Tên bản án: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T với bị đơn Công ty cổ phần G I.Những thông tin chung về bản án 1. Tóm tắt nội dung vụ án 2. Yêu cầu và lập luận của các bên 3. Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án 4. Các quy định pháp luật II. Phân tích, bình luận các vấn đề pháp lý trong bản án 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần G về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” 2. Nghĩa vụ chịu án phí III. Bài học, định hướng và kiến nghị 1. Bài học rút ra từ bản án 1.1. Bài học cho các bên trong tranh chấp 1.2. Bài học cho Tòa án 2. Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 2.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật 2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT KINH TẾ NÂNG CAO
Tên chủ đề: Pháp luật về mua bán hàng hóa Tên bản án: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T với bị đơn Công ty cổ phần G
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
- TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
- LTM: Luật Thương mại
- BLDS: Bộ Luật Dân Sự
Trang 32 Yêu cầu và lập luận của các bên
3 Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án
4 Các quy định pháp luật
II Phân tích, bình luận các vấn đề pháp lý trong bản án
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần
G về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
2 Nghĩa vụ chịu án phí
III Bài học, định hướng và kiến nghị
1 Bài học rút ra từ bản án
1.1 Bài học cho các bên trong tranh chấp
1.2 Bài học cho Tòa án
2 Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC : Toàn văn bản án
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống hiện tại, với sự phát triển của công nghệ 4.0, cuộc sống của mỗi
cá nhân, mỗi gia đình đều được cải thiện hơn, nền kinh tế của các quốc gia được phát triển hơn Để có được như vậy, cần có những diễn đàn, sự kiện hợp tác phát triển giữa các bên tham gia Và việc các công ty, doanh nghiệp, chủ thể kinh doanhhợp tác, kí kết và thực hiện các bản kí kết ngày càng phổ biến và diễn ra liên tục cũng không là ngoại lệ Những bản hợp đồng của các chủ thể kinh doanh đã tác động không nhỏ đến sự phát triển nền kinh tế của các chủ thể kinh doanh nói riêng,nền kinh tế của các quốc gia nói chung Bên cạnh những hợp đồng thành công thì
có những bản hợp đồng không những không mang lại hiệu quả mà còn trở thành những vụ án tranh chấp hợp đồng Đặc biệt, trong bối cảnh dịch Covid-19 đang hoành hành trên thế giới, làm nền kinh tế thế giới chao đảo và có phần suy yếu, thì những vụ án tranh chấp thương mại xảy ra ngày càng nhiều và ở nhiều lĩnh vực khác nhau như xây dựng, y tế, …
Chính vì vậy, em lựa chọn bản án phúc thẩm số 12/2021/KDTM – PT ngày
28/09/2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, với mong muốn qua những phân tích, bình luận có thể hiểu rõ hơn quy định pháp luật, cũng như thực tiễn những vấn đề phát sinh trong hợp đồng về tranh chấp mua bán hàng hóa
Trang 5N đã trả số tiền: 1.810.000.000đ, còn có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc còn lại là 4.190.000.000đ Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc V D N phải trả cho Công ty T số tiền 6.052.398.849đ, trong đó nợ gốc là 4.190.000.000đ, lãi chậm thanh toán tính từ ngày 03/2/2018 đến ngày 04/6/2021 với mức lãi suất 12,1%/năm(quy định tại Điều 306 Luật Thương mại) là 1.862.398.849đ V D N đồng ý trả gốc, đối với số tiền lãi, V D N không đồng ý tính từ ngày 03/02/2018 đến ngày 04/6/2021 với mức lãi suất 12,1%/năm, V D N chỉ đồng ý trả lãi từ ngày 08/2/2020đến ngày 04/6/2021 với mức lãi suất 10%/năm Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T, buộc Công ty Cổ phần G phải thanh toán cho Công ty TNHH T số tiền 5.728.024.6578; trong đó tiền nợ gốc 4.190.000.000đ, nợ lãi tính từ ngày 03/02/2018 đến ngày 04/6/2021 là
1.538.024.657đ, không chấp nhận đối với số tiền lãi 324.374.192đ mà Công ty TNHH T yêu cầu Công ty Cổ phần G phải trả Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Công ty TNHH T, bị đơn là Công ty Cổ phần G kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH
T, buộc Công ty Cổ phần G phải thanh toán cho Công ty TNHH T số tiền
6.052.398.849 đồng (sáu tỷ, không trăm năm mươi hai triệu, ba trăm chín mươi tám ngàn, tám trăm bốn mươi chín đồng); trong đó tiền nợ gốc 4.190.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 03/02/2018 đến ngày 04/6/2021 là 1.862.398.849 đồng
2 Yêu cầu và lập luận của các bên
2.1 Công ty T:
- Công ty T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc V D N phải trả cho Công ty T số tiền 6.052.398.849đ, trong đó nợ gốc là 4.190.000.000đ, lãi chậm thanh toán tính từ ngày 03/2/2018 đến ngày 04/6/2021 với mức lãi suất 12,1%/năm (quy định tại Điều 306 Luật Thương mại) là 1.862.398.849đ
-Ngày 18/6/2021, nguyên đơn Công ty T có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là
Trang 612,1%/năm theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại và Điều 11 Nghị quyết số01/2019/NQ –HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để tính lãi chậm trả, đồng thời sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T.
