Một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công ở nước ta hiện nay...17 1- Nâng cao năng lực dự báo, phân tích, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống quy
Trang 1VIỆN KHOA HỌC LÃNH ĐẠO VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
BÀI THU HOẠCH MÔN KHOA HỌC LANH ĐẠO
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA
ĐẢNG ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CÔNG Ở NƯỚC TA
Học viên: NÔNG KHÁNH TOÀN
Mã số học viên: AF210694
Lớp: Cao cấp lý luận chính trị K72.A12
HÀ NỘI, THÁNG 10 NĂM 2021
Trang 2M Ụ C L Ụ C
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I Một số lý luận chung về chính sách công 4
1 Khái niệm về chính sách công 4
2 Đặc trưng, chức năng của chính sách công 5
3 Phân loại chính sách công 8
4 Ý nghĩa của chính sách công 9
II Đặc điểm chính sách công ở Việt Nam 11
III Nội dung lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách công ở nước ta hiện nay 12
1 Hoạch định và ban hành chính sách công 12
2- Thực thi chính sách công 14
3- Đánh giá hiệu quả chính sách công 16
IV Một số giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công ở nước ta hiện nay 17
1- Nâng cao năng lực dự báo, phân tích, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống quyết sách chính trị 17
2- Nâng cao chất lượng thể chế hóa các quyết sách chính trị thông qua cơ quan nhà nước 19
3- Làm tốt công tác cán bộ trong các cơ quan tham vấn, xây dựng và thực thi chính sách 20
4- Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát “vòng đời” hệ thống chính sách của Đảng 21
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta Sự lãnh đạobiểu hiện rõ nhất ở việc Đảng lãnh đạo Nhà nước hiện thực hóa các quan điểm,đường lối, quyết sách chính trị thông qua hệ thống chính sách quốc gia, trong đó cóchính sách công - công cụ quan trọng của Nhà nước trong quản lý vĩ mô
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đúng đắn vị trí, vai trò, ýnghĩa của việc hoạch định và thực thi chính sách; các cấp ủy Đảng, chính quyền đãtập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việcphối hợp triển khai thực hiện các chính sách của nhà nước và đạt được những kết quảtích cực Tuy nhiên, quá trình từ hoạch định đến thực thi chính sách công ở Việt Namhiện nay đang gặp phải những rào cản trong khâu hoạch định và ban hành chínhsách, trong thực thi và đánh giá chính sách Để khắc phục, cần: xây dựng và hoànthiện thể chế hoạch định chính sách công theo hướng công khai, minh bạch; thiết lậpquy trình xây dựng chính sách công với sự tham gia của tất cả các bên liên quan;tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách; tăngcường đối thoại chính sách giữa Chính phủ và các nhóm lợi ích
Xuất phát từ những nhận thức trên, đồng thời trên cơ sở kiến thức được truyềnthụ từ môn Khoa học lãnh đạo trong chương trình Hoàn thiện kiến thức về Cao cấp
lý luận chính trị, tôi xin phép được chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với chính sách công ở nước ta" làm bài thu hoạch
hết môn Khoa học lãnh đạo
Trang 4NỘI DUNG
I Một số lý luận chung về chính sách công.
