2 Lạm phát và kiểm soát lạm phát liên hệ Việt Nam A MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Việt Nam hiện là một quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng và phát triển tương đối nhanh so với các quốc gia khác trong khu vực Là một quốc gia hết sức năng động, Việt Nam luôn bắt kịp với các xu thế kinh tế mới trên thế giới, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ 4 0 như hiện nay đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá trình quốc tế h.
Trang 1Lạm phát và kiểm soát lạm phát liên hệ Việt Nam
A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam hiện là một quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng và phát triển tương đối nhanh so với các quốc gia khác trong khu vực Là một quốc gia hết sức năng động, Việt Nam luôn bắt kịp với các xu thế kinh tế mới trên thế giới, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ 4.0 như hiện nay đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, xã hội hóa nền kinh
tế Điều đó có ảnh hưởng nhất định tới nền kinh tế thị trường Việt Nam, dẫn tới tình trạng lạm phát xảy ra Để ổn định nền kinh tế vĩ mô đặt ra các vấn đề cấp bách và cấp thiết là kiểm soát được lạm phát, cải thiện các cân đối lớn của nền kinh tế trở thành mục tiêu quan trọng trong ổn định vứng chắc kinh tế thị trường trong giai đoạn 2016-2020
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
-Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề về lạm phát và biện pháp kiểm soát lạm phát tại Việt Nam
-Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Để tài nghiên cứu lạm phát và biện pháp kiểm soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020
Về không gian: Đề tài nghiên cứu lạm phát và biện pháp kiểm soát lạm phát của Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 2Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống những nội dung cơ bản về lạm phát trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đặc biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổn định
và phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn 2016-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như suy luận biện chứng, các quan
điểm,đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước, phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, khái quát hóa và hệ thống hóa, khoa học, hợp lí, đáng tin cậy, phù hợp với đề tài
5 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 04 phần chính:
Phần 1 : Cơ sở lý luận về lạm phát và cac cách kiểm soát lạm phát
Phần 2 : Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020
Phần 3 : Các giải pháp giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn tới
Phần 4 : Kết luận
Trang 3Phần 1 : Cơ sở lý luận về lạm phát và các cách kiểm soát lạm phát
1.1 Cơ sở lí luận về vấn đề lạm phát
1.1.1 Các khái niệm về lạm phát :
Khái niệm về lạm phát đã được hiểu theo nhiều cách hiểu khác nhau nhưng theo giáo trình của Học viện Tài Chính, lạm phát được phát biểu là sự tăng lên của mức giá chung bình theo thời gian
Lạm phát của nền kinh tế thị trường xuất hiện khi các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không được tôn trọng nhất là quy luật lưu thông tiền tệ Ở đâu sản xuất hàng hoá còn tồn tại những quan hệ hàng hoá tiền tệ thì ở đó còn tiềm ẩn khả năng xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của lưu thông tiền tệ bị vi phạm Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiêm cứu của các nhà kinh tế Mỗi ngời đều đặt ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm phương hướng nghiên cứu của mình
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng :"lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì dấu xăng xe ô tô tăng tiền long giá đất, tiền thuế t liệu sản xuất tăng “ Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả”
Còn Milton Friedman lại quan niệm khác : Lạm phát là việc giá
cả tăng nhanh và kéo dài “Ông cho rằng lạm phát là một hiện tợng tiền tệ Một số nhà kinh tế thuộc phải tiền tệ và phải
Keynes đều tán thành ý kiến đó của Friedman
Biểu hiện của lạm phát thông qua chỉ số giá:
Chỉ số giá được xác định theo công thức:
Trong đó: Ip là chỉ số giá cả chung
Trang 4iP là chỉ số giá cá thể của từng loại hàng, nhóm hàng.
