1982
Đến tháng 5/2012, trong số 160 quốc gia thành viên Công ước có 15 nước có tuyên bố bảo lưu một số điều khoản của Công ước khi gia nhập Các điều có bảo lưu nhiều nhất là Điều 7(d) (chế độ nghỉ ngơi và nghỉ lễ có hưởng lương), Điều 8 khoản 1 (quyền về công đoàn và quyền đình công) và Điều 13 khoản 2 (quyền về giáo dục phổ cập tiểu học miễn phí và bắt buộc, từng bước cung cấp giáo dục trung học và giáo dục bậc cao miễn phí) Trong khi các công ước nhân quyền sau này thường quy định thủ tục riêng cho việc bảo lưu, trong khi đó ICESCR không có thủ tục nào áp dụng với các bảo lưu
Trang 8II NỘI NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC
QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA NĂM 1966
2.1 Tóm tắt nội dung công ước
Công ước dựa theo cấu trúc của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và
Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, gồm có lời mở đầu và
31 điều nằm trong 5 phần
Mở đầu Công ước là lời khẳng định chân lý bất di bất dịch rằng việc công nhận những phẩm giá vốn có và quyền bình đẳng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới
Do vậy, các quốc gia hội viên có trách nhiệm công nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của mọi cá nhân, cụ thể như sau:
Phần thứ nhất của ICESCR đề cập đến quyền tự quyết của các dân tộc Phần này nằm trọn vẹn trong một điều (Điều 1) và có nội dung giống Phần thứ nhất (Điều 1) của ICCPR
Phần thứ hai của Công ước bao gồm các Điều 2, 3, 4 và 5 Các điều này quy định về nghĩa vụ chung của các quốc gia thành viên công ước Nó quy định các quyền được công nhận mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các thân trạng khác
Phần thứ ba của Công ước bao gồm các Điều từ 6 đếnb15, quy định về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Đây cũng chính là phần trọng tâm của Công ước
Phần thứ tư của Công ước bao gồm các Điều từ 16 đến 25 Phần này tập trung quy định về cơ chế bảo đảm thực thi ICESCR Cơ chế này bao gồm việc báo cáo của quốc gia thành viên, vai trò của ECOSOC, CHR và các tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc cũng như mối quan hệ điều phối trong bộ máy Liên Hợp Quốc có liên quan đến Công ước
Trang 9Phần thứ năm của Công ước bao gồm các Điều từ 26 đến 31, quy định các vấn đề về thủ tục, cụ thể như việc ký kết, tham gia, thời điểm có hiệu lực, việc áp dụng trong các nước liên bang, việc sửa đổi, ngôn ngữ thể hiện của Công ước
2.2 Các nguyên tắc căn bản trong việc thực thi Công ước
2.2.1 Bình đẳng và không phân biệt đối xử
Đây là hai nguyên tắc căn bản và song hành trong luật nhân quyền và nó được tái khẳng định trong nội dung của ICESCR cũng như trong cách tiếp cận của CESCR khi giám sát việc thực thi Công ước
Bình đẳng được nêu trong Lời dẫn của ICESCR như một nguyên tắc căn bản và được nhắc lại trong nội dung một số điều khoản của Công ước, cụ thể như Điều 3 (về quyền bình đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa) ICESCR không đưa ra một định nghĩa về bình đẳng,
nhưng coi việc đảm bảo bình đẳng trong thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa cụ thể ở một mức cơ bản tối thiểu là một nghĩa vụ của các quốc gia thành viên
Song hành với nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc không phân biệt đối
xử Điều 2 khoản 2 ICESCR nhấn mạnh nguyên tắc không phân biệt đối xử dựa trên bất kỳ nền tảng nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
sản, xuất thân hoặc địa vị ICESCR cũng đưa ra tám yếu tố nền tảng của phân biệt đối xử bị cấm, đó là: Sắc tộc và màu da; giới tính; ngôn ngữ; tôn giáo; quan điểm chính trị; nguồn gốc dân tộc và xã hội; tài sản và nguồn gốc sinh thành
Hai nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đòi hỏi các quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ ngay lập tức thực thi các biện pháp hạn chế và xóa bỏ sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử, bao gồm các biện pháp về thể chế (ban hành các quy định pháp luật), các biện pháp can thiệp (bằng chính
Trang 10sách và các chương trình xã hội) cũng như các biện pháp theo dõi và giám sát tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử Hai nguyên tắc này cũng đòi hỏi các quốc gia thành viên phải thực thi “các biện pháp đặc biệt tạm thời” để bù đắp cho các nhóm thiệt thòi, tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho những nhóm này cho đến khi đạt được sự bình đẳng trên thực tế
2.2.2 Liên tục, tiến bộ
Nguyên tắc liên tục tiến bộ trong việc thực thi các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa được nêu tại Điều 2 khoản 1 ICESCR như sau: “ Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tự mình và thông qua sự hợp tác, giúp đỡ quốc