2.2 Công ty cổ phần G
- VDN có ký Hợp đồng mua bán với Công ty T và đã không thực hiện đúng Hợp đồng nên Công ty T đã hủy hợp đồng và yêu cầu hoàn trả lại số tiền tạm ứng
6.000.000.000đ (Sáu tỷ đồng) V D N thống nhất với số tiền đã chuyển trả và còn
nợ lại Công ty T số tiền 4.190.000.000đ Đối với số tiền tạm ứng của Công ty T, V
D N đã chuyển tạm ứng cho Công ty TNHH C để cùng thực hiện Hợp đồng mua bán số gỗ này, hiện nay Công ty Đ chưa hoàn trả lại nên công ty chúng tôi chưa có khả năng thanh toán cho Công ty T
Đối với số tiền lãi, V D N không đồng ý tính từ ngày 03/02/2018 đến ngày
04/6/2021 với mức lãi suất 12,1%/năm,V D N chỉ đồng ý trả lãi từ ngày 08/2/2020 đến ngày 04/6/2021 với mức lãi suất 10%/năm
-Ngày 16/6/2021, bị đơn V D N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị xem xét trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH C trong hợp đồng mua bán Lỗi dẫn đến V D N không giao được hàng hoàn toàn do Công ty Đ Đồng thời đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty T về việc buộc V D Nphải trả tiền lãi từ ngày 03/02/2018 đến ngày 08/02/2020
3 Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án
3.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần
G về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
-Điều 37, 306 Luật thương mại;
-Điều 11, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ –HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Trang 7-Khoản 2 Điều 26, khoản 1, 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH T;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là Công ty Cổ phần G;
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 560/QĐ –KNPT –KDTM ngày
02 tháng 7 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
Sửa một phần Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 14/2021/KDTM -ST ngày 04 tháng 6 năm 2021của Tòa án nhân dân quận Hải Châu,thành phố Đà Nẵng
II PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG BẢN ÁN
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T đối với Công ty Cổ phần G về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” :
-Về nội dung Hợp đồng mua bán gỗ ngày 17/01/2018 được ký giữa Công ty T và
V D N, V D N vi phạm nghĩa vụ giao hàng nên hai bên thống nhất hủy bỏ hợp đồng và hoàn trả tiền thanh toán đợt đầu 6.000.000.000đ cho Công ty T;V D N đã trả số tiền: 1.810.000.000đ, còn có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc còn lại là
4.190.000.000đ, các tình tiết này đều được các đương sự thừa nhận, không cần chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự
-Về việc tính lãi chậm trả: Công ty T và V D N là các thương nhân hoạt động theo Luật Thương mại, theo quy định tại khoản 1 Điều 2, khoản 3 Điều 4 và Điều 6 Luật này Công ty T đã tạm ứng cho V D N số tiền là 6.000.000.000đ, theo đúng thỏa thuận tại Điều 2 Hợp đồng mua bán V D N không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng và theo quy định tại khoản 1 Điều
37 Luật thương mại Do đó, Công ty T có quyền yêu cầu trả tiền lãi chậm trả tươngứng với nợ gốc,thời gian chậm trả là đúng theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại Bản án sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để tính lãi suất chậm trả đối với số tiền V D N chậm trả trong trường hợp này là không đúng quy định của pháp luật