1 Khái niệm về chính sách công.
Chính sách công là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết cáclĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều cách hiểu,nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công
“Chính sách công là tập hợp các hoạt động của chính phủ, trực tiếp hoặc giántiếp ảnh hường đến công dân” Theo cách diễn giải chung này, chính sách côngthường chỉ được hiểu là các can thiệp của nhà nước, có ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp đến công dân và nó có nghĩa chung như là tập họp hướng dẫn “làm nhưthế nào” hay cung cấp dấu hiệu “không làm” cho các chủ thể khác trong xã hội
Ở Việt Nam, chính sách công là một môn học còn khả mới mẻ nhưng cũng cónhiều quan niệm khác nhau Tài liệu của Học viện Hành chính quốc gia quan niệmrằng: “Chính sách công là hành động của nhà nước với các vấn đề phát sinh trongđời sống cộng đồng, được thể hiện băng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy
xã hội phát triển” Hoặc có thể hiểu: “Chính sách công là quyết sách của Nhà nướcnhằm giải quyết một vấn đề chín muồi đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội của đấtnước thông qua hoạt động thực thi của các ngành, các cấp có liên quan trong bộmáy nhà nước”
Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công nhưng đều có một
số điểm chung đáng chú ý như sau:
Một là, chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là nhà nước Nhà nước ở
đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước Ở Việt Nam, Nhànước bao gồm 4 cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã); về lý thuyết, cả 4 cấp này có thểban hành và thực thi chính sách công Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách công chủyêu được ban hành bởi cấp trung ương và cấp tỉnh mà ít khi được ban hành bởi cấphuyện và cấp xã Trong khi đó, cả 4 cấp đều là cấp thực thi chính sách công
Hai là, chính sách công được trải qua quá trình nghiên cứu, lựa chọn phương án
tối ưu để giải quyết vấn đề công mà thực tiễn xã hội đang đặt ra hoặc sẽ đặt ra Mặtkhác, sự lựa chọn phuơng án chính sách công phản ánh bản chất chính trị của giaicấp cầm quyền trong xã hội
Trang 5Ba là, chính sách công phải dựa trên điều kiện cụ thể tình hình kinh tế - xã hội
nhất định hay căn cứ vào tiềm lực có thể thực thi chính sách đó trong xã hội để đạtđược mục tiêu đã đề ra
Bổn là, chính sách công là hoạt động có chủ đích nhằm giải quyết vấn đề công của
chính quyền, hướng tới sự công bằng, hài hòa, dân chủ, ổn định để phát triển xãhội
Từ những điểm chung nêu trên, có thể hiểu về chính sách công như sau: Chính sách công là công cụ của Nhà nước, do Nhà nước xây dựng, ban hành và thực thỉ nhằm giải quyết vẩn để thuộc lợi ích công cộng theo mục tiêu đã lựa chọn.
2 Đặc trưng, chức năng của chính sách công
2.1 Đặc trưng chính sách công
* Đặc trưng công cộng
Chính sách công là do nhà nước ban hành để giải quyết các vấn đề công cộngtrong xã hội nên bản thân chính sách công đã hàm chứa trong nó đặc trưng côngcộng ngay từ trong quá trình hình thành Chính sách công là đem lại lợi ích chungcho toàn xã hội hoặc một cộng đồng dưới sự điều hành, quản lý của nhà nước Đó
là đặc trưng căn bản nhất của chính sách công
Chính sách công khác biệt với “chính sách tư” là ở mục tiêu của nó Chính sách
tư là những quy định của các tổ chức, doanh nghiệp và chỉ có hiệu lực thực thi đốivới các cá nhân chịu sự quản lý điều hành của tổ chức, doanh nghiệp đó Chínhsách tư không giải quyết được những vẩn đề chung của xã hội hoặc cộng đồng màchỉ có thể giải quyết được những vấn đề trong phạm vi quản lý của tổ chức, doanhnghiệp Chính sách công giải quyết những vấn đề lớn, có tầm ảnh hưởng rộng,mang tính bức xúc trong đời sống xã hội, vì vậy, chính sách công mang đậm đặctrưng công cộng
Ví dụ, chính sách tiêm vắcxin covid 19 cho toàn dân là một chính sáchmang đặc trưng công cộng giải quyết vấn đề sức khỏe cho người dân chứ khôngphải vì mục tiêu lợi nhuận của tổ chức hay doanh nghiệp nào
* Đặc trưng chỉnh trị
Chính sách công do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của nhà nước haycủa giai cấp thống trị xã hội Ở nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của đảng
Trang 6cộng sản, chính sách thể hiện ý chí, nguyền vọng, lợi ích của giai cấp công nhân
và quần chúng nhân dân lao động Ở nước ta, chính sách do Nhà nước ban hànhdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố đảm bảo để chính sáchhướng tới đáp ứng tốt nhất lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động vàcủa cả dân tộc
