1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN chuyên ngành logistics và quản lí chuỗi cung ứng đề tài cơ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO (DSU)

19 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 171,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của W

Trang 1

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC NG Đ I H C ẠI HỌC ỌC TH ƯƠNG MẠI NG M I ẠI HỌC

KHOA MARKETING

-*** -BÀI TIỂU LUẬN Chuyên ngành: Logistics và quản lí chuỗi cung ứng

Học Phần: Luật thương mại quốc tế

ĐỀ TÀI: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

TRONG WTO (DSU)

Hà Nội, Ngày 28 tháng 02 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết 4

2 Cơ chế ra quyết định 6

2.1 Cơ chế ra quyết định: Nguyên tắc đồng phủ định 6

2.2 Tính tối ưu hoá của nguyên tắc đồng phủ định 6

3 Các loại tranh chấp (Các loại khiếu kiện) 7

3.1 Khiếu kiện có vi phạm 7

3.2 Khiếu kiện không vi phạm 7

3.3 Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” 8

4 Trình tự giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU) 8

4.1 Tham vấn (Consultation) 8

4.2 Môi giới, Trung gian, Hoà giải 9

4.3 Thành lập Ban hội thẩm (Panel Establishment) 9

4.4 Hoạt động của Ban hội thẩm (Panel Procedures) 10

4.5 Thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm (Adoption of Panel Report) 11

4.6 Trình tự Phúc thẩm (Appellate Review) 11

4.7 Khuyến nghị các giải pháp (Recommended Remedies) 12

4.8 Thi hành (Implementation) 12

4.9 Bồi thường và trả đũa 12

4.10 Trọng tài 13

5 Những ưu tiên dành cho các quốc gia đang phát triển 13

5.1 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong giai đoạn tham vấn 14

5.2 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong giai đoạn xét xử 14

5.3 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong giai đoạn thực thi phán quyết 14

5.4 Đối xử đặc biệt đối với các Thành viên kém phát triển nhất 15

5.5 Trợ giúp pháp lý 15

6 Ví dụ về giải quyết tranh chấp trong WTO 16

6.1 Nguyên nhân xảy ra tranh chấp 16

6.2 Tiến trình tranh chấp 16

6.3 Tài liệu chi tiết về vụ kiện trên Website của WTO 18

KẾT LUẬN 18

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947) WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đang được các nước đang phát triển sử dụng như một công cụ có hiệu quả để giải quyết tranh chấp thương mại với các nước phát triển Xét về toàn cục thì Cơ chế này là một bước phát triển tiến bộ theo hướng công bằng hơn trong quan hệ thương mại quốc tế

Trang 4

1 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết

Trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tranh chấp giữa các thành viên sẽ được giải quyết bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Body, viết tắt là DSB) DSB được thành lập trên cơ sở của thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục về việc giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding, viết tắt là DSU) Thỏa thuận này là kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Uruguay và là một trụ cột quan trọng của WTO Về cơ bản, đây là cơ chế chung giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO liên quan đến các quy định của WTO

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) nằm dưới quyền kiểm soát của Đại hội đồng của WTO Thực chất, cơ quan này cũng bao gồm tất cả các thành viên của Đại hội đồng Điểm khác biệt so với Đại hội đồng là DSB có Chủ tịch và quy tắc hoạt động riêng

DSB có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm và thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, duy trì sự giám sát việc thực hiện các phán quyết và khuyến nghị trong giải quyết tranh chấp, cho phép tạm hoãn việc thi hành những nhượng bộ và nghĩa vụ theo các hiệp định có liên quan Đây là cơ quan điều hành, ra quyết định và thông qua Báo cáo của các cơ quan chuyên trách

Trang 5

Cụ thể:

- Ban hội thẩm:

+ Là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp

+ Do DSB thành lập, gồm 3- 5 hành viên có nhiệm vụ xem xét vụ việc và đưa ra các khuyến nghị trên cơ sở các quy định của WTO

