và các vùng lân cận” Theo R.Villanueva 1987, “Quản lý lưu vực hay quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn là một hệ thống các biện pháp bảo vệ, phục hồi, phát triển tài nguyên rừng và đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
TS Nguyễn Thị Thu Hoàn
GIÁO TRÌNH NỘI BỘ
QUẢN LÝ LƯU VỰC Dành cho sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng, sinh thái bảo tồn đa
dạng sinh học, lâm nghiệp (Tài liệu lưu hành nội bộ)
Trang 2CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VỀ LƯU VỰC VÀ CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN TRONG LƯU VỰC
1.1 Khái niệm lưu vực, quản lý lưu vực
* Khái niệm về lưu vực
Hiện nay các nhà khoa học có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm lưu vực nước hay vùng phòng hộ đầu nguồn Theo báo cáo kỹ thuật của FAO (1986) thì có những hiểu sau đây:
“Lưu vực nước là một vùng có địa hình dốc, có nước chảy xuống tạo thành dòng chảy” có nghĩa là lưu vực nước là tổng diện tích của một vùng đất có nước chảy xuống tạo thành một dòng chảy lớn hoặc một con sông
Như vậy, lưu vực là một vùng địa lý mà quá trình tích luỹ và vận chuyển nước diễn
ra tương đối độc lập với các diện tích xung quanh
và các vùng lân cận”
Theo R.Villanueva (1987), “Quản lý lưu vực hay quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn là một hệ thống các biện pháp bảo vệ, phục hồi, phát triển tài nguyên rừng
và đất rừng đầu nguồn nhằm thoả mãn những nhu cầu về lâm sản, nông sản, văn hoá
du lịch và khoa học, bảo vệ đất, duy trì nguồn nước, ổn định khí hậu và chống ô nhiễm”
Như vậy, về mặt nhận thức, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn là bảo vệ phục hồi và phát triển tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực nước nhằm bảo vệ đất, duy trì hoặc cải tạo sản lượng nước của chúng
Theo giáo sư Chuncao (1973), “Quản lý lưu vực là quản lý sử dụng đất để sản xuất nước có chất lượng cao, có số lượng tối đa và điều hoà dũng chảy đồng thời bảo
vệ và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên trên cơ sở ổn định sản lượng”
Trang 3Như vậy, quản lý bảo vệ lưu vực nước là quản lý sử dụng phát triển các nguồn tài nguyên trong lưu vực để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, nhằm thoả mãn những nhu cầu và nguyện vọng cho hiện tại và các thế
hệ mai sau
1.2 Một số khái niệm iên quan đến ưu vực & quản ý ưu vực
Lưu vực sông: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy
tự nhiên vào sông
Lưu vực hồ: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự
nhiên vào Hồ
Lưu vực kín: Là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy
tự nhiên vào sông và không có nguồn nước cung cấp từ ngoài vùng địa lý đó vào lưu vực
Lưu vực hở: Là ngoài vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất
chảy tự nhiên vào sông và có nguồn nước cung cấp từ ngoài vùng địa lý đó vào lưu vực
và ngược lại
Quy hoạch lưu vực sông: Là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn
nước, phát triển tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây
ra trong lưu vực sông
Nguồn nước quốc tế: Là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thổ các
nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng
Lưu vực sông quốc tế là lưu vực sông có một hay nhiều nguồn nước quốc tế Nhóm lưu vực sông là tập hợp các lưu vực sông gần nhau về mặt địa lý
Danh mục lưu vực sông là tập hợp các lưu vực sông được phân loại dựa trên các
tiêu chí về tầm quan trọng, quy mô diện tích lưu vực, chiều dài sông chính, đặc điểm về mặt hành chính – lãnh thổ và các căn cứ khác
Ô nhiễm nguồn nước: Là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành
phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép
Suy thoái cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của
nước
Danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông” là cơ sở dữ liệu
tổng hợp các đặc trưng thống kê của một lưu vực sông, bao gồm: vị trí địa lý, diện tích, tổng lượng nước, chất lượng nước, tình trạng khai thác, sử dụng nước, xả nước thải, các đặc điểm về kinh tế - xã hội, các đặc trưng về môi trường
Trang 4Dòng chảy tối thiểu là dòng chảy ở mức thấp nhất cần thiết để duy trì dòng sông
hoặc đoạn sông, bảo đảm sự phát triển bình thường của hệ sinh thái thủy sinh và bảo đảm mức tối thiểu cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước của các đối tượng sử dụng nước theo thứ tự ưu tiên đó được xác định trong quy hoạch lưu vực sông
- Rừng phòng hộ: Theo luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, rừng phòng hộ là
loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống
xa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu góp phần bảo vệ môi trường
-Vùng đầu nguồn: Là hệ thống phức hợp do 3 hệ thống con tạo thành: Hệ thống
kinh tế, hệ thống sinh thái, hệ thống xã hội Do sự tồn tại của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có tính chất khu vực, nên các hệ thống này có sự khác biệt khá rõ nét về đặc điểm ranh giới, cấu trúc, chức năng, vật chất về thực chất là phân vùng đầu nguồn hoặc lưu vực thành các đơn vị diện tích khác nhau, trong đó mỗi đơn vị diện tích đều có sự đồng nhất về kinh tế, sinh thái và xã hội Thông qua mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận tổ thành trong nội bộ của các hệ thống đó sẽ là những căn cứ khoa học có tính chiến lược để quy hoạch phát triển vùng đầu nguồn, cho việc lợi dụng hợp lý và bền vững tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đẩy sự phát triển hài hòa và bền vững ở vùng đầu nguồn
Phân cấp đầu nguồn: Phân cấp đầu nguồn là phân chia cảnh quan (hoặc diện tích
đầu nguồn) thành các cấp khác nhau, như là sự mô tả tiềm năng về nguy cơ xói mòn theo đặc điểm tiềm năng địa hình dựa vào các đặc trưng địa lý và môi trường của chúng Phân cấp đầu nguồn tập trung vào quá trình suy thoái đất và nước cũng như những biện pháp ngăn chặn chúng thông qua việc sử dụng đất thích hợp
Mức nhạy cảm ở vùng đầu nguồn không đồng nhất, phụ thuộc vào điểm của những nhân tố quyết định đến tiềm năng xói mòn và nguy cơ khô hạn, trong đó quan trọng nhất
là độ dốc, độ cao, loại đất và chế độ mưa Khi độ dốc càng lớn, độ cao càng tăng, khả năng chứa nước của đất càng thấp, lượng mưa càng nhiều thì mức nhảy cảm càng cao Việc phân tích tính nhạy cảm của vùng đầu nguồn, phân chia và ghép nhóm các diện tích trong nó thành những cấp có mức nhạy cảm khác nhau và cần có những biện pháp quản lý khác nhau được gọi là phân cấp đầu nguồn
Như vậy, thực chất phân cấp đầu nguồn là việc nghiên cứu những đặc điểm của vùng đầu nguồn, ghép chúng thành những nhóm lớn nhỏ khác nhau theo tiềm năng xói mòn và khô hạn
Ở Việt Nam, vùng đầu nguồn được phân chia thành 3 cấp với mức độ xung yếu khác nhau:
- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước
Trang 5- Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình, nơi có điều kiện kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao
về bảo vệ đất và sử dụng đất
- Vùng ít xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc thấp, ít nguy cơ xảy ra xói mòn, dòng chảy và các sự cố khác về môi trường
- Suy thoái rừng rừng phòng hộ đầu nguồn: Các khái niệm về suy thoái rừng
phòng hộ còn rất hạn chế và chưa có khái niệm chính thống, có một số nghiên cứu đề cập như sau: Suy thoái rừng rừng phòng hộ đầu nguồn là quá trình biến đổi của rừng theo chiều hướng làm giảm dần khả năng đảm bảo chức năng phòng hộ, chủ yếu là chức năng giữ đất và bảo vệ nguồn nước Rừng phòng hộ đầu nguồn bị suy thoái nghiêm trọng là rừng bị biến đổi đến mức không còn khả năng tự phục hồi để đảm bảo được các chức năng phòng hộ của nó trong một khoảng thời gian nhất định [19]
1.3 Đặc điểm và tính chất các nguồn tài nguyên trong ưu vực
1.3.1 Đặc điểm về tài nguyên đất
Đất đai là tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là thành phần quan trọng của môi trường sống Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 33.121.159 ha (theo báo cáo số liệu kiểm kê đất đai Bộ TN&MT 2007)
Diện tích tự nhiên nước ta có quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số 200 nước của thế giới, nhưng với dân số đông (80 triệu người - thời điểm l0/10/2002) đứng hàng
thứ 13 trên thế giới, xếp vào loại “đất chật người đông” Bình quân diện tích tự nhiên
trên đầu người rất thấp, chỉ bằng 1/7 mức bình quân của thế giới Theo thống kê, bình quân đầu người của thế giới là 3,0 ha; Úc là 52,4 ha; Canada là 41,2 ha; Trung Quốc là 0,8 ha và Việt Nam là 0,43 ha/người
Đất đai có những tính chất đặc trưng, là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng;
có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn của con người;
là tư liệu sản xuất không gì thay thế được, đặc biệt là ngành nông nghiệp Đất đai là loại tài nguyên không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có 1074 m2, với 80% làm nông nghiệp do đó bình quân đất nông nghiệp trên 1 lao động chỉ đạt 2446 m2, Thực hiện quy định của Luật đất đai năm (1993, 1998, 2001) đến nay đã có 54/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên 300 huyện và khoảng 5000 xã, phường đã lập quy hoạch sử dụng đất
Hiện nay nước ta vẫn đang thuộc nhóm những nước có nền kinh tế kém phát triển,
vì vậy đặc điểm hạn chế của đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc sử dụng đất đai phải dựa trên những cơ sở lý luận khoa học vững chắc Sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý là nhiệm vụ mang tính cấp bách và lâu dài của nước la Trong thực tế, một thời
Trang 6gian dài việc sử dụng đất đai hợp lý chủ yếu hướng vào đất nông nghiệp và từng thời kỳ được thực hiện một cách phiến diện Có thời kỳ chủ yếu hướng vào việc mở rộng đất canh tác, với mục tiêu tự túc lương thực theo lãnh thổ hành chính bằng mọi giá, đôi khi trọng tâm lại hướng vào đổi mới cơ cấu diện tích gieo trồng với mục tiêu hiệu quả kinh tế… Việc sử dụng đất đai hợp lý là vấn đề phức tạp, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yrếu tố quan trọng khác nhau, về thực chất đây là vấn đề kinh tế liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhiệm vụ đặt ra là sử dụng tối đa quĩ đất quốc gia để phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và xã hội, dựa trên nguyên tắc ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp
Theo tài liệu “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” đã nêu rõ hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam và đã đưa ra những nhận xét rất rõ ràng: Với quỹ đất như vậy, Việt Nam xếp thứ 59 trong số 200 nước, nhưng dân số lại xếp thứ 13 trên Thế giới, cho nên chỉ số bình quân đất đai là 0,46 ha/người (bằng 1/7 mức bình quân của Thế giới) xếp thứ 120/200 nước
Đất lâm nghiệp gắn với trung du miền núi với tổng diện tích được quy hoạch khoảng 19,3 triệu ha, đất trung du miền núi là một phần quan trọng trong quỹ đất Việt Nam, chiếm 60% diện tích toàn quốc
1.3.1.1 Vai trò tài nguyên đất đai
Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thổ (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất và mặt nước) là điều kiện đầu tiên
Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại,
là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể”
Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”
Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người Đất được tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên Cần nhận thấy rằng, đất đai
ở hai thể khác nhau:
Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thể lịch sử
tự nhiên (trời sinh ra đất) cứ thế tồn tại và biến đổi Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì đất được coi là tư liệu Đất chỉ khi tham gia vào quá trình lao động, khi kết hợp với lao động sống và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất
Trang 7Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội, để thực hiện quá trình lao động, cần phải có đủ 3 yếu tố:
Hoạt động hữu ích: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng lao động và biết sử dụng công cụ, phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất
Đối tượng lao động: là đối tượng để lao động.tác động lên trong quá trình lao động
Tư liệu lao động: là công cụ hay phương tiện lao động được lao động sử dụng để tác động lên đối tượng lao động
Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người
và điều kiện vật chất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ lao động hay phương
1.3.2 Nguồn tài nguyên nước c
1.3.2.1 Lưu lượng nước trong lưu vực
(i) Nước mặt tr n trái đất t
Nước mặt là nguồn nước được tích trữ lại dưới dạng lỏng hoặc dạng rắn trên mặt đất
- Tổng trữ lượng tài nguyên nước của hành tinh được ước tính khoảng 1,38 - 1,45 tỷ km3
Bảng 1.5: Đặc trưng của một số hồ chứa nhân tạo lớn trên thế giới
(km 3 )
Diện tích (km 2 ) Sông Châu, nước
Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi – Trịnh Trọng Hàn - 1993
Trang 8Bảng 1.6 Lượng dòng chảy một số sông lớn
TT Tên sông Lượng dòng
chảy TB năm (km 3 )
Lưu lượng dòng chảy
TB ở cửa sông (10 3 m 3 /s)
DT lưu vực (10 3 km 2 )
Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi – Trịnh Trọng Hàn - 1993
* Trữ ượng nước mặt Việt Nam m
Việt Nam có khoảng 830 tỷ m3 nước mặt, trong đó chỉ có 310 tỷ m3 được tạo ra do mưa rơi trong lãnh thổ (chiếm 37%) còn lại 63% từ ngoài lãnh thổ chảy vào Nếu kể cả nước mặt và nước dưới đất trên phạm vi lãnh thổ thì bình quân đầu người đạt 4.400 m3/người/năm So sánh với bình quân đầu người trên thế giới là 7.400 m3/năm
(i ) Nước dưới đất t
Nước dưới đất: Là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất
Về trữ lượng ở độ sâu 1000 m = 4 triệu km3, ở độ sâu 1.000 - 6.000 m = 5 triệu km3 Nước trong đất là các dạng nước tồn tại trên mực nước ngầm