tế để thực hiện từng bước mọi biện pháp thích hợp, với tối đa nguồn lực sẵn
có, nhằm tiến bộ liên tục trong việc đảm bảo ngày càng đầy đủ các quyền được công nhận trong Công ước ”
Nếu như Điều 2 khoản 2 ICESCR quy định về nguyên tắc không phân biệt đối xử có thể coi là tương đồng với quy định ở Điều 2 khoản 1 của
ICCPR thì quy định nêu trên có thể coi là nghĩa vụ mang tính đặc thù của ICESCR Nghĩa vụ này được xác lập trên cơ sở nhận định rằng đặc thù của các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là việc thực thi đầy đủ các quyền này là một quá trình có tính đến các điều kiện khác biệt về kinh tế, xã hội và văn hóa khác nhau cũng như khả năng khác nhau về nguồn lực của các quốc gia
2.2.3 Các nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ
Khái niệm “nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ” chính thức lần đầu tiên được đưa ra tại Phiên thảo luận chung về quyền có lương thực của CESCR, tại kỳ họp thứ ba của Ủy ban năm 1989 và trong báo cáo về “Quyền có lương thực thích đáng như một quyền con người” của Asbjørn Eide Năm 1997, các nghĩa vụ “tôn trọng, bảo vệ và hỗ trợ” được ghi nhận như là nghĩa vụ chung cho các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa trong Hướng dẫn Maastricht về việc
bỏ giới hạn phạm vi thực hiện nghĩa vụ hỗ trợ với một nhóm đối tượng cụ thể như trong đề xuất ban đầu của A.Eide và đưa vào biện pháp thực thi nghĩa vụ
Trang 11này của các nhà nước theo nguyên tắc liên tục tiến bộ tiến đến hiện thực hóa đầy đủ các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
2.2.4 Khái niệm “thích đáng” và các khía cạnh “sẵn có, tiếp cận được, chất lượng và phù hợp” trong việc thực thi các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Khái niệm “thích đáng” được sử dụng trực tiếp trong ICESCR tại Điều 10.2 (phúc lợi an sinh xã hội thích đáng), Điều 11.1 (mức sống thích đáng, lương thực, quần áo và nhà ở thích đáng) và Điều 13.3 (hệ thống học bổng
đáng” đã được lựa chọn giữa các khái niệm như “phù hợp” hay “tươm tất”,
cạnh “sẵn có”, “tiếp cận được”, “chất lượng” và “phù hợp” lần đầu tiên được ICESCR giải thích trong Bình luận chung số 4 về quyền có nơi cư trú thích đáng, sau đó được sử dụng trong Bình luận chung số 12 về quyền có lương thực thích đáng, Bình luận chung số 13 về quyền về giáo dục,…
Ngay trong quá trình soạn thảo, ICESCR đã có nhiều ý kiến nhấn mạnh rằng việc thực thi các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa phụ thuộc vào bối
việc thực thi các quyền này ở các nước là khác nhau Vì vậy, có thể coi các khái niệm “thích đáng” và các khía cạnh “sẵn có, tiếp cận được, chất lượng và phù hợp” của các quyền trong Công ước được CESCR đưa ra như là các nguyên tắc định tính cho quá trình thực thi những quyền này
2.2.5 Chú trọng đến các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương
Nguyên tắc này được thể hiện rõ ràng trong các Bình luận chung và
Hướng dẫn báo cáo của CESCR với cơ sở là để đảm bảo bình đẳng trong việc thụ hưởng các quyền trong Công ước giữa các nhóm yếu thế và phần còn lại của xã hội thường có ưu thế hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng các quyền
Trang 12Bình luận chung số 3 về bản chất các nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Ngay cả trong trường hợp nguồn lực sẵn có bị hạn chế, các quốc gia thành viên vẫn phải đảm bảo nghĩa vụ tối thiểu cơ bản này “bằng cách đưa ra những chương trình chi phí thấp dành riêng cho những thành viên dễ bị tổn thương
cụ thể để thực hiện nghĩa vụ của các quốc gia thành viên với các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương, bao gồm các biện pháp mang tính bảo vệ (nghĩa vụ bảo vệ) và các biện pháp mang tính cung cấp và hỗ trợ (nghĩa vụ hỗ trợ)
2.3 Các quyền cụ thể trong công ước
Các quyền cụ thể quy định trong phần thứ ba của Công ước, từ Điều 6
2.3.1 Quyền làm việc
Quyền làm việc được quy định trong Công ước không đơn thuần là quyền
sống có nhân phẩm Điều 6 Công ước nhấn mạnh khía cạnh cá nhân của
quyền làm việc, Điều 7 xác định quyền của mỗi cá nhân được thụ hưởng điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, còn Điều 8 quy định các khía cạnh tập thể của quyền làm việc, cụ thể là quyền tham gia công đoàn, quyền của các công đoàn và quyền đình công
Trong Bình luận chung số 18, Ủy ban giải thích rằng: “Quyền làm việc không nên được hiểu là một quyền có việc làm tuyệt đối và vô điều kiện” mà
là “quyền có mỗi người được quyết định tự do chấp nhận và lựa chọn việc làm” Điều này hàm ý cá nhân có quyền từ chối công việc không mong muốn (ví dụ, công việc có tính chất cưỡng bức…) và không bị đuổi việc một cách