Nhà nước ban hành hệ thống các chính sách công nhằm hướng tới sự côngbằng, dân chủ, ổn định và phát triển xã hội theo định hướng của Đảng Đảng lãnhđạo Nhà nước và xã hội, xây dựng đất nước hướng đến mục tiêu: dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Chính vì vậy, chính sách công mang đặctrưng chính trị rõ nét
* Đặc trưng quyền uy, cưỡng chế
Chính sách do nhà nước ban hành và được thể chế hóa thành các văn bảnquy phạm pháp luật nên buộc cơ quan thực thi chính sách chấp hành nhằm đảmbảo quyền lợi, nghĩa vụ của đối tượng chính sách Chính vì vậy, chính sách công
có đặc trưng quyền uy và tính cưỡng chế thực hiện đối với cơ quan thực thi chínhsách
* Đặc trưng giai đoạn
Thông thường, chính sách ra đời là để giải quyết vấn đề xã hội phát sinh trong quá trinh vận động và phát triển hoặc để quản lý, điều hành xã hội theo ý chí của Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của quần chúng nhân dân Do vậy, ngay từ khởi nguồn, chính sách đã mang trong nó tính thời điểm lịch sử xã hội nhất định
* Đặc trưng lợi ích
Bất kỳ chính sách nào cũng có tác động đến lợi ích của toàn xã hội hoặc mộtcộng đồng dân cư Tùy từng chính sách, phạm vi ảnh hưởng có thể là lợi ích củatoàn thể nhân dân hoặc một nhóm đối tượng xã hội nào đó Ví dụ, nước ta trong thế
kỷ XX trải qua nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Để tri ân, bù đắp phân nàonhững gia đình có người đã hy sinh hay thương tật vỉ bảo vệ nền độc lập, tự do củadân tộc, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm bù đắp một phần đối vớinhững người đã hy sinh, với thân nhân của liệt sĩ, thương binh, bệnh binh Chínhsách này đã tác động đến lọi ích của những gia đình thuộc đối tượng chính sách.Chính sách hỗ trự doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước là nhằm giúp cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện thuận lợi để tồn tại, phát triển, đem lại lợiích cho người lao động về việc làm, thu nhập, đồng thời đem lại nguồn thu thuế
Trang 7cho Nhà nước Chính sách đó đem lại lợi ích cho cả người lao động trong doanhnghiệp, lợi ích phát triển của doanh nghiệp và lợi ích gia tăng nguồn thu thuế đểChính phủ xây dựng, tái đầu tư phát triển đất nước.
2.2 Chức năng của chính sách công
Một là, chức năng tạo lập khuôn khổ thể chế Chính sách công thực hiện
chức năng tạo lập khuôn khổ thể chế cho xã hội vận hành theo quy luật, phù hợpvới từng giai đoạn phát triển cụ thể nào đó Ví dụ, thời kỳ xây dựng và phát triển xãhội theo mô hình quan liêu, bao cấp, chúng ta đã xây dựng và hoàn thiện hệ chínhsách tạo khuôn khổ thể chế để xã hội vận hành và phát triển theo mô thức đó Tuynhiên, quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, chuyển sang kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã và đang xây dựng hệ chính sách tương thích với cơchế vận hành mới để kinh tế, xã hội vận động và phát triển phù họp với mô hìnhphát triển kinh tế thị trường Trong quá trình riàỹ, chính sách là công cụ rất đắc lực
để góp phần định hình khuôn khổ thể chế tương thích cho các quy luật của kinh tếtrị trường vận hành và đem lại kết quả tốt đẹp cho kinh tế - xã hội phát triển
Hai là, chức năng định hướng và kích thích phát triển Đê định hướng một
ngành, một lĩnh vực hay một địa phương phát triển, Nhà nước có thể đề ra nhữngchính sách, đặt ra những quy định để hướng dẫn hành vi, hoạt động của các chủ thểtrong xã hội Sự định hướng thường được thể hiện bằng các quy định về nhữnghành vi được phép hoặc không được phép làm, những hành vi được khuyến khíchhoặc không được khuyến khích đối với các chủ thể trong xã hội Ngoài ra, sự địnhhướng còn được thực hiện thông qua việc Nhà nước hướng dẫn phân bổ và sử dụngngân sách cùng các nguồn lực công sẵn có khác trong thẳm quyền quản lý của Nhànước
Ba là, chức năng điều tiết các thất bại của thị trường Do những khiếm khuyết,
bất cập của thị trường và những hạn chế nằm ngay trong bộ máy nhà nước mà luôntồn tại nhiều thách thức trong quá trình phát triển Điều này dẫn đến tình trạng hoạtđộng thiếu hiệu quả, thiếu công bằng và bất bình đẳng, tiềm ẩn các nguy cơ vềxung đột lợi ích và bất ổn xã hội, dung dưỡng những nguy cơ phát triển thiếu bềnvững Điều tiết là chức năng cơ bản của nhà nước, cho phép nhà nước chủ độnggiải quyết các thách thức nói trên, kiên trì theo đuổi mục tiêu phát triển của mình.Nhờ độc quyền sử dụng quyền lực chính trị và pháp lý, nên sự điều tiết bằng chính
Trang 8sách khá hiệu quả và thực tế, nó được sử dụng rất phổ biến
Bổn là, chức năng kiềm chế Kiềm chế sự gia tăng hay phát triển những yếu tố
gây hại cho sự phát hiển xã hội, đi ngược lại truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc,xâm phạm đến lợi ích quốc gia dân tộc Để phát triển kinh tế - xã hội bền vững,chúng ta cần kiềm chế lạm phát tiền tệ, kiềm chế các tệ nạn xã hội gây nhiễu loạncác giá trị truyền thống vãn hóa tốt đẹp của dân tộc, kiềm chế sự gia tăng dân sốkhi gây bất lợi cho sự phát triển Kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh tạo ra sự bất ổn