Tồn tại ở những dạng sau: + Hơi nước
+ Nước liên kết (hóa học, lý học) + Nước tự do (nước trọng lực, nước mao quản, nước ngầm)
Tổng trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác được (chưa kể phần hải đảo) ước tính khoảng 60 tỷ m3/năm
1.3.2.2 Phân bố các nhóm sông và vùng ưu vực Việt Nam m
Trang 9- Khái niệm về hệ thống sông: Hệ thống sông là bao gồm sông chính và các sông
nhánh của nó cùng với các khe, suối, hồ, đầm lầy được tạo ra do dòng chảy
+ Sông chính: Các sông trực tiếp chảy ra biển (hoặc chảy vào các hồ trong nội địa)
+ Sông nhánh: Các con sông chảy vào sông chính gọi là
Việt Nam có 2.360 con sông (chỉ tính sông có chiều dài 10 km)
Tổng lượng dòng chảy hàng năm qua Việt Nam 853 km3/năm, tương đương 27.100m3/s
- Các sông lớn 10.000 km2: sông Hồng, Thái bình, Kỳ Cùng, Bằng Giang, Mã, Cả, Thu Bồn, Ba, Serapork, Sêsan, Đồng Nai, Mêkông
- Mật độ sông ngòi giữa các vùng từ 0,3-0,4 km/km2 Bờ biển nước ta dài 3260 km,
là nơi kết thúc của các con sông suối
* Nhóm sông ở Việt Nam
Người ta thường lấy tên con sông chính để đặt tên cho hệ thống sông, ở Việt Nam gồm 3 nhóm sông:
Nhóm I: Nhóm hệ thống sông mà thượng nguồn của lưu vực nằm trong lãnh thổ
Việt Nam, nhưng nước chảy sang các nước láng giềng
Hệ thống sông Kỳ Cùng với tổng diện tích lưu vực khoảng 13.180 km2 và tổng lượng nước khoảng 9 km3 Như sông Bằng Giang, Kỳ Cùng chảy sang Trung Quốc Hay Hệ thống sông nhánh thuộc thượng nguồn sông Mê Kông bao gồm sông Nậm Rốm, sông SêSan, sông Sêrêpok có tổng diện tích lưu vực khoảng 32.375 km2, chiếm 4% tổng diện tích khu vực sông MêKông
ở Kontum sông Sêsan có hai nhánh sông Pôkô và Đakbla cùng tạo dòng cho Sêsan và nâng tổng lượng dòng chảy hàng năm 10–11 tỷ m3
Hệ thống sông nhóm I chủ động và thuận lợi trong khai thác tài nguyên nước cho phát trển thuỷ điện Yaly, thuỷ điện Sêsan
Nhóm II: Nhóm có hệ thống sông mà trung lưu và hạ lưu nằm trong lãnh thổ Việt
Nam, thượng lưu nằm trên các nước láng giềng
Bao gồm:
Trang 10+ Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình với tổng lưu vực 168.700km2, trong đo diện tích lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam là 86.500 km2, chiếm tỷ lệ 51,5% tổng diện tích toàn lưu vực sông Hồng, với tổng lượng nước đạt 137 km3
+ Hệ thống sông Mêkông có tổng lượng nước 592 km3, là con sông được xếp hạng thứ 11 trên thế giới theo độ dài 4.183 km với diện tích lưu vực 790.000 km2 trong đó diện tích lưu vực nằm trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 40.000 km2, chiếm khoảng 5% tổng diện tích toàn lưu vực sông Mêkông
+ Hệ thống sông Mã (Sông Chu), có tổng số lượng nước 18,5km3; Hệ thống sông
Cả (S Hiếu, S La) 25km3; Hệ thống sông Thu Bồn (S Vu gia, S Vang, S Yên, S Đũ Toản) 20km3, chúng có tổng diện thích lưu vực khoảng 56.000 km2, trong đó diện tích l-
ưu vực nằm trong địa phận Việt Nam là 32.000 km2
Nhóm III: Nhóm hệ thống sông nằm trọn vẹn trong lãnh thổ Việt Nam với tổng
diện tích lưu vực nằm trong địa phân Việt Nam lưu vực khoảng 87.045 km2
Có nhiều con sông thuộc nhóm này như: sông Công, Sông Cầu, sông Hàn, Sông Hương, Sông Ngàn phố, Sông Bưởi, Sông Hóa, ……
Bảng 1.7 Phân bố dòng chảy ở các lưu vực sông
Nguồn nước sông
Tổng số (km3)
Cơ cấu (%)
Riêng nội địa (km2)
Cơ cấu (%)
Lưu vực các sông vùng Quảng Ninh
Lưu vực các sông vùng CaoBằng, Lạng Sơn
137,0 8,5 8,9
67
18,2 25,0 23,8
86,8
21,6
100 18,3
16,3 1,0 1,0
8,0
2,1 3,4 2,5
10,3
2,6
326 106,3
90,6 8,5 7,2
58,1
14,5 19,8 23,8
86,8
21,6
100 32,6
27,8 2,6 2,21
7,9
4,5 6,1 7,3
26,6
6,6
Trang 11LV cỏc sông vùng Quảng Ngãi, Bình Định
Lưu vực các sông vùng Phú Yên, Khánh Hoà
LV các sông vùng Bình Thuận, Ninh Thuận
Lưu vực các sông vùng Sêsan
Lưu vực các sông vùng Sêrêpok
Vùng IV
Lưu vực các sông Đồng Nai
Lưu vực các sông Cửu Long
14,6 12,5 8,4 13,0 16,7
532,5
25,5 507,0
1,7 1,4 1,0 1,6 2,0
63,3
3,0 60,3
14,6 12,5 8,4 13,0 16,7
74,8
24,18 50,00
4,5 3,8 2,6 4,0 5,1
22,9
7,6 15,3
1.3.2.3 Một số đặc điểm của tài nguyên nước
(1) Nước phân bố không đồng đều về không gian và thời gian n
Miền núi thường mưa nhiều hơn ở các vùng đồng bằng khoảng 5- 8 lần Mức chênh lệch này trên thế giới có thể đạt tới 40- 80 lần
- Ở Việt Nam các trung tâm mưa lớn, như Bắc Quang (Hà Giang), Bạch Mã (Huế), TB
là 5.000 mm, Móng Cái, Tiên Yên đạt 3.500 mm, Hải Vân 4.000 mm
- Những trung tâm khô hạn với lượng mưa thấp như vùng thung lũng sông Mã, Yên
Châu chỉ đạt 1.000 – 1.200 mm/năm, vùng Azunpa (Gialai): 1.200 -1.300 mm và đặc biệt tại Phan Rang, Phan Rí lượng mưa chỉ đạt 600- 700 mm/năm
- Lượng nước thay đổi theo mùa, Bắc Bộ và Bắc Thanh Hoá có mùa lũ từ tháng 6 đến
tháng 10, khu vực Đông Trường Sơn từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau Khu vực Tây Trường Sơn và Nam bộ lũ từ tháng 7-11
(2) Nước có tính quy uật, tính tự nhiên… v chu kỳ của thủy văn n
Tất cả các đặc trưng của nguồn nước và sự thay đổi của chúng theo thời gian và không gian gọi là hiện tượng thuỷ văn (hay chế độ thuỷ văn)
• Tính quy luật: Tính chất quy luật được thể hiện rất rõ ở lượng nước qua mùa mưa
và mùa kiệt qua các năm của lưu vực sông Hàng năm nước sông mùa kiệt cạn, sang mùa mưa lại đầy
• Tính tự nhiên: nó thể hiện bản chất của hiện tượng do những nguyên nhân bên
trong thúc đẩy: Tất cả các hiện tượng mưa, lũ, lụt đều là những hiện tượng tự nhiên của
vũ trụ
• Tính tất nhiên và ngẫu nhiên: tức là tính chất này do nguyên nhân bên ngoài
quyết định, Tuỳ từng trường hợp, từng nơi, từng lúc tác động của các nguyên nhân bên trong, bên ngoài có ảnh hưởng khác nhau nên một hiện tượng có thể sinh ra lúc tất nhiên, lúc ngẫu nhiên
Trang 12Vớ dụ: Đối với cỏc trận mưa lớn, ảnh hưởng của mưa cú tỏc dụng quyết định, ảnh hưởng của cỏc nhõn tố khỏc bị lu mờ Do đú quan hệ mưa – lũ mang tớnh tất nhiờn, dễ phỏt hiện quy luật vật lý của chỳng
Vớ dụ hiện tượng lũ lụt: lũ lụt phụ thuộc vào cường độ mưa, lượng mưa, thời gian mưa, độ ẩm ban đầu của lưu vực, điều kiện địa chất, địa hỡnh, thảm phủ thực vật…
Tớnh chu kỳ: Ngoài những tớnh chất núi trờn, hiện tượng thuỷ văn cũng mang tớnh
chất chu kỳ rừ rệt
(3) Nước khụng phải vụ tận nhưng cú tớnh chất tuần hoàn n
• Nước trờn trỏi đất là 1,45 tỉ km3, nước đại dương 96,5%, nước khỏc 3,5%
• Nước con người cú thể sử dụng được chỉ 0,3%, trong đú nước trong đất chiếm 98,5%, chỉ cú 1,5% là nước mặt (sụng, suối, ao, hồ)
• Theo F.Surgent (1974) tổng lượng nước trong tự nhiờn dao động từ 1.385.985.000
- 1.457.302.000 km3 Lượng nước này vận động thay đổi trạng thỏi tồn tại của nú theo vũng tuần hoàn: mưa - chảy trờn mặt - thấm xuống sõu - bốc hơi - ngưng tụ hơi nước - mưa
Hỡnh 1.1: Sơ đồ tuần hoàn nước
(4) Tớnh chất hai mặt của nước c
Ngoài ra nước là mụi trường dẫn truyền chất ụ nhiễm, độc hại lan rộng hơn
* Mặt ợi và hại của tài nguyờn nước
Học sin cho biết: Những mặt lợi và mặt hại của ài n uy n nước?
