1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH lạm PHÁT của VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn 2006 2010 và PHÂN TÍCH các BIỆN PHÁP mà CHÍNH PHỦ sử DỤNG để KIỂM SOÁT lạm PHÁT

23 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 201,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp vàkhông phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế.. Lạm phát là một vấn đềkhông phải xa lạ và là một đặc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG –

BẢO HIỂM 

BÀI THẢO LUẬN

BỘ MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ 1

ĐỀ TÀI SỐ 3:

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VÀ PHÂN TÍCH CÁC BIỆN PHÁP MÀ CHÍNH PHỦ SỬ DỤNG ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM

PHÁT LỚP HP:22103MAEC0111

NHÓM 8_TNA

Trang 2

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN

Trang 3

download by : skknchat@gmail.com

Trang 4

MỤC LỤC

Lời mở đầu 4

A Lý thuyết tổng quan về lạm phát 5

I) Khái niệm lạm phát là gì 5

II) Nguyên nhân gây ra lạm phát 5

III) Hậu quả của lạm phát 7

B Thực trạng 8

I) Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010 8

C Giải pháp thực tế và đánh giá 16

I) Một số giải pháp của chính phủ 16

II) Phân tích một vài giải pháp cụ thể của chính phủ 17

Kết luận 22

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề cơ bản và lớn trong kinh tế vĩmô Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp vàkhông phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế Lạm phát là một vấn đềkhông phải xa lạ và là một đặc diểm của nền kinh tế hàng hoá và ở mỗi thời kì kinhtế với các mức tăng trưởng kinh tế khác nhau sẽ có những mức lạm phát phù hợp.Do vậy vấn đề lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế là mộtđề tài rất hấp dẫn.

Lạm phát ở Việt Nam đang nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế Sau hơn một thập kỷ lạm phát ở mức vừa phải , hiện nay lạm phát ở nước ta đang ở mức cao , đặc biệt là năm 2007 và 2008 và nó

đã và đang là “ kẻ phả hoại có tác động xấu đến các hoạt động kinh tế Nó như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đầu tư lớn về thời gian và trí tuế mới có thể mong muốn đạt kết quả khả quan Cùng với

sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, và nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước , việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò to lớn góp phần vào sự phát triển đất nước, đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới

có thể mong muốn đạt kết quả khả quan Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế , và nuyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp.Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thìđương nhiên các giải pháp điều hành vĩ mô đưa ra

là nhằm nâng cao lạm phát củanền kinh tế nếu như chúng có quan hệ thuận với nhau và do vậy các giải pháp nhưcung ứng tiền, phá giá đồng nội tệ… sẽ được xem xét ở mức độ hợp lý Còn không,các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc các giải pháp vĩ mô để thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và yếu tố lạm phát trở thành thứ yếu Mặc dù vẫn phải duy trì mứcđộ kiểm soát Ở nước ta trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng,Trong sự nghiệp phát triển thị trường ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước việc nghiên cứu về lạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát có vai trò lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Vì vậy nhóm chúng em chọn đề tài “Phân tích tình hình lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 và phân tích các biện pháp mà chính phủ sử dụng để kiểm soát lạm phát”, để có thể nghiên cứu kỹ hơn về lạm pháp và các biện pháp của chính phủ để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam và qua đó nhóm em có thể rút ra các biện pháp khắc phục nhằm giảm lạm phát trong thời kỳ kinh tế mở và phát triển một các đồng bộ ở Việt Nam.

Trang 6

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, nhóm em kính mong nhận dược sự góp ý chân thành của cô và bạn đọc để đề tài được phát triển hoàn thiện hơn.

A LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT

I Khái niệm lạm phát là gì?