+ Các thành viên này được lựa chọn trong số các quan chức của chính phủ và/hoặc các chuyên gia phi chính phủ Điều kiện: Không thuộc quốc tịch của các bên tranh chấp và không được là quốc gia cùng thành viên trong một liên minh thuế quan hoặc trong một thị trường chung với một trong các bên tranh chấp

+ Tổ chức theo quy chế không thường trực, được thành lập trên cơ sở có vụ việc phát sinh

và được yêu cầu giải quyết tại DSB Ban hội thẩm hoạt động độc lập Kết quả của công việc của Ban hội thẩm là một bản báo cáo Bản báo cáo này được trình lên DSB để DSB thông quan

- Cơ quan phúc thẩm AB

+ Do DSB thành lập Được coi là cấp xét xử thứ hai trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp của WTO

+ Là cơ quan có quy chế thường trực, bao gồm 7 thành viên có nhiệm kỳ 4 năm (có thể được bầu lại 1 lần) Là những chuyên gia, có kinh nghiệm chuyên môn đã được chứng minh trong các lĩnh vực pháp luật, thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm

vi điều chỉnh của các hiệp định có liên quan

+ Trong số 7 thành viên, chỉ có 3 thành viên (lựa chọn luân phiên) được xét xử trong các

vụ việc cụ thể (thành lập nhóm làm việc - Working groups)

+ Nhiệm vụ của AB là chỉ xem xét những vấn đề về mặt pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm, chứ không giải quyết lại nội dung vụ việc Điều đó cũng

có nghĩa là khi có Báo cáo của Ban hội thẩm, các bên tranh chấp chỉ được quyền kháng cáo lên AB khi thấy rằng Báo cáo này có những vấn đề về mặt pháp lý chưa đúng, hoặc chưa giải thích đúng các quy định của các hiệp định có liên quan của Ban hội thẩm Kết quả của công việc này là một Báo cáo Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc làm thay đổi các khuyến nghị ở trong Báo cáo của Ban hội thẩm

Trang 6

2 Cơ chế ra quyết định

2.1 Cơ chế ra quyết định: Nguyên tắc đồng phủ định

Quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ định (Điều 2.4: Khi những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này quy định DSB phải ra quyết định, thì DSB phải ra quyết định này trên cơ sở đồng thuận ;và ghi chú 1 DSU) Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) tự động thành lập Ban hội thẩm và thông qua báo cáo của Ban hội thẩm

và Cơ quan Phúc thẩm, trừ khi có sự đồng thuận không nhất trí làm như vậy Đây được gọi

là quy tắc “đồng thuận nghịch” hay “đồng thuận phủ định” Quy tắc này giúp cho các báo cáo của Ban hội thẩm hay của Cơ quan phúc thẩm sẽ luôn được thông qua trừ trường hợp

có sự đồng thuận phản đối Báo cáo Điều đó có nghĩa là khi một Báo cáo được trình lên DSB để xem xét, báo cáo này sẽ luôn được coi là đã được DSB quyết định đồng thuận thông qua, nếu không có Thành viên nào tại cuộc họp của DSB chính thức phản đối quyết định đã được đề xuất

Trong Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU), quyền của các bên, nhất là bên có biện pháp bị kiện, trong việc ngăn cản việc thành lập Ban hội thẩm hoặc thông qua báo cáo đã bị loại bỏ

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này Quốc gia thành viên bị khiếu nại không có

cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo các thủ tục của

cơ chế này => Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết các tranh chấp quốc tế đang tồn tại (thẩm quyền giải quyết của các cơ chế truyền thống không có tính bắt buộc

mà phụ thuộc vào sự chấp thuận của các quốc gia liên quan)

2.2 Tính tối ưu hoá của nguyên tắc đồng phủ định

Với nguyên tắc đồng thuận phủ định này, DSB đã khắc phục được hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp trước đó của GATT 1947

