1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỬ DỤNG KIẾN THỨC về đặc điểm tâm lý cá NHÂN của NGƯỜI học và cơ sở tâm lý của HOẠT ĐỘNG dạy học để bàn LUẬN về VIỆC dạy học TRỰC TUYẾN TRONG GIAI đoạn GIÃN CÁCH HIỆN NAY

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 435,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC  TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN SỬ DỤNG KIẾN THỨC VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI HỌC VÀ CƠ SỞ TÂM L

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

SỬ DỤNG KIẾN THỨC VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ

CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI HỌC VÀ CƠ SỞ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỂ BÀN LUẬN VỀ VIỆC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TRONG GIAI ĐOẠN GIÃN CÁCH HIỆN NAY

HỌC PHẦN: PSYC1400 – TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 09/2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

SỬ DỤNG KIẾN THỨC VỀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ

CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI HỌC VÀ CƠ SỞ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỂ BÀN LUẬN VỀ VIỆC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN TRONG GIAI ĐOẠN GIÃN CÁCH HIỆN NAY

HỌC PHẦN: PSYC1400 – TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC

Họ và tên: Trần Bảo Xuyên

Mã số sinh viên: 46.01.301.158

Lớp học phần: PSYC140014

Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Huân

Thành phố Hồ Chí Minh – 09/2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Lê Minh Huân, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện tiểu luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường, Phòng Đào tạo, các thầy cô trong Khoa Tâm

lý học - Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện tiểu luận này

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện tiểu luận này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 10 năm 2021

SINH VIÊN

Trần Bảo Xuyên

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các hình iii

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Đặc điểm tâm lý cá nhân của người học 1

1.1 Lý luận về sự phát triển tâm lý cá nhân 1

1.1.1 Khái niệm về sự phát triển tâm lý cá nhân 1

1.1.2 Những quy luật chung về sự phát triển tâm lý 2

1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên 2

1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi đầu thanh niên 3

2 Cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học 5

2.1 Dạy và hoạt động dạy 5

2.2 Học và hoạt động học 5

3 Hoạt động dạy học và việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay 6

3.1 Hoạt động dạy học trong thời kỳ đại dịch Covid – 19 hiện nay 6

3.2 Những khó khăn trong việc DHTT 6

3.2.1 Rào cản giữa người dạy – người học và người dạy – người quản lý 6

3.2.2 Những khó khăn trong việc triển khai mô hình DHTT 7

3.3 Người học làm chủ quá trình học tập trực tuyến 8

3.4 Giải pháp quản lý và đánh giá chất lượng dạy học 8

Trang 5

KẾT LUẬN 9 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1 Khảo sát trực tuyến ý kiến của học sinh, sinh viên về dạy học trực tuyến vào ngày 24/09/2021 do Nguyễn Thị Thanh Tuyền và Trần Bảo Xuyên (sinh viên khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM) trên nền tảng ứng dụng Google Form

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Mô hình dạy học trực tuyến của một số trường đại học (theo Trần Văn Thuận

và cộng sự, 2020) 9

Trang 6

MỞ ĐẦU

Hoạt động dạy và học đều là những hoạt động đặc thù của con người Trong đó dạy là hoạt động của người dạy tổ chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm giúp họ lĩnh hội nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách Còn hoạt động học được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi… một cách khoa học và hệ thống Dạy và học

là hai chủ thể không thể tách rời nhau ra trong môi trường sư phạm Tuy nhiên, với mỗi lứa tuổi, mỗi thời kỳ phát triển tâm lý khác nhau mà có cách giao tiếp sư phạm, cách dạy và cách học khác nhau Bên cạnh đó, với từng môi trường khác nhau, với từng cách giao tiếp khác nhau mà có những cách dạy và học khác nhau

Trong khi đại dịch Covid – 19 đang còn phức tạp, hầu hết các hoạt động giáo dục

từ phổ thông đến đại học đều diễn ra trên môi trường trực tuyến Hoạt động giao tiếp giữa giáo viên và học sinh chuyển từ trực tiếp sang gián tiếp bằng các ứng dụng trực tuyến như Microsoft Teams, Google Meet, Zoom,…Chính môi trường công nghệ thông tin đã thay đổi các hoạt động dạy và học từ truyền thống sang một hình thức cực kỳ mới

mẻ Sau đây, là phần bàn luận về vấn đề sử dụng kiến thức về đặc điểm tâm lý cá nhân của người học và cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học để bàn luận về việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay

NỘI DUNG

1 Đặc điểm tâm lý cá nhân của người học

1.1 Lý luận về sự phát triển tâm lý cá nhân

Khi nói đến khái niệm phát triển người ta hay đề cập đến những khái niệm có liên quan như sự phát triển cơ thể người, sự phát triển về trí tuệ, hành vi và sự phát triển tâm lý người

1.1.1 Khái niệm về sự phát triển tâm lý cá nhân

Sự phát triển tâm lý người là quá trình biến đổi tâm lý người từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, là quá trình tích lũy dần về lượng, dẫn đến sự nhảy vọt về chất,

là quá trình nảy sinh những nét tâm lý mới trên nền những nét tâm lý cũ do sự đấu tranh

Trang 7

giữa các mặt đối lặp nằm ngay trong chính bản thân mỗi cá nhân (Nguyễn Thị Tứ, 2019,

tr 28)

1.1.2 Những quy luật chung về sự phát triển tâm lý

Có ba quy luật chính chi phối sự phát triển tâm lý cá nhân Đó chính là: quy luật không đồng đều, quy luật toàn vẹn và quy luật mềm dẻo và khả năng bù trừ Quy luật không đồng đều trong sự phát triển tâm lý được thể hiện ở chỗ những biểu hiện tâm lý, những chức năng tâm lý ở người có thể phát triển rất khác nhau dù trong điều kiện giống nhau Quy luật toàn vẹn trong sự phát triển tâm lý được thể hiện ở chỗ: con người càng phát triển thì tâm lý con người ngày càng trở nên trọn vẹn, thống nhất và bền vững hơn Quy luật mềm dẻo trong sự phát triển tâm lý được thể hiện ở chỗ trẻ em có thể thay đổi,

có khả năng lĩnh hội kiến thức, kỹ năng để phát triển bản thân, nhờ vậy tâm lý con người không ngừng phát triển và khác hẳn về chất so với động vật

1.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thiếu niên Từ sự phát triển sinh lý như sự thay đổi chiều cao một cách đột ngột, sự phát triển không cân đối của hệ cơ xương và hệ tim mạch, hình thành những phản xạ phức tạp, tuyến nội tiết hoạt động mạnh, sự trưởng thành về mặt sinh dục khi bước vào tuổi dậy thì đến điều kiện sống và hoạt động của thiếu niên, từ trong gia đình, trong nhà trường đến ngoài xã hội đều có một ảnh hưởng đến tâm lý của lứa tuổi thiếu niên Lứa tuổi này đã đạt được các thành tựu tâm lý nổi bật như phát triển các thao tác tư duy cụ thể, có khả năng tổ chức và kiểm soát các hành động nhận thức, hành vi theo mục đích,…Tóm lại, đây là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển tâm lý cá nhân

Hoạt động giao tiếp là một trong những điều kiện quan trọng của sự phát triển tâm lý lứa tuổi thiếu niên Giao tiếp ở lứa tuổi thiếu niên đã có thay đổi so với lứa tuổi nhi đồng Từ những mâu thuẫn, xung đột do khát vọng khẳng định bản thân khi giao tiếp với người lớn, nhu cầu kết bạn tâm tình, hòa mình vào tập thể, khao khát tìm được chỗ đứng trong lòng bạn bè khi giao tiếp với bạn bè, đến việc muốn thể hiện tính “người lớn” của mình khi chăm sóc, dạy dỗ các em xen lẫn tính “trẻ con” khi chọc ghẹo, phá phách, thậm chí bắt nạt các em đã trở thành hoạt động chủ đạo của lứa tuổi thiếu niên

