• TÓM TẮT SÁNG KIẾN Sáng kiến “Giúp học sinh lớp 4 học tốt dạng bài Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” là sáng kiến áp dụng trong lĩnh vực giáo dục Khi áp dụng rất dễ thực hiện, ít tốn kém, an toàn Sáng kiến hướng dẫn các giáo viên đang thực hiện trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là giáo viên dạy các lớp 4 5 ở các vùng có học sinh dân tộc thiểu số các phương pháp, cách thức và biện pháp dạy học môn toán nhằm giúp học sinh có thể giải được bài toán có lời văn có dạng tương tự Sáng kiến g.
Trang 1TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Sáng kiến “Giúp học sinh lớp 4 học tốt dạng bài: Tìm hai số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó” là sáng kiến áp dụng trong lĩnh vực giáo dục Khi áp dụng rất dễ thực hiện, ít tốn kém, an toàn Sáng kiến hướng dẫn các giáo viên đang thực hiện trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là giáo viên dạy các lớp 4-5 ở các vùng có học sinh dân tộc thiểu số các phương pháp, cách thức và biện pháp dạy học môn toán nhằm giúp học sinh có thể giải được bài toán có lời văn có dạng tương tự Sáng kiến giúp giáo viên biết sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp 4,5 và đặc điểm của địa phương, giúp cải thiện việc dạy và học đối với các dạng toán cơ bản của lớp 4
Sáng kiến đã hướng dẫn vận dụng linh hoạt một số phương pháp nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Dạy cho học sinh
kĩ năng nhận biết các dạng toán, biết cách lựa chọn và phân biệt cách làm giữa các dạng toán cơ bản và tăng kĩ năng đọc hiểu đề bài Sau khi sử dụng sáng kiến
đã cải thiện được kĩ năng làm toán dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu nói riêng và kĩ năng giải các dagj toán cơ bản nói chung tại trường Tiểu học 1 xã Vũ Lăng Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nha trường Ngoài ra sáng kiến còn có thể áp dụng được đối với học sinh khối 4 các trường trong huyện và trong tỉnh
Trang 2CÁC TỪ VIẾT TẮT
- Trường Tiểu học 1 xã Vũ Lăng: Trường TH1 Vũ Lăng
- Nhà xuất bản: NXB
- Bài tập trắc nghiệm: BTTN
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ẢNH
Không có
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn sáng kiến :
Ngày nay chúng ta không ngừng đổi mới phương pháp và nội dung dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy học Đặc biệt nâng cao hiệu quả giảng dạy
ở tất cả các môn học là một việc làm được các nhà quản lí giáo dọc và tất cả các giáo viên quan tâm.Toán học cũng là một môn học hết sức quan trọng góp phần vào việc giảng dạy Hơn nữa môn toán hiện nay gặp rất nhiều khó khăn từ nhiều phía Do nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong dạy – học toán ở tiểu học nói chung, dạy toán lớp 4,5 nói riêng, việc rèn kỹ năng cho HS giải toán dạng
“Tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu” có một vị trí quan trọng Trong quá trình giải một bài toán học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích hợp các kiến thức và vận dụng những kỹ năng cơ bản, để giải bài toán đã cho dựa vào khả năng vận dụng vốn hiểu biết của mình vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện ra tổng và hiệu khi biết tổng hoặc hiệu không tường minh Vì vậy có thể coi rèn kỹ năng giải toán dạng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu là một trong những nội dung rèn luyện kỹ năng cơ bản giải toán ở lớp 4, 5.Việc giải tốt các bài toán dạng này sẽ là tiền đề để học tốt các dạng toán tiếp theo Là một giáo viên với khá nhiều năm dạy lớp 4,5 tôi nhận thấy học sinh tại trường Tiểu học 1 xã Vũ lăng mà tôi đang công tác gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải các bài toán điển hình nói riêng và giải toán
có lời văn nói chung Chính vì thế, trong năm học này, tôi đã mạnh dạn lựa chọn
sáng kiến “Giúp học sinh lớp 4 học tốt dạng bài: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” với mong muốn cải thiện tình hình học tập của học sinh,
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học nói chung của nhà trường
2 Mục tiêu của sáng kiến
a Đối với học sinh
- Nắm được các bước giải và giải được bài toán “Tìm hai số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó”
b Đối với giáo viên.