Trước đây, các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT

1947 luôn có nguy cơ không được thông qua do cơ chế thông qua quyết định được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận khẳng định Theo đó, việc thành lập Ban hội thẩm hay thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm chỉ có thể được thông qua khi không có sự phản đối chính thức từ bất kỳ bên tham gia nào của GATT 1947

Đây chính là điểm yếu của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 Do các quyết định thành lập Ban hội thẩm hay thông qua báo cáo đều có thể bị bên bị khiếu kiện cản trở Dù trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947 không luôn trong tình trạng như vậy Các bên ký kết là bị đơn thường không ngăn cản các quyết định đồng thuận

và cho phép tiến hành giải quyết các tranh chấp với sự tham gia của họ, ngay cả khi quyết định đó sẽ có hại cho họ Họ làm như vậy vì những lợi ích lâu dài của mình vì biết rằng việc sử dụng thái quá quyền phủ quyết sẽ bị các bên khác trả đũa lại tương tự Vì vậy, các Ban hội thẩm cũng đã được thành lập và các báo cáo của họ thường được thông qua mặc

dù cũng bị trì hoãn

Tuy nhiên, cơ chế thông qua quyết định này của GATT 1947 đã làm cản trở các bên đưa tranh chấp ra giải quyết Thực tế cho thấy có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa

Trang 7

ra trước GATT vì bên khiếu kiện lo ngại rằng bên bị khiếu kiện sẽ dùng quyền phủ quyết Nguy cơ của việc dùng quyền phủ quyết cũng đã làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT Ngoài ra, việc sử dụng quyền phủ quyết đã diễn ra trong thực tiễn, đặc biệt là trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc quan trọng về kinh tế, như chống bán phá giá Hệ quả là vào những năm 1980, hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã suy yếu dần, do các bên ký kết, đặc biệt là Cộng đồng châu Âu, Mỹ, thường cản trở việc hành lập Ban hội thẩm và việc thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm

Việc các báo cáo của Ban hội thẩm có nguy cơ bị cản trở, không thông qua cũng làm ảnh hưởng tới nội dung các phán quyết của Ban hội thẩm Ban hội thẩm biết trước rằng báo cáo của họ cũng phải được bên thua kiện chấp thuận thì mới được thông qua Vì vậy, động cơ đưa ra phán quyết không chỉ dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của vụ kiện, mà còn phải tính đến một giải pháp mang “tính ngoại giao” bằng việc đưa ra một thỏa hiệp mà cả hai bên (bên khiếu nại và bên bị khiếu nại) đều có thể chấp nhận được

=> Những yếu kém về mặt cơ cấu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT là rất đáng kể, dù cuối cùng nhiều tranh chấp cũng đã được giải quyết Trước thực trạng trên , WTO đã thay đổi lại cơ chế thông qua quyết định giải quyết tranh chấp của DSB

3 Các loại tranh chấp (Các loại khiếu kiện)

Các khiếu kiện có thể được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được qui định tại Điều XXIII.1 GATT 1994 bao gồm:

3.1 Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint)

Là khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo qui định tại Hiệp định (trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên) Cụ thể là theo Điều XXIII:1(a) GATT 1994 (được kết hợp bởi Điều 64 Hiệp định TRIPS), khiếu kiện vi phạm xảy ra khi có sự triệt tiêu hoặc làm suy giảm lợi ích” của một thành viên do một thành viên khác “không thực hiện nghĩa vụ” của mình Việc

“không thực hiện nghĩa vụ này” là đề cập đến sự không phù hợp của chính sách, pháp luật nước thành viên WTO với Hiệp định đã ký kết (trong trường hợp cụ thể là Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHTT như điều khoản kết hợp của Hiệp định TRIPS)