Mặt đất (Biển, sông suối, hồ …)
N-ớc m-a
N-ớc d-ới
đất Hơi n-ớc
Mây
Thực vật
Động vật
Trang 131.3.2.4 Sự suy thoái nguồn nước ưu vực
biệt là chất lượng
Trong những năm qua, sự tăng nhanh về dân số và khai thác quá mức tài nguyên nước, các tài nguyên đất và rừng đã làm suy kiệt nguồn nước; việc phát triển đô thị và công nghiệp nhưng không có biện pháp quản lý chặt chẽ và xử lý các chất thải lỏng, thải rắn theo yêu cầu cũng đã làm ô nhiễm nguồn nước, cho nên suy thoái đã trở thành khá
phổ biến đối với các LVS, vì vậy Việt Nam đã được quốc tế xếp vào loại các quốc gia có tài nguyên nước suy thoái
Trước yêu cầu sử dụng nước còn tiếp tục gia tăng trong khi tài nguyên nước thì ngày càng bị suy thoái nên cần phân tích rõ các nguyên nhân, đặc biệt là các nguyên nhân
về quản lý để có các giải pháp nhằm ngăn chặn và giảm thiểu sự suy thoái đang phát triển nghiêm trọng này Có 5 nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái tài nguyên nước LVS ở Việt Nam:
1 Do gia tăng nhanh về dân số
2 Do khai thác quá mức tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan đến nước như đất, rừng khiến tài nguyên nước bị suy kiệt Ngoài ra, các hồ thủy điện lớn khi vận hành chỉ nhằm phục vụ cho phát điện cũng gây cạn kiệt dòng chảy cho hạ lưu
· Theo khuyến cáo của tổ chức NVO thì ngưỡng khai thác TNN chỉ nên giới hạn
trong phạm vi 30% của dòng chảy, nhưng ở Việt Nam có nhiều nơi như miền Trung,
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã khai thác trên 50% lượng dòng chảy về mùa kiệt, đặc biệt là ở Ninh Thuận, Bình Thuận đã khai thác tới 70-80% lượng dòng chảy về mùa kiệt
· Nhiều nơi do khai phá rừng và đất, đặc biệt là đất đốc, rừng đầu nguồn đã làm suy kiệt dòng chảy Sự suy giảm lưu lượng về mùa kiệt tới 50% của một số đập dâng như Liễn Sơn, Đồng Cam và nhiều nơi khác so với thiết kế ban đầu là do hậu quả của khai thác quá mức rừng và đất đã minh chứng rõ cho điều này
· Mực nước của một số sông như sông Hồng những năm gần đây thấp nhiều so với những năm trước đây ngoài nguyên nhân suy giảm lượng mưa còn do việc vận hành của các hồ Hòa Bình và các hồ loại vừa và lớn ở thượng nguồn thuộc đất Trung Quốc Trong tương lai khi 3 đập lớn của Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn sông Đà như đập Long Mạ cao 140m, đập Japudu cao 95m và đập Gelantan cao 113mđi vào vận hành với mục đích chính là phát điện thì ngay cả thủy điện Sơn La và Hòa Bình cũng bị ảnh hưởng
do chế độ vận hành của các hồ này
3 Do chưa kiểm soát được các nguồn thải và chưa quan tâm đầu tư thỏa đáng cho
Trang 14các hệ thống thu gom, xử lý các chất thải lỏng, thải rắn
· Những năm qua và những năm sắp tới, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, làng nghề thủ công ngày càng mở rộng, lượng chất thải rắn, thải lỏng chưa kiểm soát được thải vào nguồn nước sẽ gây ô nhiễm suy thoái nhanh các nguồn nước mặt, nước dưới đất, làm gia tăng tình trạng thiếu nước và ô nhiễm nước, nhất là về mùa khô, điển hình nhất là ở sông Nhuệ, sông Thị Vải (tại 15 cây số sau Nhà máy bột ngọt Vedan) của sông thị Vải, dòng sông ở đây thực sự đã chết, nước sông trở nên đen ngòm và hôi thối, không có sinh vật nào sống được; các sông nội đô của nhiều thành phố đã trở thành các cống hở dẫn nước đen ngòm có mùi khó chịu
· Việc gia tăng sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong thâm canh lúa và các vườn cây cùng việc nuôi trồng thủy sản, giết mổ gia súc, chế biến các sản phẩm nông nghiệp cũng làm ô nhiễm thêm các nguồn nước mặt, nước dưới đất
· Ô nhiễm nước ở các LVS đang gia tăng nhưng việc quản lý lại chưa đáp ứng về mặt tổ chức, về năng lực, trang thiết bị, chế tài quản lý và thiếu nguồn kinh phí để xử lý nên nguy cơ ô nhiễm còn có thể mở rộng, điều này đang gây phá hủy các nguồn nước sạch quý hiếm mà sau này muốn phục hồi sẽ rất tốn kém
4 Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu
Khí hậu toàn cầu đang nóng lên đã và sẽ tác động nhiều đến tài nguyên nước Nhiều dự báo trên thế giới và ở trong nước đã cho thấy khi nhiệt độ không khí tăng bình quân 1,50 thì tổng lượng dòng chảy có thể giảm khoảng 5% Ngoài ra khi trái đất nóng lên, băng tan nhiều hơn sẽ làm nước biển dâng cao, mặn sẽ xâm nhập sâu hơn ở những vùng đồng bằng thấp khiến nguồn nước ngọt phân bổ trên các sông chảy ra biển sẽ bị đẩy lùi dần Tất cả những điều đó sẽ làm suy thoái thêm nguồn nước, khiến không có đủ nguồn nước ngọt để phục vụ cho sản xuất đời sống
5 Do những nguyên nhân về quản lý
Trên thế giới khi đánh giá về nguyên nhân suy thoái tài nguyên nước đã nhận định là quản lý có vai trò chi phối và có tác động rất lớn Trong quản lý chúng ta còn có nhiều tồn tại về mặt tổ chức, về quy hoạch và thể chế quản lý
- Ở các nước phát triển nhờ có quản lý tốt nên mặc dù tài nguyên nước của họ không dồi dào, thậm chí còn rất nghèo như Đức chỉ có 1301 m3/người, Anh: 2465 m3/người, Pháp: 3047 m3/người, Nhật: 3393 m3/người Ở các nước này công nghiệp rất phát triển,
đô thị rất đông đúc nhưng do sử dụng tốt các công cụ về pháp lý, tổ chức và kinh tế nên tài nguyên nước của họ không hề bị suy thoái, những nơi bị suy thoái đã được khôi phục
- Ở Việt Nam tuy mới công nghiệp hóa và mở rộng các đô thị nhưng ô nhiễm nước
và suy thoái nước đã phát triển rất nhanh, thậm chí đã đến mức báo động cũng là do có
Trang 15những tồn tại lớn trong quản lý về mặt tổ chức, về quy hoạch, chính sách, cụ thể là:
a Về tổ chức: Chưa tạo ra tổ chức ổn định ở cấp Bộ và tổ chức có hiệu lực ở cấp lưu
vực sông để quản lý loại tài nguyên khó quản này
· Về quản lý ở Trung ương (cấp Bộ): Đã để việc tách - nhập; và quản lý phân tán kéo dài
· Về quản lý ở cấp LVS: Do tồn tại của Luật tài nguyên nước không đề cập đến quản lý LVS mà chỉ nói đến lập Ban Quản lý quy hoạch LVS như một đơn vị sự nghiệp của Bộ Nông nghiệp & PTNT nên hiệu lực các ban quản lý lập ra bị hạn chế
· Năm 2002 khi thành lập Bộ Tài nguyên & Môi trường: Điều 1 của Nghị định 91
nêu: "Bộ Tài nguyên & Môi trường là cơ quan Chính phủ quản lý nhà nước về TNN " nhưng các điều sau lại nêu không đầy đủ các nhiệm vụ và cả lực lượng chuyên môn để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNN, tại Nghị định 86 lại giao nhiệm vụ quản
lý LVS cho Bộ Nông nghiệp & PTNT nên tình trạng chồng chéo phân tán vẫn tiếp diễn
Gần đây (15-3-07) Văn phòng Chính phủ đã có thông báo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển nhiệm vụ quản lý LVS từ Bộ NN&PTNT về Bộ Tài nguyên & Môi trường để hợp nhất nhiệm vụ quản lý LVS với quản lý TNN cho thống nhất
Thời gian qua do bị phân tán nên hiệu lực quản lý nhà nước về TNN và quản lý LVS
ở Việt Nam còn hạn chế mặc dù thời gian qua đã được Nhà nước rất quan tâm và được nhiều tổ chức quốc tế và các nhà tài trợ giúp đỡ
b Về quy hoạch: Trong mấy chục năm qua, Nhà nước đã đầu tư nhiều kinh phí cho
các Bộ, ngành làm quy hoạch Nhưng do nội dung lập quy hoạch và sự phối hợp giữa các ngành trên LVS chưa gắn bó nên quy hoạch của các ngành còn nặng về khai thác phục vụ riêng cho chuyên ngành mình, vì vậy đến nay ta vẫn chưa có và trình duyệt được quy hoạch tổng hợp LVS trong đó có quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước, quy hoạch thoát và
xử lý nước thải, các chất thải (CTR) cho các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề thủ công
để làm cơ sở cho việc quản lý và đưa quy hoạch bảo vệ này vào kế hoạch thực hiện hàng năm như là thực các hiện quy hoạch phát triển thủy điện, thủy lợi, cấp nước đô thị, công nghiệp
c Về chính sách và văn bản liên quan đến quản lý: Thời gian qua Bộ Tài nguyên
& Môi trường, Bộ Nông nghiệp & PTNT và các Bộ liên quan đã xây dựng được nhiều văn bản trong đó có những văn bản rất quan trọng đã được trình Chính phủ ban hành thành Nghị định, trong đó có Nghị định quan trọng như:
Nghị định về cấp phép 149/2004/NĐ-CP, Nghị định về phí nước thải
67/2003/NĐ-CP Các Nghị định về thủy lợi phí 112 và 143 Nhưng một số Nghị định của ta đang đứng trước những khó khăn Có thể mô tả một số nghị định như:
Trang 16Nghị định phí nước thải: Có thể chưa lường hết hậu quả của tình hình ô nhiễm sẽ mở
rộng nhanh và ngày càng trầm trọng và sợ dân ta còn nghèo nên chưa mạnh dạn tiếp cận với quan điểm của thế giới về phí nước thải
Trước đây, Bộ Xây dựng chỉ đưa vào giá nước mức phụ thu là 10% để phục vụ cho nạo vét của việc thoát nước Khi xây dựng chính sách phí nước thải sinh hoạt Bộ Tài nguyên & Môi trường cũng chỉ đưa vào một tỷ lệ rất thấp: Nghị định 67 chỉ quy định thu phí nước thải với mức 10% của giá nước trong khi thế giới thu bằng và lớn hơn cả giá nước (như Mỹ thu bằng 135% giá nước, Pháp thu bằng giá nước) Nếu tình trạng thu phí thấp như thế này kéo dài thì không thể tạo ra nguồn tài chính để xử lý nước thải sinh hoạt trong khi ngân sách nhà nước của ta lại không thể có đủ để đầu tư cho xây dựng và vận hành các trạm xử lý nước thải, điều này sẽ khiến nguồn nước ngày càng thêm suy thoái Tất cả các nước giàu có trên thế giới đều phải thực hiện nguyên tắc PPP (Polluter Pays Principle) để đưa phí ô nhiễm nước lên cao hơn mới có đủ nguồn kinh phí xử lý nước thải
Nghị định về thủy lợi phí: Việc thực hiện ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ khó
khăn lớn do chủ trương mở rộng miễn giảm và bỏ thủy lợi phí Trong tình hình nông nghiệp Việt Nam hiện sử dụng trên 80% nhu cầu dùng nước của cả quốc gia và trước thực trạng nhiều công trình thủy nông đang bị xuống cấp và chưa hoàn chỉnh, chưa chuyển giao cho các tổ chức hợp tác xã trên diện rộng thì việc bỏ thủy lợi phí sẽ phải có những điều chỉnh về chính sách và
tổ chức quản lý để sao sử dụng tiết kiệm nguồn nước tưới
d Một số tồn tại khác:
- Chưa thiết lập được đầy đủ cơ sở dữ liệu, tài liệu cơ bản về TNN, về sử dụng và ô nhiễm để phục vụ cho quản lý và sử dụng chung Màng lưới quan trắc và các trang thiết bị phục vụ chưa được đầu tư thỏa đáng
- Trong đào tạo, Việt Nam có nhiều Trường đào tạo cán bộ chuyên môn: riêng Trường Đại học Thủy lợi trong gần 50 năm qua đào tạo được gần 20.000 Kỹ sư, Thạc sỹ, Tiến sỹ Các Trường Đại học khác như Bách khoa, Xây dựng, Mỏ Địa chất và Cao Đẳng Khí tượng Thủy văn, và cả ở nước ngoài đã đào tạo được rất nhiều cán bộ cho ngành Nước, nhưng do tổ chức ngành Nước không ổn định và việc sử dụng ở Việt Nam có vấn đề chưa tốt nên chúng ta vẫn thực sự thiếu cán bộ để thực hiện nhiệm vụ quản lý và chống suy thoái TNN Đây là sự lãng phí trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực
- Ngoài ra sự phối hợp liên ngành trong việc quản lý chưa được gắn bó cũng gây ra những lãng phí và hạn chế đến việc khai thác sử dụng tổng hợp nguồn TNN
1.3.3 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học trong ưu vực
- Vai trò của đa dạng sinh thái trong hệ lưu vực
1 Sử dụng trực tiếp
Trang 17Săn bắt, thu hái, khai thác tất cả các tài nguyên sinh vật phục vụ nhu cầu của con người: ăn, ở, chữa bệnh làm cho tài nguyên sinh vật suy giảm, cạn kiệt; đặc biệt khi khoa học kỹ thuật phát triển ở mức độ cao
2 Sử dụng gián tiếp
- Lấy đất để phục vụ trồng trọt: Các loại cây lương thực, thực phẩm, các loại cây công nghiệp đã loại đi một diện tích khá nhiều đất tự nhiên
- Đất xây dựng nhà ở
- Đường giao thông
- Khu sản xuất công nghiệp
- Các loại công trình vui chơi giải trí
- Chiến tranh
Những tác động trực tiếp và gián tiếp trên đã làm suy thoái nghiêm trọng tính đa dạng sinh học, đã đẩy đến sự mất cân bằng sinh thái; dẫn đến nhiều thảm hoạ, đe doạ không riêng một quốc gia nào: Thay đổi khí hậu toàn cầu; Ô nhiễm môi trường
Mặt khác đa dạng sinh học là vốn tài nguyên to lớn trên nhiều mặt
+ Có thể sử dụng trực tiếp gỗ, thực phẩm, lương thực, cây thuốc
+ Gián tiếp sử dụng đa dạng sinh học: Một yếu tố không thể tách khỏi sự sống của nhân loại: bảo vệ đất, ngăn chặn gió bão, điều hoà nước, điều hoà không khí
Vì những lý do trên công việc nghiên cứu đa dạng sinh học rất có ý nghĩa
- Nó đánh giá được vốn tài nguyên đối với vùng, khu vực, quốc gia, thế giới
- Nắm được những mối quan hệ trong chúng và quan hệ với những yếu tố khác: đất, nước, không khí
Chỉ có những hiểu biết sâu sắc mới có cách khai thác sử dụng chúng hợp lý, tránh được những thảm hoạ đe doạ chính chủ thể tác động vào chúng là con người
- Suy thoái đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam
Hiện nay Việt Nam cũng đang trong tình trạng chung của toàn cầu là đa dạng sinh học
bị đe doạ, có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng
Bảng 1.8: Biến động về diện tích rừng ở Việt Nam
Diện tích rừng (ha) 14.300.000 11.200.000 9.300.000 >9.400.000
Trang 18(Nguồn: thu thập từ các tài liệu của TS.Phùng Ngọc Lan, TS Đặng Huy Huỳnh, Richard B.Primack, Phân hội các Vườn Quốc gia và KBTTN Việt Nam)
- Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng hệ sinh thái
Sự mất mát và suy giảm đa dạng sinh học nói chung và các loài động thực vật và
hệ sinh thái nói riêng ở Việt Nam có thể do các nguyên nhân cơ bản sau:
(Sinh viên phân tích)
1.4 Nguyên tắc trong quản ý ưu vực
1 Tài nguyên nước trong lưu vực phải được quản lý thống nhất, không chia cắt giữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn và hạ nguồn; bảo đảm sự công bằng, hợp lý và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các tổ chức, cá nhân trong cùng lưu vực sông
2 Các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức, cá nhân phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông theo quy định của pháp luật; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyên nước mang lại và bảo đảm lợi ích của cộng đồng dân cư trong lưu vực
3 Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải trên lưu vực sông phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
4 Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước với việc bảo vệ môi trường, khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trong lưu vực sông
5 Quản lý tổng hợp, thống nhất số lượng và chất lượng nước, nước mặt
và nước dưới đất, nước nội địa và nước vùng cửa sông ven biển, bảo đảm tài nguyên nước được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu
6 Bảo đảm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, công bằng, hợp lý, các bên cùng có lợi trong bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra đối với các nguồn nước quốc tế trong lưu vực sông
7 Phân công, phân cấp hợp lý công tác quản lý nhà nước về lưu vực sông; từng bước xó hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên nước trong lưu vực sông, huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư và tranh thủ sự tài trợ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong quản lý, bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông
1.5 Nội dung quản lý lưu vực
1 Xây dựng và chỉ đạo công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông, lập danh mục lưu vực sông, xây dựng cơ sở dữ liệu và danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước lưu vực sông
Trang 192 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch lưu vực sông
3 Quyết định các biện pháp bảo vệ môi trường nước, ứng phó sự cố môi trường nước; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lưu vực sông
4 Điều hoà, phân bổ tài nguyên nước, duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông; chuyển nước giữa các tiểu lưu vực trong lưu vực sông, từ lưu vực sông này sang lưu vực sông khác
5 Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông và xử lý các vi phạm quy định về quản lý lưu vực sông; giải quyết tranh chấp giữa các địa phương, giữa các ngành, giữa các tổ chức và cá nhân trong khai thác, sử dụng, thụ hưởng các lợi ích liên quan đến môi trường, tài nguyên nước trên lưu vực sông
6 Hợp tác quốc tế về quản lý, khai thác và phát triển bền vững lưu vực sông; thực hiện các cam kết về nguồn nước quốc tế trong lưu vực sông mà đã ký kết hoặc gia nhập
7 Thành lập tổ chức điều phối lưu vực sông
1.6 Lợi ích của quản ý ưu vực
Các chương trình quản lý tổng hợp lưu vực có thể tác động toàn diện đến các mặt kinh tế,