-Trong kinh tế vĩ mô , lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hànghóa và dịch vụ theo thời gianvà sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mứcgiá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn sovới trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền

tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của mộtquốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo nghĩa đầu tiên thìngười ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế mộtquốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tácđộng đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó.Phạm vi ảnh hưởng của haithành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô.-Lạm phát ảnh hưởng đến các nền kinh tế theo nhiều cách tích cực và tiêu cực khácnhau

-Việt Nam là một trong số ít quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao liên tục trong suốt mấy chục năm qua, ảnh hưởng rất nhiều đến việc ổn định giá trị của đồng tiền, hoạt động sản xuất, kinh doanh và tâm lý của ngưòi dân -Lạm phát có 2 loại sau đây:+Lạm phát dự kiến: Là loại lạm phát xuất hiện do yếu tố tâm lý, dự đoán của các

cá nhân về tốc độ tăng giá trong tương lai và lạm phát trong quá khứ Lạm phát dựkiến ảnh hưởng không lớn và chỉ tác động điều chỉnh chi phí sản xuất

+Lạm phát không dự kiến: Là loại lạm phát xuất hiện do các cú sốc từ bên ngoài vàcác tác nhân trong nền kinh tế không dự kiến được dẫn đến bị bất ngờ

II.Nguyên nhân gây ra lạm phát

1)Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo có nghĩa là khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào

đó tăng lên, sẽ kéo theo giá cả của mặt hàng đó cũng tăng theo Điều này khiến giá

Trang 7

cả của nhiều mặt hàng khác cũng “leo thang” Giá trị của đồng tiền vì thế bị mấtgiá, người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để mua một hàng hóa hoặc sử dụngmột dịch vụ.

Ở Việt Nam ví dụ điển hình cho tình trạng lạm phát do cầu kéo có thể kể đến nhưgiá xăng tăng lên kéo theo giá cước taxi tăng lên, giá thịt lợn tăng, giá nông sảntăng

2)Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào,máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phísản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, điều này khiến doanh nghiệp buộc phảităng giá thành sản phẩm nhằm bảo toàn lợi nhuận Và cuối cùng dẫn đến mức giáchung của toàn thể nền kinh tế tăng lên Đây gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”

3) Lạm phát do cơ cấu

Với các ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công “danhnghĩa” cho người lao động Còn có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quảnhưng doanh nghiệp vẫn buộc phải tăng tiền công cho người lao động

Tuy nhiên, vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả nên khi phải tăngtiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sảnphẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát

4)Lạm phát do cầu thay đổi

Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu

về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền vàgiá cả có tính chất cứng nhắc (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng màlượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thìlại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát

5)Lạm phát do xuất khẩu

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụlượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩukhiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước)khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung và tổng cầu mất cânbằng sẽ nảy sinh lạm phát

6)Lạm phát do nhập khẩu

Trang 8

Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thếgiới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mức giá chung

bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát

III.Hậu quả của lạm phát

Lạm phát có những tác động đến nền kinh tế của một đất nước theo nhiều mặt gồm

cả tích cực và tiêu cực Trong đó:

1.Về mặt tích cực

Khi tốc độ lạm phát vừa phải, từ 2 - 5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đang phát triển sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế như sau: Kích thíchtiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm bớt thất nghiệp trong xã hội

Giúp chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vàonhững lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thunhập và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảngthời gian nhất định có chọn lọc

2.Về mặt tiêu cực

Lạm phát tác động lên lãi suất

Đây là sự tác động tiêu cực nhất của lạm phát Khi lạm phát tác động trực tiếp lênlãi suất sẽ dẫn đến việc ảnh hưởng đến các yếu tố khác của nền kinh tế Nhằm duytrì hoạt động ổn định, ngân hàng cần ổn định lãi suất thực Do đó khi tỷ lệ lạm pháttăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn định và thực dương thì lãi suất danh nghĩaphải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả

mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng

Lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập thực tế

Giữa thu nhập thực tế và thu nhập danh nghĩa của người lao động có quan hệ vớinhau qua tỷ lệ lạm phát Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thayđổi thì làm cho thu nhập thực tế của người lao động giảm xuống

Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của những tài sản không có lãi mà nó cònlàm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức là làm giảm thu nhập thực từ cáckhoản lãi, các khoản lợi tức Đó là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên

cơ sở của thu nhập danh nghĩa Khi lạm phát tăng cao, những người đi vay tăng lãisuất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao mặc dù thuế suất vẫn không tăng

Trang 9

Từ đó, thu nhập ròng (thực) của của người cho vay bằng thu nhập danh nghĩa trừ đi

tỉ lệ lạm phát bị giảm xuống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế xã hội Như suythoái kinh tế, thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao động trở nên khó khănhơn sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ

Lạm phát khiến phân phối thu nhập không bình đẳng

Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình

vơ vét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làmmất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hànghoá cũng lên cơn sốt cao hơn

Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trở nên khốn khó hơn Họthậm chí không mua nổi những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu, trong khi đó, những

kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hoá và trở nên càng giàu có hơn Tình trạng lạmphát như vậy sẽ có thể gây những rối loạn trong nền kinh tế và tạo ra khoảng cáchlớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và người nghèo

Lạm phát tác động đến khoản nợ quốc gia

Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn Chính phủ được lợitrong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giágiá tăng và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nướcngoài tính trên cá khoản nợ

Tóm lại, lạm phát là căn bệnh mãn tính của nền kinh tế thị trường, nó vừa có táchại lẫn lợi ích Khi nền kinh tế có thể duy trì, kiềm chế và điều tiết được lạm phát ởtốc độ vừa phải thì nó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Ảnh hưởng nhiều nhất đến mức lạm phát là giá thực phẩm (9%), nhà ở, vật liệu xây cất (9.8%), chuyên chở - dịch vụ viễn thông (7.9%), hàng dệt may (6.1%) theo

số liệu cho tháng 8, 2006 của Tổng Cục Thống Kê Việt-Nam Hơn nữa nhà nước tăng lương bổng của khu vực công và mức lương tối thiểu của công nhân lên

khoảng 40% bắt đầu có hiệu qủa vào 1/4/2006

- Một điều đáng chú ý là giá xăng dầu tăng nhưng không ảnh hưởng nhiều đến mức

Trang 10

thực phẩm (50%) trong công thức tính chỉ số tiêu thụ Lý do thứ hai là nhà nước vừa giảm thuế nhập cảng lại vừa dùng biện pháp hành chánh để kìm giá xăng dầu Trong khi nhà nước tăng giá 9 lần từ cuối năm 2003 đến tháng 8, 2006, xăng dầu ởViệt-Nam vẫn rẻ hơn so với giá thị trường quốc tế.

- Từ đầu năm 2006, nhà nước Việt-Nam dự trù giảm hay bãi bỏ bao cấp giá đối vớimột số sản phẩm như xăng dầu và than Tuy nhiên nhà nước không chủ trương thả nổi hoàn toàn giá cả mà vẫn kiểm soát giá đối với những sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế như gạo, đường và thép Chính sách này ngày càng khó áp dụng vì sau khi hội nhập với thị trường quốc tế, Việt-Nam giảm thuế nhập cảng và phải đối phó với ngân sách thiếu hụt có thể xẩy ra

- Để ngăn chặn lạm phát, Ngân Hàng Nhà Nước Việt-Nam kể từ tháng 6/2006 đãgiảm tỉ lệ gia tăng tín dụng xuống còn 21% và gia tăng dự trữ ngoại tệ từ 9.8 vàonăm 2005 lên lên 11.2 tuần lễ trị giá hàng nhập cảng

- Lạm phát cao là một trong những rủi ro cho sự phát triển kinh tế Lạm phát giatăng sẽ kéo theo lãi xuất và và chi phí sản xuất Hậu qủa là sự gia tăng đầu tư sẽbớt vì tiền lời cao và giảm bới khả năng cạnh tranh của hàng xuất cảng Giới nghèovới đồng lương cố định sẽ chịu nhiều thiệt thòi hơn cả