Ví dụ: Vụ kiện của Mỹ đối với Mexico về các biện pháp chống bán phá giá về gạo

và thịt bò (DS 295) Mỹ đệ đơn ra DSB kiện Mehico đã vi phạm các điều khoản của các hiệp định: Trợ cấp và biện pháp đối kháng; Chống bán phá giá; Điều VI của GATT 1994 đối với mặt hàng gạo và thịt bò

3.2 Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint)

Là khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia thành viên ban hành một biện pháp gây thiệt hại (làm mất hay phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định – không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không Nói cách khác, theo Điều XXIII:1(b) của GATT 1994, khiếu kiện không vi phạm xảy ra trong trường hợp biện pháp

mà một thành viên áp dụng không vi phạm quy định của Hiệp định có liên quan, nhưng biện pháp đó dẫn tới “sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích” của một thành viên khác

Trang 8

Khác với khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm không cho phép áp dụng giả định hay suy đoán về sự suy giảm hay triệt tiêu lợi ích của nguyên đơn Để chứng minh yêu cầu khởi kiện, khoản 1 Điều 26 của Thỏa thuận DSU yêu cầu nguyên đơn phải chứng minh đủ 3 điều kiện: (1) thành viên WTO là bị đơn áp dụng một biện pháp; (2) biện pháp

đó có liên quan đến mục tiêu điều chỉnh của Hiệp định có liên quan; và (3) việc áp dụng biện pháp đó làm triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích của thành viên là nguyên đơn

Trên thực tế đã có một số vụ việc khiếu kiện không vi phạm giữa các thành viên WTO đã được giải quyết liên quan đến thương mại hàng hóa Tuy nhiên chưa có vụ khiếu kiện không vi phạm nào liên quan đến việc bảo hộ quyền SHTT giữa các thành viên WTO được thụ lý, xét xử

Ví dụ: DS311 do Canada khởi kiện về việc Mỹ tiến hành rà soát thuế đối kháng áp đặt lên gỗ xẻ mềm nhập khẩu từ Canada

3.3 Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint)

Là khiếu kiện dựa trên sự tồn tại một tình huống khác” Theo quy định tại Điều XXIII:1(c) GATT 1994, khiếu kiện tình huống có khả năng xảy ra khi: (1) tình huống khiếu kiện không thuộc dạng khiếu kiện vi phạm hoặc khiếu kiện không vi phạm; và (2) có

sự triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích (hoặc cản trở việc đạt được mục tiêu của Hiệp định có liên quan) Lịch sử đàm phán Điều XXIII:1(c) GATT1994 cho thấy “khiếu kiện tình huống” có mục đích để giải quyết các tình huống khẩn cấp về kinh tế vĩ mô Điều 26.2 DSU cũng yêu cầu nguyên đơn phải đưa ra bản giải trình chi tiết” hỗ trợ cho đơn yêu cầu thuộc dạng này Trong thực tế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO nói chung, tranh chấp về bảo hộ quyền SHTT nói riêng, chưa có khiếu kiện nào được giải quyết dựa trên điều XXIII: 1(c) của GATT 1994 và do vậy, quy định về khiếu kiện tình huống này vẫn chưa đi vào thực tế

Như vậy, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành

vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO) Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác Qui định này thực chất là sự kế thừa qui định trước đây của GATT 1947 về phạm vi áp dụng của cơ chế giải quyết tranh chấp: một qui định phản ánh sự mềm dẻo trong các qui định về quyền

và nghĩa vụ của các thành viên WTO theo đó một bên có thể phải nhượng bộ trong một vấn đề cụ thể (mà mình có quyền hoặc chí ít là không bị cấm) để tránh gây thiệt hại cho bên (các bên) khác hoặc nhằm đạt được một mục tiêu nhất định của Hiệp định liên quan

4 Trình tự giải quyết tranh chấp trong WTO (DSU)

4.1 Tham vấn (Consultation)

Bên có khiếu nại trước hết phải đưa ra yêu cầu tham vấn Bên kia (Điều 4 DSU) Việc tham vấn được tiến hành bí mật (không công khai) và không gây thiệt hại cho các quyền tiếp theo của các Bên Bên được tham vấn phải trả lời trong thời hạn 10 ngày và phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu (trường hợp khẩn cấp – ví