-Căn cứ Điều 306 Luật thương mại, Điều 11 Nghị quyết số: 01/2019/NQ –HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn về lãi, lãi suất,phạt vi phạm và Án lệ số 09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì lãi suất chậm trả là lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng gồm Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng Nông Nghiệp Phát
Trang 8triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam có trụ sở, chi nhánh tại địa phương nơi Tòa án giải quyết tại thời điểm xét xử sơ thẩm Theo tài liệu do chi nhánh tại thành phố Đà Nẵng của ba Ngân hàng nêu trên cung cấp thì lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn trung bình lần lượt là (9,0%/năm +
8%/năm + 8,5%/năm) *150%/3 = 12,75%/năm Như vậy, mức lãi suất Công ty T
có quyền yêu cầu V D N thanh toán là 12,75%/năm Tuy nhiên, Công ty T chỉ yêu cầu mức lãi suất 12,1%/năm là phù hợp,có lợi cho V D N nên Hội đồng xét xửchấpnhận
-Về thời điểm bắt đầu tính lãi chậm trả:
V D N cho rằng do Công ty Đ chỉ phải trả tiền lãi cho V D N từ ngày 01/10/2019 nên cấp sơ thẩm buộc V D N trả lãi chậm trả từ ngày 03/2/2018 là không đúng Xét, hợp đồng mua bán gỗ ngày 17/01/2018 chỉ có V D N và Công ty T tham gia
ký kết, ràng buộc quyền và nghĩa vụ đối ứng của hai bên, không có bên thứ ba nào khác Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ có thỏa thuận giữa các bên về việc Công ty Đ phải trả tiền cho V D N thì V D N mới phải trả lại tiền cho Công ty T nên hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét
V D N chỉ đồng ý trả lãi từ ngày 08/02/2020 đến nay Tuy nhiên, như Kháng nghị phúc thẩm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã chỉ ra, tại Công văn
số 002/2020/CV –TTCN ngày 17/01/2020 của Công ty T có nêu thời hạn yêu cầu
V D N hoàn trả đến ngày 08/02/2020 nhưng hết thời hạn này V D N không có ý kiến phản hồi, cũng không thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, không được xem là thỏa thuận về thời hạn thanh toán giữa hai bên Tại Điều 3 của Hợp đồng quy định: sau khi ký hợp đồng, V D N trong vòng 15 ngày phải giao hàng cho Công ty T theo đúng chủng loại, phẩm chất như mẫu đã thống nhất và quy cách theo Điều 1 Hợp đồng này V D N vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận và quy định tại Điều 37 Luật Thương mại, phải có trách nhiệm hoàn trả ngay số tiền Công ty Tđã thanh toán nên Tòa án cấp sơ thẩm tính lãi chậm trả từ ngày
03/02/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 04/6/2021 với lãi suất 12,1%/năm,tương ứng
số tiền là 1.862.398.849đ theo yêu cầu của Công ty T là đúng pháp luật
-Đối với yêu cầu xem xét trách nhiệm của Công ty Đ: Giữa Công ty T, V D N và Công ty Đ không có thỏa thuận nào về việc V D N chuyển giao nghĩa vụ thực hiện hợp đồng mua bán gỗ ngày 17/01/2018 hoặc nghĩa vụ hoàn trả tiền tạm ứng từ VDN sang Công ty Đ, được Công ty Tđồng ý V D N phải có nghĩa vụ hoàn trả tiền tạm ứng và trả lãi chậm trả theo các quy định của pháp luật đã viện dẫn trên V
D N và Công ty Đ nếu có tranh chấp thì có thể khởi kiện trong một vụ án khác
Trang 9Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty T và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, không chấp nhận kháng cáo của bị đơnV D N;sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa đối với V D N.