2 Năm 2007

- Hầu hết 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng vào năm 2007 Điều đó chứng tỏ, bên cạnh những yếu tố mang tính khách quan (như giá cả quốc tế, một sốmặt hàng bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, ) thì không thể không có yếu tố tiền tệ, không thể không có nguyên nhân từ việc điều hành chính sách tiền tệ - một điều mà các nhà hoạch định chính sách của một số cơ quan chức năng, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính vẫn cứ muốn "đẩy trách nhiệm" cho nguyên nhân khách quan

- Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất (tháng 12 tăng tới 4,69%,

cả năm tăng tới 21,16%)

- Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng 12 tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%) Tình hình này tưởng rằng sẽ làm cho nông dân có lợi, nhưng đó chỉ là "được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa" - điệp khúc lặp đi lặp lại đối với người nông dân, một bộ phận đi trước nhất nhưng lại yếu thế nhất trong kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập

Trang 11

- Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%, cả năm tăng tới 17,12% (cao thứ hai sau nhóm thực phẩm).

- Thế là nhiều gia đình nếu trước đây sớm "tiến lên" đun nấu gas, dùng điện nhiều hơn thì nay "lùi lại" để đun than tổ ong, còn không khí có ô nhiễm hơn hay không thì đâu có ai nhìn thấy Giá vật liệu xây dựng tăng cao đã làm cho giá bất động sản tăng kép (tăng do giá đất tăng, tăng do giá xây dựng tăng), khác với các lần sốt trước chỉ có giá đất tăng Tình hình trên làm cho những người thu nhập thấp khó cókhả năng "cải thiện" nhà ở

- Giá phương tiện đi lại, bưu điện tháng 12 tăng 4,38%, nhưng nếu không kể giá bưu điện giảm (- 0,77%) thì giá phương tiện đi lại còn tăng cao hơn nữa, do giá xăng dầu tăng cao Đây mới là tháng 12 giá xăng dầu trực tiếp tăng (vào cuối tháng11), nhưng tác động dây chuyền đến các hàng hóa và dịch vụ khác trong thời gian tới sẽ còn rộng, lớn hơn nhiều

- Đáng lưu ý là tốc độ tăng giá tiêu dùng đã cao hơn nhiều so với lãi suất huy động tiết kiệm, nhất là lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại nhà nước (lãi suất cả năm chỉ dưới 8%); ngay các ngân hàng thương mại cổ phần có lãi suất trên dưới 9%/năm thì cũng thấp hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng

3 Năm 2008

- Tỷ lệ lạm phát đang ở mức cao nhất kể từ năm 1991, khi Việt Nam gặp khó khăn

về tài chính Các chuyên gia cảnh báo lạm phát trong cả năm 2008 có thể lên trên 30%, bộ Kế hoạch – Đầu tư Việt Nam dự đoán con số lạm phát cả năm sẽ vào khoảng 25%

- Theo thông tin của tổng cục thống kê, chỉ số lạm phát khởi điểm năm 2008 vớimức chỉ số CPI tháng 1 là 2.38% cho thấy dấu hiệu lạm phát tăng cao trong năm

2008, lạm phát bắt đầu tăng bất thường vào tháng 3/2008 tăng 2.99% ( tháng 2tăng 3.56% )

- Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ tháng này tăng mạnh đẩy giá lên là các nhóm hàng lương thực tăng 10.5%, phương tiện đi lại, bưu điện tăng 5.76%, nhà ở

và vật liệu xây dựng tăng 3.55%, các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng ở mức 0.3-1.5%

- Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2008 đã tăng thấp mức tăng của các tháng trước nhưng vẫn còn tăng và nhiều mặt hàng đang ở mức giá cao Giá cả thị trường diễn biến phức tạp Giá tiêu dùng tháng 5/2008 so với tháng trước tăng 3.59% tăng cao nhất trong 5 tháng đầu năm 2008

Ngày đăng: 14/04/2022, 06:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w