Trang 8

Hoạt động nhận thức của thiếu niên là tính mục đích, tính chủ định phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức: tri giác, trí nhớ, chú ý, tư duy, tưởng tượng Thiếu niên chập chững bước vào thế giới của người lớn với bao điều mới lạ, vì vậy các

em rất thích khám phá, tò mò, ham hiểu biết

Đời sống xúc cảm - tình cảm của thiếu niên phát triển mạnh, dần hình thành nên những loại tình cảm cấp cao đa dạng, phong phú, có chiều sâu Xúc cảm - tình cảm mang tính bồng bột dần giảm đi, nhường chỗ cho các loại xúc cảm - tình cảm biết phục tùng

ý chí Xúc cảm - tình cảm có nhiều thay đổi cả về nội dung và các hình thức biểu hiện

so với tuổi nhi đồng Đời sống xúc cảm - tình cảm ở tuổi thiếu niên đang hình thành phát triển mạnh mẽ các loại tình cảm trí tuệ, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm đạo đức, tình cảm tập thể đặc biệt là tình bạn

Tự ý thức phát triển sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống tâm lý của thiếu niên, đến tính chất hoạt động cùng các mối quan hệ của thiếu niên Tự ý thức thúc đẩy thiếu niên bước vào một giai đoạn mới Khi sự tự ý thức phát triển, các em không chỉ là khách thể của giáo dục mà còn là chủ thể của sự giáo dục Đây cũng là một điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục các em Tự ý thức thúc đẩy thiếu niên bước vào một giai đoạn mới Khi sự tự ý thức phát triển, các em không chỉ là khách thể của giáo dục mà còn là chủ thể của sự giáo dục Đây cũng là một điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục các

em

Tuổi thiếu niên được xem là thời kỳ quá độ, thời kỳ chuyển tiếp từ thế giới trẻ con sang thế giới người lớn, thời kỳ trẻ ở ngã ba đường của sự phát triển Đây là một thời kỳ phát triển đầy khó khăn, phức tạp, nhiều biến động và khủng hoảng, nhưng cũng

là thời kỳ phát triển có những bước tiến nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần

1.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi đầu thanh niên

Tương tự lứa tuổi thiếu niên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tâm lý của lứa tuổi đầu thanh niên Tuy nhiên, các hệ cơ quan, thần kinh, nội tiết, đã dần hoàn thiện Nhìn chung đây là lứa tuổi có thể lực sung mãn, cơ thể phát triển cân đối, hài hoà, khoẻ, đẹp Tuy nhiên một số em cơ thể vẫn gầy ốm như thiếu niên Vì vậy, việc hướng dẫn các em biết cách ăn uống, ngủ nghỉ và tập luyện để đạt được sự phát triển toàn vẹn nhất là nhiệm vụ quan trọng của các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo

Trang 9

Vai trò và vị trí xã hội của các em ngày một nâng cao Các em không còn là trẻ nhưng chưa phải là người lớn thực sự Hoạt động của các em đa dạng, phong phú về cả nội dung và hình thức Ở các em ngày càng xuất hiện nhiều vai trò của người lớn và các

em thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm cao hơn

Sự phát triển cơ thể ổn định, hài hòa, cân đối, sự thay đổi điều kiện sống và hoạt động trong vị trí một công dân sắp trưởng thành; sự kế thừa những kết quả đạt được trong quá trình phát triển về cấu trúc và chức năng tâm lý cuối tuổi thiếu niên là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển tâm lý ở tuổi đầu thanh niên

Hoạt động học tập – hướng nghiệp chi phối mạnh mẽ sự hình thành và phát triển nhân cách của các em và được thể hiện rất rõ qua xu hướng nghề nghiệp Đây là nét cấu tạo tâm lý mới trung tâm trong nhân cách của tuổi đầu thanh niên

Đời sống các em mang tính xúc cảm cao Xúc cảm của các em thường ổn định

và ít thay đổi hơn so với thiếu niên Các em biết kiềm chế che giấu cảm xúc của mình, thái độ đối với ngưới khác bắt đầu mang tính ổn định Hình thức đối xử có lựa chọn, tình cảm dần trở nên sâu sắc mặn nồng Nhu cầu kết bạn tâm tình ở các em tăng lên rõ rệt Phạm vi giao tiếp với bạn bè đồng trang lứa ngày càng được mở rộng Ở một số em

đã xuất hiện sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc Xuất hiện mối tình đầu