Trang 9

dụ hàng hoá liên quan có nguy cơ hư hỏng, các thời hạn này lần lượt là 10 ngày và 20 ngày) Bên được tham vấn có nghĩa vụ "đảm bảo việc xem xét một cách cảm thông và tạo

cơ hội thỏa đáng" cho Bên yêu cầu tham vấn

Thủ tục tham vấn chỉ là thủ tục được tiến hành giữa các Bên với nhau DSB được thông báo về thủ tục này và có trách nhiệm thông báo cho các quốc gia thành viên về yêu cầu tham vấn nhưng cơ quan này không trực tiếp tham gia vào thủ tục tham vấn Các quốc gia khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu Bên bị tham vấn thừa nhận rằng các quốc gia này có “quyền lợi thương mại thực chất” trong việc tham vấn này

Thông thường các quốc gia đều có gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn tham vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên đồng thời đảm bảo tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp

Tuy nhiên, các quy định về tham vấn trong WTO cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định như: làm thế nào để định lượng hoặc kiểm nghiệm được việc thực hiện nghĩa vụ

“tham vấn một cách thông cảm” của Bên được yêu cầu tham vấn; trường hợp tham vấn đạt được một thỏa thuận thì thông báo về kết quả tham vấn cần phải chi tiết đến mức nào để các Thành viên khác của WTO và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra được tính hợp pháp của thoả thuận tham vấn (tránh hiện tượng thoả thuận đạt được đơn thuần chỉ là sự thỏa hiệp

về lợi ích giữa các bên mà không dựa trên các quy định của WTO và thực tế vi phạm vẫn tồn tại…)

4.2 Môi giới, Trung gian, Hoà giải

Bên cạnh thủ tục tham vấn, DSU còn qui định các hình thức giải quyết tranh chấp mang tính “chính trị” khác như môi giới, trung gian, hoà giải Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các Bên tại bất kỳ thời điểm nào sau khi phát sinh tranh chấp (ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đã tiến hành hoạt động) Tương tự như vậy, các thủ tục này cũng có thể chấm dứt vào bất kỳ lúc nào DSU không xác định bên nào (nguyên đơn hay bị đơn) có quyền yêu cầu chấm dứt nên có thể hiểu là tất cả các bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu chấm dứt các thủ tục này

Tổng Giám đốc WTO có thể, trên cương vị công tác chính thức của mình, đưa ra sáng kiến về việc làm người môi giới, hòa giải hoặc trung gian, nhằm giúp các thành viên giải quyết tranh chấp (khoản 6 Điều 5 DSU)

Với các ưu thế nhất định như tiết kiệm được về thời gian, tiền bạc, quan hệ hữu hảo giữa các bên tranh chấp… các phương thức chủ yếu dựa trên đàm phán ngoại giao này được DSU đặc biệt khuyến khích sử dụng (Điều 3.7 DSU), và việc tìm ra được một giải pháp hợp lý thỏa mãn tất cả các bên tranh chấp có lẽ còn được coi trọng hơn cả việc đạt được một giải pháp phù hợp với các quy tắc thương mại trong Hiệp định

4.3 Thành lập Ban hội thẩm (Panel Establishment)

Yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải được lập thành văn bản sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn (Điều 6 DSU) Tuy nhiên, như trên đã đề cập, yêu cầu thành lập Ban hội thẩm có thể đưa ra trước thời hạn này nếu các bên tranh chấp đều thống nhất rằng các thủ tục tham vấn, hoà giải không dẫn đến kết quả gì Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện và

Trang 10

tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện.