Tòa án buộc Công ty Cổ phần G phải thanh toán cho Công ty TNHH T số tiền 6.052.398.849 đồng (sáu tỷ, không trăm năm mươi hai triệu, ba trăm chín mươi tám ngàn, tám trăm bốn mươi chín đồng); trong đó tiền nợ gốc 4.190.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 03/02/2018 đến ngày 04/6/2021 là 1.862.398.849 đồng
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2 Nghĩa vụ chịu án phí
- Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần G phải chịu là 114.052.398đồng (một trăm
mười bốn triệu, không trăm năm mươi hai ngàn, ba trăm chín mươi tám đồng) Hoàn trả cho Công ty TNHH T số tiền tạm ứng phí đã nộp 56.960.200đồng theo biên lai thu số 0009381 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH T không phải chịu án phí phúc thẩm Hoàn trả
cho Công ty TNHH T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000đồng, theo Biên lai thu số 5549 ngày 25/6/2021của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Công ty Cổ phần G phải chịu án phí phúc thẩm là 2.000.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000đồng, theo Biên lai thu số 5542 ngày 24/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Như vậy, Công ty Cổ phần G đã thi hành xongphần án phí phúc thẩm
III BÀI HỌC, ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ
1.Bài học rút ra từ bản án
1.1.Bài học cho các bên trong tranh chấp
1.1.1 Tìm hiểu các vụ tranh chấp tương tự với vụ mà mình đang gặp phải
Trang 10Hành động này sẽ mang lại cho chúng ta rất nhiều kinh ngiệm trong việc giải quyết vấn đề của chính mình Mở mang hiểu biết về pháp luật cũng như rút được kinh nghiệm trong hướng giải quyết tránh gặp phải những vết xe đổ thiếu sót trong lịch sử giải quyết tranh chấp
1.1.2.Tìm hiểu đối phương tranh chấp với mình:
Dân gian có câu “ biết mình biết ta trăm trận trăm thắng” vậy nên bước tìm hiểu công ty, doanh nghiệp đối đầu với mình là hành động hết sức cần thiết để chúng ta
có được những quyết định sáng suốt khôn ngoan Việc tìm hiểu sẽ cho chúng ta biết được quan điểm, khả năng và hướng đi của đôi phương nhằm đưa ra giải pháp kịp thời hiệu quả khi tiến hành giải quyết tranh chấp
1.2.Bài học cho Tòa án :
Xử lý vấn đề thiếu sót về tố tụng trong vụ án của Luật sư:
Đối với Luật sư nguyên đơn gặp trường hợp có những vấn đề thiếu sót về tố tụng, thì ngay từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ nên đề xuất để Tòa án khắc phục, nếu phát hiện có thiếu sót tại phiên tòa cũng không nên đề xuất vì phía bị đơn sẽ tập trung khai thác vào vấn đề này tại phiên tòa cũng như làm cơ sở kháng cáo dề nghị hủy bản án sơ thẩm ở giai đoạn phúc thẩm, bất lợi cho nguyên đơn
2.Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật:
Hệ thống pháp luật việt nam hiểu theo nghĩa phổ biến trong khoa học pháp lí việt nam hiện tại là hệ thống các quy phạm pháp luật được phân chia và sắp xếp theo ngành luật, chế định pháp luật và quy phạm pháp luật Sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã xây dựng được một số luật tạo khung pháp luật cho phát triển nền kinh
tế thị trường , định hướng XHCN, chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lí của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, cơ chế khuyến khích và đảm bảo đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập
Dự báo về tình hình trong nước và quốc tế có khả năng tác động tới yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng cho rằng, trong thời gian gần trước mắt, xu hướng bảo hộ cực đoan sẽ tiếp tục phát triển ở một số quốc gia, bao gồm cả các nền kinh tế lớn và quan trọng với Việt Nam, trong
Trang 11đó có việc liên tiếp tiến hành điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng nhập khẩu
“Các FTA mang lại nhiều điều khoản ưu đãi thuế quan thúc đẩy quanhệ thương mại và kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, điều này cũng mang lại nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị điều tra phòng vệ thương mại bao gồm cả lẩn tránh thuế hoặc hàng nhập khẩu cạnh tranh không lành mạnh, gia tăng đột biến”, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng nói
Thêm vào đó, Bộ Công Thương cũng đưa ra dự báo đối với những cải cách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cho đến nay, Cơ quan Phúc thẩm thuộc
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã chính thức dừng hoạt động do không đủ thành viên Do đó, việc này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ thực thi các cam kết WTO của các Thành viên, đặc biệt là về lĩnh vực phòng vệ thương mại