d là tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại, từng nhóm hàng (Ʃ d =1)
Tỷ lệ lạm phát (gp) là chỉ tiêu phản ánh sự biến động của chỉ số giá chung giữa hai thời kỳ
Trong đó: gp là tốc độ tăng trưởng của mức giá chung
IP1: chỉ số giá cả chung của kỳ này IP0: chỉ số giá cả chung của kỳ trước 1.1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau -Căn cứ theo tỷ lệ lạm phát,chúng được phân thành ba cấp: Lạm phát vừa phải, Lạm phát phi mã và siêu lạm phát
Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và
có thể dự đoán được Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền,
họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm Mọi người sẳn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị
và chi phí của họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa
Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi
là lạm phát 2 hoặc 3 con số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh toán hằng ngày Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ Thị trường tài chính không ổn định ( do vốn chạy ra nước ngoài)
Trang 5Siêu lạm phát : tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ
sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức năng trao đổi Nền tài chính khủng hoảng (siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức
1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% và xảy ra ở Bolivia 1985 với 50.000%/năm)
- Căn cứ theo tỷ lệ lạm phát và độ dài thời gian thì lạm phát được chia thành lạm phát kinh niên,lạm phát nghiêm trọng,siêu lạm phát
1.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo
Khi mong muốn thị trường về một mặt hàng nào đấy tăng lên
sẽ khiến cái giá của mặt hàng đó tăng theo Giá
cả của những mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến
sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường
Khi thất nghiệp thấp, tương ứng với sản lượng cao Chính phủ tăng tổng cầu, mức giá tăng liên tục Lạm phát do sự tăng lên
về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”
Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp gồm có tiền lương, cái
giá nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành hàng hóa cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận Mức giá chung của tập
thể nền kinh tế tăng lên được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”
Lạm phát ỳ (giảm phát dự kiến, giảm phát mong đợi)
Khi mà giá cả chung của các hàng hoá và dịch vụ tăng liên tục đều đặn theo thời gian với 1 tỷ lệ tương đối ổn định
Phần 2 : Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020
Về ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, NHNN đã điều hành
chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm
Trang 6kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; thanh khoản của tổ chức tín dụng được đảm bảo
và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt
Về cơ bản, nền kinh tế thế giới từ năm 2016-2020 đã có những dấu hiệu tích cực hơn và có những tác động thuận lợi, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Việt Nam Bên cạnh đó các hiệp định thương mại như VN-EAEU FTA (Hiệp định Thương mại
Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu), AHKFTA (Hiệp định Thương mại tự do ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc)),
EVFTA(Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu), đã tạo đà thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ đồng thời cũng tạo ra các thách thức hòa nhập nhưng vẫn phải giữ được bản chất nền kinh tế thị trường
Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như cơ chế phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Chỉ số CPI bình quân năm giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm 2018; năm 2019, giảm còn 2,79%.Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn phải đối mặt với một số thách thức như tình hình kinh
tế thế giới diễn biến phức tạp, thời tiết đang là trở ngại lớn trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và việc kiểm soát lạm phát đang gặp nhiều thách thứ
Trong giai đoạn 2016- 2018, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia tăng (Fed 9 lần tăng lãi suất từ tháng 12/2015 đến tháng
12/2018, từ mức gần 0% lên mức 2,25-2,5%), NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng hợp lý
Như vậy, trong những năm gần đây, nợ xấu và nợ công ở mức cao đang là nguyên nhân dẫn đến đầu tư thấp, tăng trưởng thấp và lạm phát thấp tại Việt Nam
Do triển vọng xử lý nợ xấu, giảm nợ công, hạ lãi suất hiện vẫn chưa rõ ràng, có thể kỳ vọng, lạm phát trong thời gian tới sẽ tiếp tục thấp, xoay quanh mức khoảng 1%, nếu không có các
cú sốc lớn từ phía cung như giá dầu, giá lương thực, giá dịch vụ
y tế và giáo dục…
Trang 7Chỉ số lạm phát trong các năm liên tiếp từ 2017-2020 đều dưới 4%, mức lạm phát được kiểm soát tốt nhờ các chính sách kịp thời, không để nền kinh tế bị gián đoạn đứt gãy ngay cả trong thời kì dịch bệnh
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2016 -
2019 đạt khá cao, ở mức bình quân 6,8%/năm Mặc dù năm
2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới
Năm 2020 là một năm biến động khó lường, lạm phát tăng cao
ở những tháng đầu năm, việc nguồn cung một số mặt hàng thực phẩm thiết yếu, đặc biệt là nguồn cung thịt lợn giảm do dịch bệnh tả lợn Châu Phi đã đẩy giá nhóm thực phẩm tăng cao; ở chiều ngược lại, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu giảm nên giá xăng dầu năm 2020 giảm khá sâu Cùng với việc phối hợp chặt chẽ và linh hoạt trong công tác điều hành giá các mặt hàng do nhà nước quản lý và việc chỉ đạo triển khai tốt công tác bình ổn thị trường hàng hóa nên về cơ bản diễn biến lạm phát năm 2020 tương đối sát với
dự báo từ đầu năm, nằm trong kịch bản CPI tăng thấp