Sự hình thành thế giới quan mang tính khoa học và hệ thống là một nét cấu tạo tâm lý mới đặc trưng của tuổi đầu thanh niên Sự nhận thức đánh giá của các em đã dựa trên các chuẩn độc lập, các em có quan điểm riêng trong việc nhìn nhận, đánh giá bản thân và người khác Ở các em bắt đầu hình thành năng lực tự ý thức Đa số các em có khả năng nhìn nhận đánh giá bản thân khá chính xác, tuy vậy nhiều em vẫn còn có biểu hiện sai lầm trong tự đánh giá

Nhu cầu được tôn trọng, được độc lập và được bình đẳng trong giao tiếp với mọi người là nhu cầu quan trọng và phổ biến Nhìn chung, có hai hướng thể hiện bản thân ở lứa tuổi này: tích cực và tiêu cực Hướng thể hiện tích cực thường là: cố gắng học giỏi một môn học, cố gắng vượt qua khó khăn để thực hiện một hành động cao đẹp, thể hiện một nghĩa cử hợp đạo đức, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao,… Hướng thể hiện tiêu cực thường là: tạo ra một cái gì đó khác người và gây sốc nhưng lệch chuẩn, ví dụ một kiểu

Trang 10

tóc, một bộ trang phục, một câu nói, một việc làm, và cao hơn là một thói quen, một

lối sống không phù hợp với lứa tuổi (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2016, tr 96)

2 Cơ sở tâm lý của hoạt động dạy học

2.1 Dạy và hoạt động dạy

Dạy trong đời sống hằng ngày luôn cần thiết, nhầm cung cấp cho người học những kinh nghiệm từ cách ứng xử, tri thức xã hội đến những tri thức khoa học Tuy nhiên, dạy trong đời sống hằng ngày là chưa đủ, mà các em cần tiếp cận cách dạy theo phương thức nhà trường Bằng phương thức này, người học được tiếp cận những tri thức khoa học, kỹ năng cần thiết và hình thành những năng lực bản chất người ở trình độ cao

Mục đích của hoạt động dạy này chính là “giúp người học lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách” (Nguyễn Thị Tứ, 2019, tr 92)

Khi cá nhân thực hiện các hoạt động và giao tiếp xã hội, các đối tượng trong thế giới khách quan được “chuyển từ ngoài vào trong” thành nội dung tâm lý Cơ chế chuyển này là “thừa kế di sản” chứ không theo con đường di truyền Bằng cách này, mỗi cá nhân sẽ lĩnh hội nền văn hóa xã hội, chuyển những thành quả của nhân loại, của dân tộc thành năng lực của riêng mình, phát triển tâm lý, nhân cách (Lê Thị Hân, Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2013) Tuy nhiên người học không thể tự mình biến các năng lực loài người thành năng lực bản thân mà phương thức nhà trường sẽ mang lại hiệu quả cao nhất Khi ấy, thầy, cô giáo là cầu nối giữa học sinh và nền văn hóa xã hội

2.2 Học và hoạt động học

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích

tự giác là lĩnh hội những tri thức, giá trị, kỹ năng, kỹ xảo, phương thức hành vi một cách khoa học và hệ thống (Nguyễn Thị Tứ, 2019, tr 96)

Đối tượng của hoạt động học là hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri thức đó Các đối tượng này tồn tại khách quan bên ngoài người học và người học đang có nhu cầu tái tạo lại tri thức này trong đầu óc của mình Theo lý thuyết hoạt động, muốn chiếm lĩnh đối tượng, người học phải tác động trực tiếp vào đối tượng đó bằng những hành động cụ thể, phù hợp Cho nên trong quá trình sư phạm, người dạy cần phải căn cứ vào đối tượng cần lĩnh hội để thiết kế các nhiệm vụ cho người học, tạo ý thức tự

Trang 11

giác và nhu cầu học tập Người học sẽ chiếm lĩnh đối tượng này khi hoàn thành các nhiệm vụ người dạy giao phó