Yêu cầu này được gửi tới DSB để cơ quan này ra quyết định thành lập Ban hội thẩm Nhờ có nguyên tắc đồng thuận phủ quyết nên hầu như quyền được giải quyết tranh chấp bằng hoạt động của Ban hội thẩm của nguyên đơn được đảm bảo

Thành viên Ban hội thẩm, nếu không được các bên thống nhất chỉ định trong vòng

20 ngày kể từ khi có quyết định thành lập sẽ do Tổng Giám đốc WTO chỉ định trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực luật, chính sách thương mại quốc tế

Trong trường hợp có nhiều nước cùng yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để xem xét cùng một vấn đề (ví dụ: một biện pháp thương mại của một quốc gia thành viên bị nhiều quốc gia khác phản đối) thì DSB có thể xem xét thành lập một Ban hội thẩm duy nhất Nếu vẫn phải thành lập các Ban hội thẩm riêng rẽ trong trường hợp này thì các Ban hội thẩm này có thể có chung các thành viên và thời gian biểu sẽ được xác định một cách hài hoà để các thành viên này hoạt động một cách hiệu quả nhất

Bất kỳ quốc gia thành viên nào có quyền lợi thực chất trong vấn đề tranh chấp đều có thể thông báo cho DSB về ý định tham gia vụ việc với tư cách là Bên thứ ba Các Bên thứ

ba này được tạo điều kiện để trình bày ý kiến bằng văn bản trước Ban hội thẩm

4.4 Hoạt động của Ban hội thẩm (Panel Procedures)

Ban hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các Hiệp định của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp

Về nghĩa vụ chứng minh của các bên: Theo tập quán hình thành từ GATT 1947, trường hợp khiếu kiện có vi phạm thì Bên bị đơn có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm của Bên đó không gây thiệt hại cho Bên nguyên đơn; trường hợp khiếu kiện không có vi phạm thì Bên nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh hành vi không vi phạm của Bên bị đơn gây ra thiệt hại về lợi ích mà Bên đó đáng lẽ phải được hưởng theo quy định của Hiệp định hoặc chứng minh sự cản trở đối với việc thực hiện một mục tiêu nhất định của Hiệp định Đối với việc chứng minh các vấn đề khác, mặc dù DSU không có quy định cụ thể về việc này, một tập quán chung (vốn được áp dụng tại Tòa án Quốc tế) đã được thừa nhận khá rộng rãi trong khuôn khổ cơ chế này là bên tranh chấp đã đưa ra một chi tiết/thực tế có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ chứng minh cho chi tiết/thực tế đó không phụ thuộc vào việc bên đó là nguyên đơn hay bị đơn trong tranh chấp

Thủ tục hoạt động của Ban hội thẩm được quy định tại Điều 12 DSU Ban hội thẩm, sau khi tham khảo ý kiến của các Bên liên quan sẽ ấn định một thời gian biểu cụ thể cho phiên xét xử đầu tiên (các Bên trình bày các văn bản giải trình tình tiết vụ việc và các lập luận liên quan), phiên xét xử thứ hai (đại diện và luật sư của các Bên lần lượt trình bày ý kiến và trả lời các câu hỏi của Ban hội thẩm – oral hearings) Sau phiên xét xử thứ hai, Ban hội thẩm soạn thảo và chuyển đến các bên phần Tóm tắt nội dung tranh chấp của báo cáo để họ cho ý kiến trong một thời hạn nhất định Trên cơ sở các ý kiến này, Ban hội thẩm đưa ra Báo cáo tạm thời (mô tả vụ việc, các lập luận, kết luận của Ban hội thẩm) Các Bên cho ý kiến về Báo cáo này Nếu có yêu cầu, Ban hội thẩm có thể tổ chức thêm một phiên họp bổ sung để xem xét lại tổng thể các vấn đề liên quan Sau đó Ban hội thẩm soạn thảo Báo cáo chính thức để gửi đến tất cả các thành viên WTO và chuyển cho DSB thông qua

Ngày đăng: 13/04/2022, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w