Về giải pháp cho những thách thức nêu trên, Thứ trưởng cho rằng, Bộ
Công Thương sẽ chủ động hoàn thiện các quy định liên quan tới công tác đào tạo
và hỗ trợ cán bộ Thương vụ tại nước ngoài để chủ động dự báo và giải quyết các
vụ kiện phòng vệ thương mại cũng như các hàng rào kỹ thuật bất lợi cho hoạt độngxuất khẩu Bên cạnh đó, tiếp tục tạo điều kiện và cơ chế thuận lợi để tham gia tích cực và hiệu quả vào các diễn đàn, hội nghị kinh tế quốc tế, qua đó tranh thủ sự ủng
hộ của bạn bè quốc tế cho các mục tiêu phát triển kinh tế-chính trị và nâng cao vị thế, tiếng nói của Việt Nam
Đồng thời, cần nhanh chóng ban hành và cập nhật bổ sung những hướng dẫn
và định hướng phát triển ngành nghề để tận dụng triệt để ưu đãi của CPTPP, trong
đó chú trọng tới việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về các quy chuẩn hàng hóa để nhận được ưu đãi thuế quan như nguồn gốc xuất xứ, vệ sinh thực phẩm, dư lượng thuốc trong sản phẩm nông nghiệp…; tăng cường công tác tuyên truyền, phổbiến thông tin về Hiệp định EVFTA và thị trường EU cho các đối tượng có liên quan (đặc biệt là cơ quan quản lý cấp trung ương và địa phương, nhà đầu tư, tổ chức tư vấn, hiệp hội ngành nghề, cộng đồng doanh nghiệp, )
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
Thứ nhất, khắc phục sự chồng chéo giữa LTM với BLDS và các luật chuyên
ngành:
Để khắc phục hạn chế này, các nhà làm luật cần nghiên cứu bỏ cách tiếp cận LTM
là luật chung áp dụng cho các hoạt động thương mại Thay vào đó, LTM sẽ là luật chuyên ngành và có vị trí tương tự như các luật chuyên ngành khác Nói cách khác,
Trang 12LTM sẽ chỉ tập trung các quy định về các hoạt động thương mại mang tính đặc thù.Đối với những hoạt động không có tính thương mại, hoặc vừa có tính chất thương mại, vừa có tính chất dân sự, thiết nghĩ nên nghiên cứu loại bỏ khỏi LTM và chỉ quy định trong BLDS hay các luật chuyên ngành để đảm bảo tính thống nhất, tránh
sự chồng chéo không cần thiết Cụ thể, BLDS 2015 đã quy định rất chi tiết về các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán tài sản, cho thuê tài sản, gia công, hay các quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Vì vậy, nếuquy định không có gì khác biệt, LTM nên lược bỏ những quy định này
Tương tự như vậy, hiện nay hoạt động đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch
vụ và quảng cáo thương mại vừa được điều chỉnh bởi LTM 2005 và các luật
chuyên ngành, bao gồm: Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Quảng cáo năm 2012 Trong đó, những quy định của LTM 2005 về những hoạt động này chỉ mang tính chung chung, khó áp dụng, thậm chí không thể áp dụng trên thực tế
Thêm vào đó, những luật chuyên ngành được ban hành sau đã có những quy định mới, phù hợp hơn với thực tiễn, khiến cho các quy định của LTM 2005 trở nên lỗi thời, lạc hậu Vì vậy, để tránh gây ra sự khó khăn cho quá trình áp dụng, các nhà làm luật cần nghiên cứu sửa đổi LTM 2005 cho phù hợp với các văn bản pháp luật chuyên ngành được ban hành sau, hoặc lược bỏ các quy định về đấu giá, đấu thầu
và quảng cáo vì đã có văn bản pháp luật điều chỉnh chi tiết
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật không phù hợp, chưa rõ ràng,
đáp ứng kịp thời sự phát triển của hoạt động thương mại và đảm bảo sự tương thíchcủa LTM với các văn bản pháp luật thương mại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Tính đến thời điểm hiện tại, LTM 2005 đã có hiệu lực thi hành được 14 20 năm Trong khoảng thời gian này đã có rất nhiều sự thay đổi của các chính sách pháp luật có liên quan, nhiều điều ước quốc tế mới được ký kết và các quan hệ thương mại cũng phát triển nhanh chóng Đáp ứng sự thay đổi không ngừng của thực tiễn thực hiện hoạt động thương mại, nhiều văn bản Luật chuyên ngành cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành LTM đã được ban hành, trong khi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định chung về hoạt động thương mại - LTM 2005 - lại chỉ được sửa đổi, bổ sung chính thức một lần duy nhất vào năm
2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), chủ yếu liên quan đến các quy định về xuấtnhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng hóa
Trang 13Vì vậy, trong thời gian tới, các nhà làm luật cần nghiên cứu khắc phục các hạn chế,bất cập trong LTM 2005, cụ thể như sau:
Một là, mở rộng, quy định rõ ràng hơn về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp
dụng của LTM 2005 Theo quy định tại Điều 2 LTM 2005, đối tượng áp dụng của LTM 2005 bao gồm: thương nhân thực hiện hoạt động thương mại và tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại Quy định này chưa bao quát được hết mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiện hoạt động thương mại trên thực
tế, bao gồm: cá nhân thực hiện hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh với nhau; cá nhân thực hiện hoạt động thương mại với thương nhân; thương nhân/cá nhân thực hiện hoạt động thương mạivới người tiêu dùng
Bên cạnh đó, quy định “tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại” không rõ ràng và cũng không có quy định hướng dẫn cụ thể Vì vậy, LTM cần
bổ sung thêm đối tượng áp dụng và quy định rõ hơn về những tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến thương mại Việc mở rộng đối tượng áp dụng không chỉ phù hợp với thực tiễn mà còn để phù hợp với các văn bản pháp luật có liên quan như Luật Trọng tài thương mại năm 2010
Hai là, sửa đổi lại khái niệm về thương nhân Theo Khoản 1 Điều 6 LTM 2005:
“thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt độngthương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Với quy định này, một trong những dấu hiệu nhận diện chủ thể kinh doanh là thương nhân
đó là: cá nhân hoạt động thương mại một cách thường xuyên Quy định này không còn phù hợp với thực tiễn khi có những cá nhân hoạt động ở khu vực “phi chính thức” cũng nhằm mục đích sinh lợi nhưng hoạt động không thường xuyên như buôn bán ô tô, bảo hiểm, bất động sản…
Bên cạnh đó, việc yêu cầu thương nhân phải có đăng ký kinh doanh cũng không phù hợp với quy định pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam là một trong số ít quốc gia còn nhận diện thương nhân theo phương thức quản lý nhà nướcđối với chủ thể này, thay vì chỉ nhận diện dựa trên bản chất thương mại của thươngnhân Quy định này đã tạo ra sự phân biệt đối xử không cần thiết giữa các chủ thể được gọi là thương nhân với các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên nhưng không đăng ký kinh doanh
Không chỉ thế, mặc dù coi “có đăng ký kinh doanh” là một trong những dấu hiệu nhận diện thương nhân, nhưng ngay tại Điều 7 LTM 2005 lại quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Trường hợp
Trang 14chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật” Với quy định này, có thể hiểu LTM 2005 vẫn thừa nhận các tổ chức, cá nhân là thương nhân ngay cả khi những chủ thể này không có đăng ký kinh doanh
Để khắc phục hạn chế này, thiết nghĩ các nhà làm luật nên nghiên cứu lại khái niệm về “thương nhân” theo hướng chỉ quy định về bản chất của thương nhân, đảmbảo mở rộng tối đa phạm vi áp dụng của LTM tới mọi chủ thể kinh doanh trong xã hội
Ba là, sửa đổi một số quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, bao
gồm: quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa quy định tại Điều 62 LTM 2005, hay quy định về thời điểm chuyển rủi ro từ Điều 57 đến Điều 61 LTM
2005 Cụ thể: bổ sung thêm các trường hợp chuyển quyền sở hữu hàng hóa và các trường hợp chuyển rủi ro đối với trường hợp hàng hóa phải đăng ký quyền sở hữu, trường hợp mua trả góp, mua dùng thử, Ngoài ra, để đảm bảo sự phù hợp với Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, LTM cần bổ sung thêm các quy định về trường hợp bên mua được yêu cầu giảm giá bán hàng hóa đối với trường hợp không từ chối nhận hàng không phù hợp với hợp đồng, haycác quy định về nghĩa vụ bảo hành hàng hóa của bên bán
Bốn là, sửa đổi các quy định về các hoạt động trung gian thương mại Cụ thể:
- Đối với hoạt động môi giới thương mại, LTM cần bổ sung quy định rõ ràng về hình thức của hợp đồng môi giới thương mại, theo hướng cho phép các bên có quyền tự quyết định hình thức của hợp đồng dưới dạng văn bản hoặc các hình thức
có giá trị pháp lý tương đương văn bản
-Đối với hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa, LTM cần làm rõ trường hợp bên nhận uỷ thác không làm theo đúng sự chỉ dẫn của bên ủy thác nhưng mang lại lợi ích kinh tế cho bên ủy thác sẽ giải quyết như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên
- Đối với hoạt động đại lý thương mại, bổ sung thêm quy định cho phép bên đại lý
có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân để phù hợp với thực tiễn thực hiện hoạt động thương mại này
Năm là, sửa đổi, bổ sung các quy định về dịch vụ logistics và nhượng quyền
thương mại, đặc biệt là các quy định về khái niệm, điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, khái niệm và các hình thức nhượng quyền thương mại