Bên cạnh đó, cuộc chạy đua điều chế vac-xin Covid 19 cũng khiến cho tình hình kinh tế chung có nhiều bất ổn, lạm phát là kịch bản hoàn toàn có khả năng diễn ra cao khi hàng hoạt các sản phẩm tiêu dùng đột ngột tăng giá mạnh và mức khan hiếm của các trang thiết bị thiết yếu
Ngoài ra, do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung trong tháng 10 và tháng 11 tác động làm cho diện tích rau màu ngập nặng, nhiều ao, hồ, chuồng trại bị hư hỏng, cuốn trôi,…làm cho giá rau tươi, khô và chế biến tăng Tuy nhiên, giá các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 23,03% so với năm trước (làm CPI chung giảm 0,83%); giá dầu hỏa giảm 31,21%; giá gas trong nước giảm 0,95% do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 6,24% so với năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm Chính phủ triển khai
Trang 8các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng nên giá điện tháng 5 và tháng 6 năm nay giảm lần lượt là 0,28% và 2,72% so với tháng trước,
Nhìn chung, tình hình mức giá chung tăng cao hơn cùng kì năm trước Nhưng dưới sự chỉ đạo, công tác quản lý điều hành sao sát của Chính Phủ đã đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% được Quốc hội đã đề ra
Phần 3 : Các giải pháp giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn tới Việc kiểm soát và giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn tới đặt ra nhiều thách thức cần phải đối mặt khi tình hình hình chung của kinh tế thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất toàn cầu do dịch bệnh và những bất ổn về chính trị ở nhiều nơi Trước tình hình đó, Việt Nam phải có những biện pháp sẵn sàng đối phó với các bài toán kinh tế cấp bách và kìm chế lạm phát tiếp tục là mục tiêu hàng đầu của Chính Phủ cần quan tâm Trong giai đoạn mới, việc hạn chế lạm phát nên
Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ mở rộng, hợp lý để duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát Thực hiện tốt các nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 Chính sách tài khóa đã tập trung hỗ trợ tạm thời cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình dễ bị tổn thương, trong khi chính sách tiền tệ được nới lỏng để duy trì thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng
Tiếp tục nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng góp phần thúc đẩy hiệu quả chu chuyển vốn trong nền kinh tế.Ngân hàng Nhà Nước xem xét điều chỉnh mức lãi suất trong trường hợp tình hình dịch vẫn diễn ra căng thẳng và tái bùng phát để hỗ trợ nền kinh tế
Phối hợp chặt chẽ với các Bộ,ban ngành chủ động nguồn hàng dự trữ không để tình trạng khan hiếm các mặt hàng cần thiết,vật tư y tế, lượng thực thực phẩm, và giá tăng đột biến gây hoang mang cho người tiêu dùng
Trang 9bệnh trong nước và quốc tế để chủ động điều hành đồng
bộ, linh hoạt các công cụ CSTT, phối hợp chặt chẽ với
chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình quân khoảng 4%, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối
Cần giám sát chặt chẽ những rủi ro tài chính và giải quyết kịp thời các khoản vay có vấn đề Các mục tiêu trung hạn cần bao gồm cải thiện khuôn khổ tái cơ cấu nợ khu vực tư nhân và cải thiện hơn nữa vốn của các ngân hàng trong bối cảnh áp dụng những quy định của Basel II
Theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống của người dân Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm
Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế, tháo gỡ khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, vận động người dân ưu tiên dùng hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn khó khăn
Kích cầu đầu tư trong khối doanh nghiệp sản xuất cho xuất khẩu để chủ động nguồn hàng khi thị trường các nước trên thế giới mở lại bình thường và tận dụng cơ hội từ Hiệp định Thương mại tự do châu Âu – Việt Nam
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tạo sự đồng
Trang 10thuận trong xã hội để hạn chế tối đa các tác động tăng giá
do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát
Các biện pháp ổn định lạm phát là những hướng đi quan trọng trong thời gian tới Song việc điều chỉnh và phản ứng kịp thời trước những rủi ro và khó khăn vẫn là bước đi quan trọng trong giai đoạn này Điều đó, cần sự vào cuộc và nhất trí của toàn bộ
hệ thống chính trị
Phần 4 : Kết luận
Sau 4 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2016
-2020, kinh tế vĩ mô dần ổn định, tích luỹ thêm nhiều kinh
nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế -
xã hội, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên
Tuy nhiên, những khó khăn, hạn chế nội tại của nền kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Ảnh hưởng từ bên ngoài gia tăng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong khi độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu còn hạn chế; tác động của biến đổi khí hậu ngày càng mạnh, các loại dịch bệnh xảy ra, đặc biệt là đại dịch Covid-19, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân và khả năng hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã
đề ra
Kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc và ngày càng được cải thiện, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm Giá cả hàng hoá tương đối ổn định, lạm phát hằng năm được kiểm soát thấp hơn mục tiêu đề ra Chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thị trường ngoại hối và tỉ giá đi vào ổn định, lãi suất giảm dần Cơ cấu thu chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng thu nội địa, các nhiệm vụ chi được thực hiện theo hướng tăng dần tỉ lệ chi đầu tư phát triển, giảm dần chi thường xuyên, bảo đảm các mục tiêu về bội chi và
nợ công Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng lên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức
kỷ lục và hiệu quả sử dụng dần được nâng cao Cán cân xuất, nhập khẩu hàng hoá được cải thiện rõ rệt, chuyển từ thâm hụt