- Biết cách hướng dẫn học sinh giải bài toán dạng: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”
- Biết lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với học sinh Biết cách hướng dẫn giải bài toán cho học sinh dễ hiểu
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Áp dụng sáng kiến đối với Học sinh lớp 4A1 năm học 2019 -2020 Trường
Tiểu học 1 xã Vũ Lăng ( Gồm 34 học sinh)
Thời gian áp dụng sáng kiến từ tháng 9 năm 2019
Trang 4II CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1 Cơ sở lí luận
Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ
em tiếp tục học lên bậc học trên; hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách Những gì thuộc về tri thức và kỹ năng, về hành vi và thái
độ được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người (như chữ viết, như kĩ năng thực hiện các phép tính, như kĩ năng ứng xử trong cuộc sống thường ngày ) Trong đó kĩ năng giải các dạng toán có lời văn
là một trong những nội dung quan trọng trong việc học tập và cuộc sống mỗi con người Đồng thời Toán học là một môn công cụ để học các môn học khác, phục vụ trực tiếp cuộc sống của con người Toán có lời văn dạng tổng- hiệu có nhiều dạng, mỗi dạng lại có cách giải khác nhau Để giải được các bài toán này đòi hỏi học sinh phải nắm vững được cách giải của từng dạng nhưng học sinh Tiểu học còn hạn chế về khả năng này Vì thế việc nắm vững và có kĩ năng giải thành thạo các dạng toán có lời văn dạng tổng- hiệu phải qua một quá trình với các mức độ khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau Do vậy việc rèn kĩ năng giải toán rất quan trọng bởi vì nó giúp cho các em không chỉ rèn luyện được các
kĩ năng của môn Toán mà còn cung cấp thêm nhiều tri thức bổ ích, góp phần phát triển trí tưởng tượng không gian, khả năng phân tích - tổng hợp, khái quát-trừu tượng hóa, tác phong làm việc khoa học.Thông qua giải toán có lời văn, các
em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Các bài toán là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng, là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác
2 Cơ sở thực tiễn
Qua tìm hiểu sách giáo khoa, qua thực tế giảng dạy của thầy và trò Trương Tiểu học 1 Vũ Lăng tôi thấy như sau:
1- Sách giáo khoa
Nội dung kiến thức của chương trình toán 4 có phần hơi nặng so với các
khối khác ở tiểu học Chẳng hạn ở toán 3 hoặc toán 5 thường là một tiết “xây dựng kiến thức mới” lại đến một tiết “luyện tập” Mặt khác kiến thức toán lớp 4
và lớp 3 có sự cách bậc hơi xa Chẳng hạn ở lớp 4, học sinh tiếp thu phương pháp giải hầu như tất cả các dạng toán ở tiểu học, trong khi đó ở lớp 3 hầu như không phải làm điều này
+ Một số dạng toán điển hình ở SGK không chỉ rõ phương pháp giải mà chỉ dừng lại ở việc đưa ra ví dụ cụ thể Chính vì vậy gây rất nhiều khó khăn cho giáo viên khi dạy
Trang 5VD: Khi học mới dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” Sau khi đưa ra một bài toán mẫu, SGK Toán 4 – trang 47 chỉ đưa ra 2 cách
giải (nhận xét):
*Cách thứ nhất: Số bé = (tổng - hiệu) : 2
*Cách thứ hai: Số lớn =(tống + hiệu) : 2
Ở đây phương pháp làm chưa đưa ra hoàn chỉnh nên gây nhiều khó khăn cho học sinh và giáo viên (nhất là học sinh trung bình và yếu kém) khi nắm phương pháp giải
2- Giáo viên :
Qua dự giờ, trao đổi về phương pháp dạy toán, đặc biệt dạy các dạng toán điển hình ở lớp 4 còn có giáo viên bộc lộ những nhược điểm sau:
- Vì phải soạn tất cả các môn nên việc nghiên cứu đầu tư thời gian cho một số tiết toán có phần hạn chế
- Khi giảng dạy giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào sách hướng dẫn bài soạn
- Khi dạy giáo viên còn áp đặt, khiến cho học sinh tiếp thu thụ động nên học sinh nhớ kiến thức chưa lâu
- Trình độ giáo viên còn hạn chế
3- Thực trạng học sinh :
Ở tiểu học một số học sinh còn thụ động, chủ yếu nghe giảng, ghi nhớ công thức máy móc và làm theo bài mẫu Chính vì vậy mà nắm kiến thức còn hời hợt nhớ không lâu, đên khi gặp bài toán khác mẫu một chút là lúng túng không giải được
Đặc biệt ở lớp 4, học sinh mới được làm quen với các dạng toán điển hình: Học sinh phải nắm được dạng toán , quy tắc, cách giải từng dạng toán thì
học sinh mới giải được bài (nói chung học sinh phải tư duy, khái quát hoá, tổng hợp phân tích nhiều hơn so với các lớp dưới ), điều này ở các lớp dưới các em ít
phải làm Chínhvì vậy học sinh gặp nhiều khó khăn
VD: (Bài tập 4- trang 48 SGK –Toán 4)
“Hai phân xưởng làm được 1200 sản phẩm Phân xưởng thứ nhất làm được ít hơn phân xưởng thứ hai 120 sản phẩm Hỏi mỗi phân xưởng làm được bao nhiêu sản phẩm ?”