xã hội và đem lại nhiều lợi ích cho lưu vực như:
• Cấp nước: Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người và phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, cả ba nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước ngầm) ở LVS đều được khai thác sử dụng
• Chất lượng nước: Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến chất lượng nước bao gồm
địa chất, đất, địa hình, thảm thực vật, quần thể động thực vật hoang dã và khí hậu Nhưng yếu tố quan trọng hơn gây ra các vấn đề về chất lượng nước chính là các hoạt động của con người và vấn đề sử dụng đất trong lưu vực Quản lý LVS sẽ phải kiểm sóat chặt chẽ các yếu tố này
• Kiểm soát lũ: Việc cấp nước đồng thời đảm bảo chống lũ có thể là lý do quan
trọng nhất của các nỗ lực quản lý LVS Cách tiếp cận quản lý tổng hợp LVS quan tâm đến các vùng đầu nguồn và bảo vệ các vùng đất ngập nước
• Kiểm soát bồi lắng: Sự bồi lắng có thể ảnh hưởng đến chất lượng nước, sinh cảnh,
giao thông thuỷ, kiểm soát lũ và các dịch vụ du lịch, giải trí Nó còn ảnh hưởng đến các loài cá do bùn lắng trên lòng sông - nơi cần thiết cho chúng đẻ trứng, và che phủ các sinh vật đáy quan trọng trong chuỗi thức ăn
• Giao thông thuỷ: Các hoạt động giao thông thuỷ và dịch vụ cảng thường gây ô
nhiễm môi trường nước do việc xả dầu cặn và các chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng
Trang 20cũng như chất thải sinh hoạt Ngoài ra, vấn đề quan trọng nhất về mặt môi trường với các hoạt động giao thông thuỷ là sự cố tràn dầu
• Phát triển kinh tế với các công trình thuỷ điện-thuỷ lợi: Có thể thực hiện các
mục tiêu phát triển kinh tế bằng việc quản lý LVS Ở Việt Nam ngay từ những năm 80, Nhà nước đó đầu tư kinh phí xây dựng các hồ chứa để tích nước trong mùa mưa lũ và xả nước trong mùa kiệt kết hợp với phát điện, điều tiết lưu lượng dũng chảy ở hạ lưu và đẩy lùi ranh giới nhiễm mặn, đảm bảo nhu cầu cấp nước, nuôi cá, cải tạo môi trường
• Đa dạng sinh học: LVS, đặc biệt là những nơi cư trú ven sông là nơi cư trú cần
thiết và đa dạng cho nhiều quá trình và nhiều loài sinh vật, đây còn là nơi cung cấp mối liên kết giữa hệ sinh thái thuỷ sinh với hệ sinh thái vùng cao Các vùng đất ngập nước cũng đóng vai trò quan trọng tương tự trong việc duy trì đa dạng sinh học và các quá trình trong LVS Quản lý LVS là cụng cụ được sử dụng để làm tăng số lượng động thực vật hoang dã
• Bảo tồn sinh cảnh: các LVS khi được bảo vệ tốt sẽ phục vụ cho nhiều mục đích
như giải trí, bảo vệ sinh cảnh hoang dó, lọc nước và lưu giữ nước
1.7 Phát triển bền vững v chính sách đầu tư phát triển bền vững ưu vực
1.7.1 Phát triển bền vững
- Hiện nay khái niệm về phát triển bền vững lưu vực sông được hiểu là : Thế hệ ngày nay sử dụng nguồn tài nguyên nước hiện có sẽ không gây ra những rủi ro cho thế hệ sau
* Phát triển bền vững ưu vực sông được thể hiện ở: :
- Bền vững về kỹ thuật (Cân bằng cung và cầu, cân bằng giữa lượng bổ xung và lượng khai thác (đến và đi)
- Bền vững về mặt tài chính (hoàn vốn)
- Bền vững về mặt xã hội (ổn định dân số, mức sống tăng, chỉ số phát triển nhân
văn HDI (Human Development index)
- Bền vững về mặt kinh tế (phát triển kinh tế, cân bằng giữa cung và cầu, tăng trưởng GDP, GDP/ người)
- Bền vững về thể chế (khả năng lập kế hoạch, quản lý và vận hành hệ thống)
- Bền vững về môi trường (không có các tác động tiêu cực lâu dài hoặc các ảnh hưởng không thể khắc phục được)
1.7.2 Chính sách đầu tư phát triển bền vững lưu vực
1 Nhà nước ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững lưu vực sông, bao gồm:
Trang 21a) Công tác điều tra cơ bản môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông; xây dựng Danh bạ dữ liệu môi trường - tài nguyên nước và hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo về môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông;
b) Lập và triển khai thực hiện quy hoạch lưu vực sông, kế hoạch phòng, chống ô nhiễm, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, kế hoạch điều hoà phân bổ nguồn nước
và phát triển tài nguyên nước của lưu vực sông
2 Xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án quản lý tổng hợp nguồn nước trong lưu vực sông, bảo đảm cân đối nguồn nước trên quy mô quốc gia và từng vùng nhằm đáp ứng nhu cầu nước phục vụ cho đời sống dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội bền vững
3 Đầu tư phát triển bền vững lưu vực sông là đầu tư phát triển Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân, cộng đồng xã hội tham gia đầu
tư quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên nước trong lưu vực sông và phòng, chống tác hại do nước gây ra
4 Mở rộng và thu hút các nguồn vốn quốc tế cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước lưu vực sông
Trang 22CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ LƯU VỰC
2.1 Cơ sở khoa học trong quản lý lưu vực
2.1.1 Tính cấp bách của quản lý nguồn nước
Nguồn nước mang những tính chất như sau:
+ Tính hiệu ích: Khả năng đáp ứng cho nhu cầu của con người và thiên nhiên, cho
sản xuất, ngành nghề
+ Tính ngọt của nước: Phần lớn con người và sinh vật trên lục địa phụ thuộc vào
nguồn nước ngọt, được cung cấp chủ yếu từ Giảng thủy
+ Tính sạch của nước: Con người không sử dụng nước bất kỳ mà cần có độ trong
sạch nhất định Độ sạch phụ thuộc vào mục đích sử dụng
Ví dụ: Trong y tế, chế biến thực phẩm, ăn uống – đòi hỏi có độ sạch cao nhất và trong các ngành khác yêu cầu độ sạch thấp hơn Nhà nước đã xác định tiêu chuẩn độ sạch đối với từng loại hoạt động khác nhau
+ Tính ổn định của nguồn nước: Phần lớn đều sử dụng nước tại chỗ và đảm bảo
tính ổn định.Tính ổn định của dòng chảy: Nguồn nước thất thường sẽ làm giảm mức an toàn cho sản xuất và đời sống Các hiện tượng tự nhiên liên quan đến tính kém ổn định của dòng chảy, vì vậy cần điều tiết dòng chảy để giảm nhẹ thiên tai
Như vậy, cần thiết có các giải pháp để bảo vệ và quản lý nguồn nước nhằm cải thiện tính chất cơ bản của nguồn nước
2.1.2 Đặc điểm cấu trúc của lưu vực
Cấu trúc lưu vực là thuật ngữ dùng nói đến đặc điểm các bộ phận hợp thành lưu vực như:
- Số lượng, diện tích và phân bố hồ đập, sông suối
Cấu trúc lưu vực có ảnh hưởng quyết định đến quá trình tích lũy, vận chuyển cũng như toàn bộ các đặc điểm của nước
Trang 23Một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả cấu trúc lưu vực như:
- Đường phân thủy mặt: Là đường nối liền các dông, núi, đồi, gò liên tiếp bao
quanh lưu vực Nước mưa rơi vào diện tích trong đường phân thủy mặt sẽ chảy vào sông suối của lưu vực Ngược lại, thì sẽ chảy vào sông suối của lưu vực khác xung quanh
- Đường phân thủy ngầm: Là đường phân chia ngầm dưới mặt đất, nếu nước
ngấm xuống lớp đất sâu trong đường phân thủy ngầm sẽ chảy vào sông suối của lưu vực, hoặc ngược lại chảy vào sông suối của lưu vực khác
- Dòng chảy (Sông suối): Được tạo lên bởi 2 nguồn chính là dòng chảy mặt và
- Mạch ngầm và khe dò; Là nơi những lớp đá không thấm nước bị đứt gẫy tạo
thành đường dẫn nước xuống các lớp đá dưới sâu
- Sông chính: Là sông lớn nhất trong lưu vực, thường có nước quanh năm Sông
nhánh là sông nhỏ hơn, thường dốc hơn và bị cạn theo mùa
- Lưu vực con: Là bộ phận của lưu vực, và có quá trình tích lũy và vận chuyển
nước tương đối độc lập với những lưu vực con khác
2.1.3 Sự thay đổi của các nguồn tài nguyên chính trong lưu vực
Trong lưu vực sự biến đổi của thành phần này luôn kéo theo sự biến đổi của những thành phần khác, những cải thiện hoặc dẫn đến thoái hóa thành phần này dẫn đến sự biến đổi theo chiều hướng cải thiện hoặc làm thoái hóa các thành phần khác
2.1.4 Các bộ phận tích ũy nước và quá trình thủy văn
2.1.4.1 Những bộ phận ích ũy nước rong ự nhiên b o gồm:
Nước trong khí quyển: Nước ron khíquyển ồn ạichủ yếu ở hể k í phụ huộc
1) Độ cao so với mặt đất Càng ên c o ro g khí quyển hì hàm ượn hơi nước
Trang 242) Điều kiện địa ý, vật lý địa phươn : ở vùn mặt nước như biển, hồ, sông
3) Điều kiện hời t ết Hàm ượng nước rong khí quyển hường ăng ên mùa hè,
Nước giáng thủy được giữ ại trong thực vật.