3 Hoạt động dạy học và việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay

3.1 Hoạt động dạy học trong thời kỳ đại dịch Covid – 19 hiện nay

Làn sóng đại dịch Covid – 19 lần thứ tư bắt đầu từ ngày 27/04/2021 đã và đang hoành hành khắp lãnh thổ Việt Nam, khiến toàn bộ hệ thống kinh tế, du lịch cũng như giáo dục bị tê liệt hoàn toàn Trước tình hình mới, giáo dục Việt Nam có bước chuyển đổi từ phương pháp giảng dạy trực tiếp thông thường sang phương pháp giảng dạy trực tuyến, nhằm tiếp tục công việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức đến học sinh, thực hiện mục tiêu thích nghi, sống chung với đại dịch

Dạy học trực tuyến (DHTT) có thể khai thác sức mạnh của công nghệ để giúp người học tương tác với tài liệu, khóa học theo những cách mới […] Ngoài ra, người dạy có thể tận dụng các công cụ giao tiếp trực tuyến để giúp người học kết nối với nhau

và kết nối với doanh nghiệp, cộng đồng Đánh giá trong DHTT không còn phải là những

kỳ thi khô khan, căng thẳng mà người học thường sợ hãi; mà thay vào đó, nó có thể là

cơ hội cho những sáng tạo và trải nghiệm thú vị dành cho họ (Nguyễn Tấn Đại, 2020)

Tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát trực tuyến ý kiến của học sinh, sinh viên vào ngày 24/09/2021 do Nguyễn Thị Thanh Tuyền và Trần Bảo Xuyên (sinh viên khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM) trên nền tảng ứng dụng Google Form, chỉ có

11 trên 81 người được khảo sát (chiếm 13,8%) thích việc học trực tuyến Vậy căn cơ do đâu ?

3.2 Những khó khăn trong việc DHTT

3.2.1 Rào cản giữa người dạy – người học và người dạy – người quản lý

Trong DHTT, hay trong giáo dục từ xa nói chung, do thiếu vắng một môi trường thực sự dành riêng cho các hoạt động giáo dục đúng nghĩa, người học phải đối diện với năm loại rào cản về: không gian, thời gian, công nghệ, tâm lí và kinh tế - xã hội (Nguyễn Tấn Đại, 2020)

Đặc điểm chung của việc DHTT là tính từ xa, phổ quát, có thể tham gia tại bất

kỳ đâu (chỉ cần có kết nối internet), có thể xem lại vào bất kỳ thời gian nào,…Chính vì

Ngày đăng: 13/04/2022, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Mô hình dạy học trực tuyến của một số trường đại học (theo Trần Văn Thuận và cộng sự, 2020)  - SỬ DỤNG KIẾN THỨC về đặc điểm tâm lý cá NHÂN của NGƯỜI học và cơ sở tâm lý của HOẠT ĐỘNG dạy học để bàn LUẬN về VIỆC dạy học TRỰC TUYẾN TRONG GIAI đoạn GIÃN CÁCH HIỆN NAY
Hình 3.1. Mô hình dạy học trực tuyến của một số trường đại học (theo Trần Văn Thuận và cộng sự, 2020) (Trang 14)
Hình 1. Biểu đồ phân tích ý kiến của học sinh – sinh viên về học trực tuyến - SỬ DỤNG KIẾN THỨC về đặc điểm tâm lý cá NHÂN của NGƯỜI học và cơ sở tâm lý của HOẠT ĐỘNG dạy học để bàn LUẬN về VIỆC dạy học TRỰC TUYẾN TRONG GIAI đoạn GIÃN CÁCH HIỆN NAY
Hình 1. Biểu đồ phân tích ý kiến của học sinh – sinh viên về học trực tuyến (Trang 17)
Hình 3. Biểu đồ phân tích ý kiến của học sinh – sinh viên về khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức từ giáo viên – giảng viên  - SỬ DỤNG KIẾN THỨC về đặc điểm tâm lý cá NHÂN của NGƯỜI học và cơ sở tâm lý của HOẠT ĐỘNG dạy học để bàn LUẬN về VIỆC dạy học TRỰC TUYẾN TRONG GIAI đoạn GIÃN CÁCH HIỆN NAY
Hình 3. Biểu đồ phân tích ý kiến của học sinh – sinh viên về khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức từ giáo viên – giảng viên (Trang 18)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w