và thiệt hại kinh tế, tinh thần cho người dân và xã hội
3 Phân loại chính sách công
Trong quá trinh điều hành và quản lý đất nước, Nhà nước sử dụng rất nhiềucác công cụ chính sách Mỗi loại chính sách đều có những yêu cầu tính đặc thù,riêng biệt cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong thực tế điều hành và quản lý đất nước cỏ rẩt nhiều cách phân loạichính sách, mỗi cách phân loại tùy thuộc vào một tiêu chí khác nhau:
Theo lĩnh vực của đời sổng xã hội, chính sách công được phân thành chính
sách kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường Cách phân loại này dựa trên sự xác định chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của từnglĩnh vực của đời sống xã hội trong quản lý nhà nước của chính phủ Trên cơ sở đó,xuất hiện các nhu cầu về chính sách lĩnh vực để giúp chính phủ điều hành, quản lýnhà nước theo lĩnh vực
Theo cấp quản lý, chính sách công có thể phân thành chính sách do trung
ương và chính sách do địa phương ban hành Thực tế hiện nay ở nước ta, bên cạnhchính sách do Nhà nước ban hành để điều hành, quản lý đất nước nói chung, cácđịa phương cũng có thẩm quyền ban hành các chính sách để đạt được mục tiêu,nhiệm vụ chung do Chính phủ trung ương yêu cầu
Theo diện ảnh hưởng, chính sách công có thể phân thành chính sách vĩ mô
và chính sách vi mô Chính sách diện vĩ mô, thông thường là các chính sách do nhànước trung ương ban hành được thể hiện ra trong các văn bản quy phạm pháp luật
có ảnh hưởng đến mọi công dân trong xã hội Chính sách diện vi mô là nhữngchính sách mà phạm vi điều chỉnh thuộc phạm vi hạn hẹp hoặc chỉ thực hiện trênđịa bàn lãnh thổ theo phân chia địa giới là tỉnh, thành phố
Trang 9Theo thời gian hiệu lực, chính sách công có thể chia thành chính sách ngắn hạn,
trung hạn hoặc dài hạn Thông thường, chính sách dự kiến thực hiện trong vòng 5năm được xem là ngấn hạn; từ trên 5 năm đến 10 năm là trung hạn; từ trên 10 nămđen 20 năm hoặc lâu hơn nữa là dài hạn
4 Ý nghĩa của chính sách công
Ý nghĩa chính trị: Chính sách công là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí,
quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích củanhà nước Tính chính trị của chính sách công biểu hiện rõ nét qua bản chất của nó làcông cụ quản trị, quản lý của nhà nước, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước vàchế độ chính trị trong đó nhà nước tổn tại Nếu chính trị của nhà nước thay đổi, tấtyếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách Điều này khẳng định chính sách công mangtính chính trị hay ý nghĩa chính trị đậm nét
Ý nghĩa pháp lý: chính sách của nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật,
nhưng pháp luật là của nhà nước nên chính sách công đương nhiên có ý nghĩa haytính pháp lý Chính sách công dựa trên cơ sở của pháp luật cũng chính là dựa trên ýchí của nhà nước, chuyển tải ý chí của nhà nước thành chính sách, công cụ quantrọng để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Ngược lại, chínhsách công cũng có mối liên hệ và tác động trở lại với pháp luật, là nguồn khơi dậysức sống của các quy phạm pháp luật Các sáng kiến pháp luật đều xuất phát, bắtnguồn từ thực tiễn triển khai thực hiện chính sách công Thực tiễn cho thấy chínhsách công chỉ có thể được thực hiện hiệu quả khi được thể chế hóa thành những nộidung, quy định cụ thể, áp dụng cụ thể như áp dụng các quy định của pháp luật Từchính sách công có thể thể chế hóa thành các quy định của pháp luật và ngược lại, từcác quy định của pháp luật có thể cụ thể hóa thành các nguyên tắc, yêu cầu trong xâydựng chính sách công
Ý nghĩa xã hội: Chính sách công là chính sách của nhà nước ban hành để thực
hiện chức năng xã hội của nhà nước, ngoài phục vụ lợi ích của nhà nước còn để phục
vụ xã hội, phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân, tạo điều kiện và định hướng cho
xã hội phát triển Chính sách công phản ánh rõ vai trò chức năng xã hội của nhà
Trang 10nước, phản ánh bản chất, tính ưu việt của nhà nước Do đó, chính sách công luônhàm chứa tính xã hội, ý nghĩa xã hội Chính sách công còn ảnh hưởng đến sự pháttriển của xã hội, nếu xã hội phản đối, chống lại chính sách của nhà nước, sẽ dẫn đếnkhủng hoảng, bất ổn định trong xã hội Một khi xã hội bất ổn định thì hệ quả tất yếu,tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhà nước Vì vậy, khi nhà nước banhành chính sách công phải đặc biệt chú ý đến yếu tố xã hội, tính chất và ý nghĩa xãhội của chính sách công.