Nước thấm xuống đất Phần ớn ượng giáng hủy có hể ọt qua án h ặc chảy
+ Ngấm xuốn đất heo hang hốc độn vật rễ c y mục, c c khe và mao quản
+ Chảy rà rên bề mặt đ t Trong điều kiện rừng ự nhiên nhiệt đới lượng nước
Lượng nước sông suối: Lượn nước được dồn đến sôn suối hồ đập gồm 2
Trang 25Lượng nước được hút vào thực vật và tho t hơi trở ại không khí
2.1.4.2 Các quá rình hủy văn của nước quy mô âm phần
b Các dạng phương trình cân bằng nước
1) Dạng tổng quát: I - Q = ± ∆∆S
Trang 26Không gian của lưu vực như là 1 hệ thống, trong hệ thống lượng nước đi vào I(t)
trừ đi lượng nước đi ra Q(t) còn lại là lượng nước trong hệ thống là (∆S), phương trình ∆
được biểu thị như sau:
Trong hệ thống lưu vực: Lượng nước trong lưu vực còn được tính là :
∆
∆S = P – S – ET Trong đó : ∆∆S là lượng nước trong hệ thống lưu vực
P là lượng nước mưa
S Dòng chảy
ET là lượng nước bốc hơi
- Theo Vưsotxki, 1938:Sự cân bằng nước lưu vực có thể được biểu thị qua công thức sau
P = E+T+S+W ± ∆ ∆S
Trong đó: P: lượng nước mưa (mm)
E: lượng nước bốc hơi (mm) T: lượng thoát hơi nước (mm) S: dòng chảy bề mặt (mm) W: dòng thấm vào đất (mm)
± ∆∆S Lượng nước trong hệ thống lưu vực
2) Dạng PTCB nước phổ biến khác
- Cân bằng nước trong lâm phần:
Là tương quan giữa lượng nước thu nhận được và lượng nước mất đi Sự cân bằng này còn có thể được biểu thị bằng công thức sau:
P= I+E 1 +E 2+T+S+W+ W’
Trong đó: P: lượng mưa (mm)
I: lượng nước giữ lại trong tán cây rừng (mm)
E1: lượng nước bốc thoát hơi từ mặt đất (mm)
E2: lượng nước bốc thoát hơi từ thảm tươi (mm) T: thoát hơi nước từ trong tán rừng (mm) S: dòng chảy bề mặt (mm)
W: dòng thấm xuống đất và tầng nước ngầm (mm) W‟: sự biến đổi độ ẩm trong đất (mm)
Trang 27Trong công thức trên chúng ta cần chú ý đến những ảnh hưởng của rừng đối với cân bằng nước như sau:
(I) Lượng nước trong tán cây rừng: Phụ thuộc vào các nhân tố: kiểu rừng, tuổi, thành
phần loài cây, độ tàn che và dạng sống của cây rừng, điều kiện khí tượng, lượng mưa và cường độ mưa, thực vật che phủ, gió, ẩm độ, nhiệt độ không khí, thời tiết và mùa trong năm Thông thường thì I trong khoảng 30 -35% tổng lượng mưa, ở rừng lá kim I = 20-40%, rừng lá rộng I = 12-25% tổng lượng mưa
(E) Lượng nước bốc hơi: Trong rừng lượng nước bốc hơi ít hơn ngoài chỗ trống và
thường phụ thuộc vào tán rừng và độ dày của tán, lượng nước trong tán các tầng, cấu trúc rừng, cường độ mưa, ẩm độ, nhiệt độ không khí và gió, đất, thời tiết và mùa trong năm
Thông thường lượng bốc hơi từ mặt đất ở trong rừng khoảng E = 10-25% tổng lượng mưa, lượng bốc hơi lớn nhất từ lớp đất mặt và lớp thảm tươi được quan sát thấy ở rừng thông thưa và ít nhất ở rừng lá rộng có mật độ cao Nếu so với chỗ trống thì lượng bốc hơi từ thảm tươi ở rừng thông thấp hơi từ 3 - 4 lần
(S) Dòng chảy bề mặt phụ thuộc vào độ dốc và chiều dài sườn dốc, cường độ và thời
gian kéo dài trận mưa, kết cấu và độ ẩm đất, độ cao của địa hình, cây bụi thảm tươi và thảm mục, thành phần cơ giới và độ dày tầng đất Thông thường ở rừng chưa bị tác động thì dòng chảy bề mặt khoảng 2% tổng lượng mưa, còn ở nơi đất chặt, tầng mùn, thảm mục bị phá hoại thì dòng chảy bề mặt rất lớn ở rừng tạo ra các điều kiện thuận lợi để chuyển dòng chảy bề mặt thành dòng thấm xuống đất và tầng nước ngầm
(W): Dòng chảy ngầm, dòng thấm vào đất: phụ thuộc bởi tổng lượng nước bốc hơi, càng
bốc hơi nước nhiều thì càng ít nước thấm vào đất và xuống tầng ngầm ảnh hưởng của rừng đến lượng nước thấm phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái và thực trạng của rừng Nhìn chung rừng có khả năng tích luỹ nước trong đất và nâng cao trữ lượng nước ngầm, đặc biệt ở những nơi thường xuyên có lượng nước bổ sung cho tầng ngầm Dòng chảy xuống đất phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm vật lý của đất như độ tơi xốp, độ chặt, thành phần cơ giới và độ ẩm của đất, thảm mục và mùn của lớp đất mặt cũng như lượng mưa
và cường độ mưa
Trong thực tế kinh doanh rừng chúng ta cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng nêu trên để điều chỉnh cấu trúc rừng nhằm quản lý, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn nước cũng như việc phòng chống xói mòn, rửa trôi, thoát hóa đất và phòng chống lũ lụt hạn hán
- PTCB nước rong ưu vực sông
+ Khái niệm: Tổn đại số của quá rình hu và chi nước của ưu vực gọi là phương
Trang 28+ Nguy n ý câ bằng nước ron ưu vực:„Trên một lưu vực nhất định,tron một
X + Z1 + Y1 + W1 = Z2 + Y2 + W2 + U2 – U1
- Căn cứ vào nguy n ý cân bằng nước a có hể xây dựng phương rình cân bằng cho các rường hợp cụ hể như sau :
+ Đối với lưu vực kín: Lưu vực k ôn có dòng chảy mặt và d ng chảy ngầm ừ
+ Đối với lưu vực kín ho n oà : Lưu vực k ông có dòn chảy vào và ra khỏi lưu
+ Đối với lưu vực hở: Là ưu vực có đầy đủ c c hành phần nước chảy vào và chảy
Trang 292.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy bề mặt, hạn hán, xói mòn n
1) Chế độ khí hậu: Những yếu tố ảnh hưởng rõ rệt nhất là lượng mưa và phân bố
Sự phân phối không đều của lượng mưa là nguyên nhân phân bố không đầu của độ
ẩm đất trong lưu vực, phân bố không đều của dòng chảy sông suối theo đặc điểm biến động của dòng chảy hàng năm, người ta phân thành mùa lũ và mùa cạn:
+ Lượng dòng chảy mùa lũ có thể chiếm tới 70-80% tổng lượng dòng chảy cả năm + Lượng dòng chày mùa cạn chủ yếu do nước ngầm cung cấp, chiếm 20-30% lượng dòng chảy cả năm
- Ảnh hưởng của nhân tố mưa tới xói mòn đất, dòng chảy tương đối phức tạp và phụ thuộc vào đặc điểm của mưa, trong đó tình hình phân bố mưa trong năm, lượng mưa
và cường độ mưa giữ vai trò quan trọng Những nơi lượng mưa lớn, phân bố tập trung theo mùa thì lượng đất xói mòn và dòng chảy rất cao Số liệu nghiên cứu ở Kon Hà Nừng (tỉnh Gia Lai) cho thấy lượng mưa ở đây tập trung chủ yếu vào tháng 10 và 11 (chiếm 44,8% lượng mưa cả năm), lượng đất xói mòn và dòng chảy mặt ở các tháng này chiếm từ 64,1% đến 68,6%; ở những nơi có lượng mưa thấp như ở Ninh Thuận và Bình Thuận, thường bị khô hạn và có nguy cơ sa mạc hóa lớn