Ý nghĩa khoa học: thể hiện ở tính khách quan, công bằng tiến bộ và sát với thực
tiễn Nếu chính sách công mang tính chủ quan duy ý chí của nhà nước sẽ trở thànhrào cản kìm hãm sự phát triển của xã hội Điều này cũng có nghĩa là việc ban hànhchính sách công của nhà nước bất thành, sẽ ảnh hưởng đến uy tín và vai trò của nhànước Nếu chính sách công nhà nước ban hành đảm bảo các yếu tố khách quan, côngbằng và tiến bộ, phù hợp với lòng dân và xã hội, phù hợp với ý chí, nguyện vọng,quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ được người dân và xã hội ủng hộ,chính sách đó sẽ được thực hiện trong cuộc sống một cách nhanh chóng, hiệu quả uytín và vai trò của nhà nước được đề cao Tính khoa học của chính sách còn thể hiện ở
ý nghĩa thực tiễn và tính thiết thực của chính sách, yêu cầu khi nhà nước ban hànhchính sách phải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, thựctại khách quan của chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Điều này cũng có nghĩa làkhi ban hành chính sách công cần phải tính đến các điều kiện các nguồn lực để duytrì chính sách, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách vào thựctiễn cuộc sống Để đảm bảo ý nghĩa thực tiễn hay tính sát thực, chính sách côngkhông thể cao hơn hay thấp hơn trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến đâu thì đề ra mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp, công cụ của chính sách công đến đó
II Đặc điểm chính sách công ở Việt Nam
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và sâu
sắc đối với chu trình chính sách
Trang 11Vai trò, sự tác động, chi phối của Đảng đối với “vòng đời” chính sách quốc gia(từ khi ban hành, thực hiện, có kết quả, rút ra bài học) trở nên thường trực, xuyênsuốt, sâu sát vào những vấn đề quan trọng đối với các chính sách then chốt của quốcgia Các hoạt động này diễn ra thường xuyên, thể hiện công khai, trực tiếp và toàndiện trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước của Đảng Bộ Chính trị, Ban Chấp hànhTrung ương Đảng bàn, ra nghị quyết về các quyết sách lớn của đất nước, căn cứ vào
đó, Nhà nước có nhiệm vụ hiện thực hóa thành các nhiệm vụ cụ thể thông qua nhiều
Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam có hệ thống phương thức chuyển tải, thể hiện
vai trò lãnh đạo hết sức đa dạng, phong phú và linh hoạt, mà ở đó thông qua Nhànước đôi khi chỉ là một trong những cách hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của Đảngthông qua chính sách công
III Nội dung lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách công ở nước
ta hiện nay.
1 Hoạch định và ban hành chính sách công
Hoạch định chính sách là khâu đầu tiên trong toàn bộ chu trình chính sách.Trong quá trình này, vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện ở nhiều khía cạnh:
Một là, xác định vấn đề và thiết lập nghị trình chính sách công.
Đối với xác định vấn đề chính sách, vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện ở địnhhướng xã hội, cân nhắc sự lựa chọn, đề xuất các vấn đề chính sách để giải quyếttrong số hàng loạt các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội đang đặt ra Điều này thểhiện rõ ở chỗ, chỉ có các vấn đề bức thiết của xã hội phù hợp với cương lĩnh, quanđiểm và đường lối của Đảng đang thực hiện thì mới được xem xét, đưa vào nghịtrình, xây dựng chính sách công Vai trò của Đảng biểu hiện ở chỗ cân nhắc, tínhtoán, đối chiếu vấn đề chính sách trong thực tiễn với hệ thống văn kiện mang tính chỉđạo Nếu phù hợp, thống nhất với định hướng chính trị của Đảng thì các vấn đề xãhội được cân nhắc sẽ trở thành vấn đề của chính sách công