Tiềm năng gây xói mòn của mưa còn có quan hệ chặt chẽ với cường độ của từng trận mưa Nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng xói mòn của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nguy hiểm hơn vùng ôn đới vì 40% lượng mưa rơi ở hai vùng này lớn hơn ngưỡng mưa gây xói mòn (25 mm/h), trong khi đó chỉ có 5% lượng mưa vùng ôn đới vượt quá ngưỡng này
Nghiên cứu của TS Nguyễn Trọng Hà ở Hoà Bình, Hà Tây, Thái Nguyên,… cho thấy cường độ các trận mưa qúa ngưỡng 25 mm/h đều chiếm trên 40%
Trang 30- Độ tàn che và che phủ của thảm thực vật: Tán rừng tự nhiên lá rộng thường xanh
độ tàn che 0,7-0,8 có thể ngăn cản được 9,51-11,67% lượng nước mưa; rừng có độ tàn che 0,3-
0,4 ngăn cản được 5,72% lượng nước mưa Nếu giảm độ tàn che từ 0,7-0,8 xuống 0,3-0,4 thì lượng đất xói mòn sẽ tăng 42,2%, dòng chảy mặt tăng 30,4% (Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải – 1997)
VD: Đất trồng lạc độ che phủ 10-15% thì độ vẩn đục dòng chảy là 7,62%; đất trồng ngô che phủ 30-50% độ vẩn đục 1,35%; đất trồng cà phê lâu năm che phủ 85-97% thì độ vẩn
đục 0,34% (Nguyễn Quang Mỹ - 1984)
-Tầng tán rừng: Cùng ở độ tàn che 0,7-0,8, tán rừng 3 tầng ngăn cản được 11,67%,
rừng 2 tầng ngăn cản được 9,51% và rừng một tầng ngăn cản được 6,91% tổng lượng nước mưa rơi Tầng thảm tươi cây bụi có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hạn chế xói mòn và dòng chảy mặt Khi có lớp thảm tươi và 1 tầng cây gỗ nhỡ và ở phía trên thì chúng đã phát huy được chức năng phòng hộ tương đương rừng 3 tầng Vì vậy, trong công tác xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn nên tạo và duy trì rừng nhiều tầng, trong đó cần chú ý nuôi dưỡng và bảo vệ tầng thảm tươi dưới tán rừng
- Loài cây: Mỗi loài cây có đặc tính sinh học khác nhau, đặc biệt là về hình thái, đặc điểm
tán lá và hệ rễ cây,… vì vậy, chúng có ảnh hưởng khác nhau tới khả năng điều tiết nước
và xói mòn đất
VD: Tán cây Thông ba lá ngăn cản được 16,3% lượng nước mưa rơi, Tếch ngăn cản được 13,5%, Keo lá tràm 11,9% và Long não ngăn cản được 10,6%
- Lớp thảm mục rừng: Nhờ có lớp cây xanh và lớp thảm mục che phủ nên độ ẩm của tầng
đất mặt (0-30 cm) vào những ngày nắng ở trong rừng luôn luôn cao hơn so với ngoài đất trống, trảng cỏ và cây bụi từ 2 - 4 lần Lượng vật rơi, lá rụng trong rừng hỗn loại lá rộng thường xanh nhiệt đới là rất đáng kể, dao động từ 10-12 tấn/ha; đối với rừng trồng lượng rơi rụng dao động 4-7 tấn tuỳ loài cây và mật độ trồng Vật rơi rụng ở trạng thái thô có thể hút được lượng nước bằng 1,38 lần trọng lượng khô của nó (138,33%), còn nếu lớp thảm mục đã phân huỷ 30 - 40% thì có thể hút được lượng nước gấp 3,21 lần Trên 1 ha rừng tự nhiên, lớp thảm mục có thể hút được 35.840 lít nước, tương đương với một trận mưa 3,6
mm (Võ Đại Hải – 1996) Do đó, đối với những khu rừng phòng hộ đầu nguồn cần nghiêm cấm việc thu lượm vật rơi rụng và lớp thảm mục làm chất đốt, để phân huỷ tự nhiên và che phủ đất
3) Điều kiện địa hình, thổ nhƣỡng
Trang 31Địa hình có liên quan chặt chẽ với khí hậu và thổ nhưỡng, tạo thành phần quan trọng phân bố lại nguồn năng lượng mặt trời, tạo ra hiện tượng che chắn gió và mưa Địa hình ảnh hưởng đến tiểu khí hậu, là thành phần tạo ra chế độ thoát nước khác nhau, quyết định đến quá trình hình thành đất Ngoài ra địa hình còn có một liên quan đến sản xuất, vì vậy trong phân vùng lập địa phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp thành phần địa hình được khai thác thêm khía cạnh sản xuất, căn cứ vào độ dốc của chúng, các nhà sản xuất và đầu tư đã thấy được khó khăn hoặc thuận lợi, dự toán về vốn phải bỏ ra ban đầu cho mỗi đơn vị sản xuất cụ thể
Trong các yếu tố địa hình thì độ dốc, chiều dài sườn dốc, độ cao tương đối và đặc điểm bề mặt dốc là có ảnh hưởng lớn đến xói mòn đất và dòng chảy Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1997) cho thấy độ dốc tăng từ 100 lên 150 thì lượng đất xói mòn tăng 52,4%, dòng chảy mặt tăng 33,5%; chiều dài sườn dốc tăng lên 2 lần thì lượng đất xói mòn tăng lên xấp xỉ 2 lần, dòng chảy mặt tăng 58,1% (trên đất lâm nghiệp), xói mòn đất tăng lên gần 3 lần (trên đất trồng cà phê)
Bề mặt dốc có dạng lồi thì lượng đất xói mòn tăng từ 2-3 lần so với sườn dốc thẳng, sườn dốc có dạng lõm thì xói mòn yếu hơn
Độ cao tương đối và tuyệt đối có ảnh hưởng khá phức tạp và tổng hợp tới xói mòn đất, hạn hán và lũ Trước hết, nó ảnh hưởng tới điều kiện khí hậu như gió, mưa, độ ẩm, nhiệt độ,… do đó ảnh hưởng tới quá trình hình thành và đặc điểm thảm thực vật Những đai cao khác nhau sẽ hình thành các đai nhiệt, ẩm, mưa và thực vật khác nhau, ở những nơi có độ chênh cao lớn thì sự khác biệt của các yếu tố càng lớn Ảnh hưởng của độ cao
sẽ trở nên phức tạp hơn khi có sự thay đổi cục bộ của yếu tố địa hình, ví dụ hướng núi, hướng gió,… Đèo Hải Vân ở miền Trung và dãy núi Trường Sơn là những ví dụ khá điển hình về vấn đề này
4 Ảnh hưởng của nhân tố xã hội
Những ảnh hưởng tích cực: Con người có thể tác động vào tự nhiên, làm thay đổi các yếu tố theo chiều hướng có lợi cho mình Những tác động quan trọng là:
Thay đổi yếu tố địa hình: Làm giảm độ dốc và chiều dài sườn dốc bằng cách san ủi đất và tạo bậc thang
Thay đổi cấu tượng và tính chất đất: Các tác động quan trọng là cày sâu, cuốc xới đất hoặc làm luống theo đường đồng mức, bón phân cho đất, trồng cây cải tạo đất
Các biện pháp kỹ thuật trồng cây: nhằm tăng cường che phủ đất, cải tạo đất, tạo ra vật cản giữ nước, đất trên sườn dốc,… Kỹ thuật hay áp dụng gồm: Trồng cây theo hàng trên đường đồng mức, trồng kết hợp giữa cây nông nghiệp với cây lâm nghiệp (nông lâm kết hợp), tạo băng xanh, cây cải tạo đất chống xói mòn trên sườn dốc,