Vì học sinh chưa chưa nắm chắc dạng toán, chưa biết phân tích những yếu tố đầu bài cho và yếu tố đầu bài bắt phải tìm nên dẫn đến xác định dạng toán sai và giải sai Khi nghe từ “mỗi loại” là học sinh nhầm với dạng toán “toán tìm
số trung bình cộng” và giải ngay như sau:
Mỗi phân xưởng làm được số sản phẩm là:
(1200 +120) : 2 = 660 (sản phẩm)
Đáp số: 660 sản phẩm
Trang 6Hoặc ở ví dụ trên có những học sinh xác định được dạng toán đúng rồi nhưng chưa xác định được đâu là số lớn, đâu là số bé hoặc không lắm chắc cách giải nên khi giải dẫn đến sai, như:
Phân xưởng thứ nhất làm được số sản phẩm là:
(1200- 120):2 =540 (sản phẩm)
Phân xưởng thứ hai làm được số sản phẩm là:
540 – 120 = 420 (sản phẩm)
Đáp số: Phân xưởng I: 540 sản phẩm
Phân xưởng II: 420 sản phẩm
Thực ra với bài toán này, lẽ ra học sinh phải nhận được bài toán thuộc dạng “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” Tổng đã cho là 1200, hiệu
đã cho là 120 Số sản phẩm phân xưởng thứ nhất làm được là số bé, số sản phẩm phân xưởng thứ hai làm được là số lớn phải tìm.Từ đó ứng dụng phương pháp
và giải đúng Cụ thể như sau:
Phân xưởng thứ nhất làm được số sản phẩm là;
(1200 - 120):2 =540 (sản phẩm)
Phân xưởng thứ hai làm được số sản phẩm là:
1200- 540 = 660 (sản phẩm)
Đáp số: Phân xưởng I: 540 sản phẩm
Phân xưởng II: 660 sản phẩm
Từ thực tế trên, tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn nói chung cũng như việc giải toán điển hình nói riêng của học sinh còn nhiều hạn chế và vướng mắc cần được tháo gỡ Tôi thiết nghĩ, chúng ta cần phải thay đổi cách dạy của giáo viên, cách học và tiếp thu của học sinh để nâng cao chất lượng các tiết toán trên lớp, nâng cao ý thức tiếp thu học tập của học sinh cũng như nâng cao chất lượng giáo dục nói chung
Để kiểm chứng được việc lựa chọn sáng kiến của mình có phù hợp hay không, có nhận thấy những thay đối hay không Ngay từ đầu năm học, qua ôn tập đầu năm và sau khi dạy xong dạng toán “Tìm số trung bình cộng” - Tuần 5, tôi đã cho học sinh làm bài khảo sát, kiểm tra chất lượng cụ thể đối với phần giải toán có lời văn sau khi học xong dạng toán điển hình đầu tiên đối với học sinh 2 lớp 4 ở trường chính – 68 em và thu được kết quả như sau:
Lớp Số HS giải
toán có lời văn tốt
Số học sinh biết giải toán ở mức khá
Số học sinh biết giải toán nhưng còn chậm
Số học sinh chưa biết giải toán 4A1
(34 HS)
1 ( 2,9%)
9 (26,5%)
14 (41,2%)
10 (29,4%) 4A2
(34 HS)
1 (2,9%)
10 (29,4%)
14 (41,2%)
9 (26,5%)
Trang 7Tổng số học sinh 2 lớp giống nhau, tỉ lệ học sinh có thể giải toán và năng lực học sinh 2 lớp tương đương nhau
III NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Nội dung và những kết quả nghiên cứu của sáng kiến
Đứng trước thực trạng dạy và học toán, đối với việc giả các dạng toán điển hình đối với học sinh trong thực tế hiện nay yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải thay đổi cách dạy học, cách hướng dẫn học sinh làm bài, phân biệt các dạng toán để lựa chọn cách giải toán phù hợp cho học sinh Do đó tôi đi sâu vào nghiên cứu
và áp dụng trong năm học vừa qua đã thu được những kết quả nhất định Để khắc phục thực trạng trên, đòi hỏi cá nhân giáo viên và học sinh đều phải nỗ lực
và kì công, phải nắm chắc được nội dung cần truyền đạt từ đó có phương pháp
và hình thức dạy học phù hợp Bản thân tôi đã thực hiện những nội dung cụ thể như sau:
1.1 Phân loại đối tượng học sinh:
Ngay từ buổi học đầu tiên, tôi tiến hành kiểm tra đồ dùng học tập của học sinh, đặc biệt là đồ dùng học tập của môn toán để nắm bắt được tâm thế chuẩn bị học tập của học sinh Từ đó, yêu cầu học sinh bổ sung những đồ dùng còn thiếu
để việc học tập diễn ra đúng kế hoạch Trong 2 tuần học đầu, tôi đã thường xuyên kiểm tra, tích cực gọi học sinh lên bảng và yêu cầu làm bài tập theo các mức độ từ đó phân loại học sinh bao gồm:
+ Học sinh trên chuẩn
+ Học sinh đạt chuẩn
+ Học sinh chưa đạt chuẩn
Từ đó tôi sẽ lựa chọn những bài tập và ra yêu cầu làm bài phù hợp với từng đối tượng học sinh Phân chỗ ngồi đan xen giữa những học sinh học tốt và những học sinh học chưa tốt để giúp đỡ nhau trong học tập Đồng thời sẽ lựa chọn được phương pháp cũng như cách hướng dẫn sao cho phù hợp với từng đối trượng học sinh
1.2 Nghiên cứu bài kĩ hơn và lựa chọn phương pháp dạy phù hợp.
Trong quá trình giảng dạy tôi luôn coi trọng việc nghiên cứu kỹ nội dung mỗi tiết dạy để tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với từng loại bài và phù hợp với mọi đối tượng học sinh của lớp Khi giảng dạy, tôi luôn coi học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên là người tổ chức và định hướng hoạt động của học sinh, giúp học sinh huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân để các em
tự chiếm lĩnh tri thức mới Trong giờ dạy, tôi thường xuyên gần gũi học sinh để hướng dẫn học sinh làm việc cá nhân hoặc hoạt động nhóm Từ đó nắm bắt được khả năng học toán của từng học sinh, giúp các em phát triển năng lực và sở trường của mình Mọi học sinh đều phải hoạt động, độc lập suy nghĩ, có nhiều
cơ hội để bộc lộ khả năng của cá nhân Qua đó, tạo cho học sinh thói quen chủ
Trang 8động, tự giác làm việc, tạo cho các em niềm tin và niềm vui trong học tập Cũng chính nhờ những phương pháp giảng dạy nêu trên nên nhiều học sinh trong lớp
có hứng thú trong việc học toán, tự tin vào khả năng của bản thân và dần hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu độc lập và sáng tạo, tự phát hiện ra các tình huống có vấn để trong học tập và cuộc sống, biết lập kế hoạch và lựa chọn
kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề
1.3 Hướng dẫn kĩ cách làm bài và luôn luôn nhấn mạnh các bước giải toán.
Trên thực tế nếu học sinh không được hướng dẫn cụ thể và không thực hiện theo từng bước thì học sinh dễ hiểu sai đầu bài dẫn đến việc làm sai bài toán Trong quá trình thực hiện giảng dạy, bản thân tôi đã hướng dẫn học sinh làm bài toán theo các bước sau:
Bước 1: Đọc kĩ đề toán
Là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em có đọc kĩ đề mới nắm bắt được các dữ kiện của bài toán, nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai
về mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán và gây khó khăn cho bước tiếp theo Gạch dưới một số thuật ngữ toán quan trọng có trong đề bài Chẳng hạn: “
cả hai số”,
“ tổng là số lớn nhất có 3 chữ số”, “ số lớn hơn số bé”,
Ở bước này tôi luôn gọi những em giải toán chưa tốt đọc đề bài nhiều lần
và nhấn mạnh ở những dữ kiện của bài toán và giúp cho học sinh hiểu một số thuật ngữ của bài toán
Bước 2: Tóm tắt đề toán
Đây là dạng diễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp cho học sinh
có cách giải dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài toán
Cách tóm tắt đề toán:
- Cách 1: Dưới dạng câu ngắn
- Cách 2: Dưới dạng sơ đồ đoạn thẳng
Tuỳ vào dạng toán mà hướng dẫn cho các em cách tóm tắt phù hợp
Khi tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc hình vẽ cần phải đảm bảo tính cân đối, chính xác
Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu, giáo viên có thể làm mẫu tóm tắt Sau đó nên gợi ý, hướng dẫn học sinh tự mình tóm tắt đề toán thì tốt hơn
Sau khi tóm tắt xong giáo viên cho học sinh nhắc lại ngắn gọn đề toán (bằng tóm tắt) mà không cần nhắc lại nguyên văn
Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải
Trang 9Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trong quá trình giải một bài toán của học sinh, đồng thời cũng là bước khó khăn nhất đối với các em.Vì vậy khi giải một bài toán tôi thường xuyên rèn luyện, hướng dẫn các em phân tích từng bước một cách rõ ràng, chính xác thông qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời ngắn gọn, dễ hiểu dần dần các em sẽ quen dần và sẽ biết phân tích, lập sơ đồ phân tích bài toán trong khi giải một cách đúng đắn và nhanh chóng
Ở đây cần suy nghĩ xem : Muốn trả lời câu hỏi của bài toán thì cần phải biết những gì, cần phải làm những phép tính gì? Trong những điều ấy cái gì đã biết, cái gì chưa biết? Muốn tìm cái chưa biết ấy thì lại phải biết những gì, phải làm tính gì? v.v Cứ như thế ta đi dần tới những điều đã cho trong đề toán
Từ những suy nghĩ trên học sinh sẽ tìm ra con đường tính toán ( hoặc suy luận ), đi từ những điều đã cho tới đáp số của bài toán
Bước 4: Giải bài toán và thử lại các kết quả:
Dựa vào kết quả phân tích bài toán ở bước 3; xuất phát từ những điều đã cho trong đề toán, ta lần lượt thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số Cần chú ý thử lại sau khi làm xong từng phép tính, cũng như thử lại đáp số xem có phù hợp với đề toán không Cũng cần soát lại các câu lời giải cho các phép tính xem đã
đủ ý và gãy gọn chưa
Bước 5 : Khai thác bài toán( bước này dành cho các học sinh trên chuẩn)
Sau khi giải xong bài toán, cần suy nghĩ xem:
- Còn có thể giải bài toán bằng các cách khác không?
- Từ bài toán này có thể rút ra nhận xét gì, kinh nghiệm gì?
- Từ bài toán này có thể đặt ra các bài toán khác như thế nào? Giải chúng
ra sao?
* Ví dụ minh hoạ về phương pháp giải toán:
Ví dụ 1: Bài 1/50 (SGK)
Tổng của hai số là 70 Hiệu của hai số là 10 Tìm hai số đó.
Bước 1
Học sinh đọc kĩ đề toán, xác định cái đã cho và cái phải tìm
+ Tổng của hai số là 70
+ Hiệu của hai số là 10
(cả lớp đọc thầm theo bạn và gạch chân = bút chì dưới từ tổng và hiệu) + Bài toán hỏi: Tìm hai số đó
Bước 2.
Tóm tắt bài toán
- Học sinh tóm tắt, trình bày cách tóm tắt bài toán bằng lời văn hoặc tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng để minh họa cho của hai số ( dựa vào dữ kiện bài toán cho biết hiệu là 10 thì số lớn được biểu thị bằng một đoạn thẳng, còn số bé biểu
Trang 10thị bằng một đoạn thẳng như thế nào ?- ngắn hơn 10 đơn vị ) Vẽ móc ôm lấy số lớn, số bé
Vẽ sơ đồ:
Bước 3.
Phân tích bài toán để tìm cách giải
Cho học sinh phân tích bài toán bằng 3 câu hỏi:
1 Bài toán cho biết gì? (Tổng là 70 Hiệu là 10) "tổng và hiệu chính là điều kiện của bài toán"
2 Bài toán hỏi gì? (Tìm hai số đó) "tức là tìm số lớn và số bé"
3 Bài toán thuộc dạng toán gì? (bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh (dựa vào sơ đồ tìm ra cách giải bài toán):
Cách 1
Hai lần số bé là: 70 -10 = 60
Số bé là: 60 : 2 = 30
Số lớn là: 30 + 10 = 40 Cách 2
Hai lần số lớn là: 70 + 10 = 80
Số lớn là : 80 : 2 = 40
Số bé là: 40 – 10 = 30
- Hay khi học sinh đã biết cách giải thì chỉ cần áp dụng công thức tìm từng sôa (Khái quát hóa thành phương pháp giải chung) :
Số bé = ( tổng - hiệu ) : 2
Số lớn = ( tổng + hiệu) : 2
Bước 4.
Giải bài toán và thử lại các kết quả
Trình bày bài giải:
Lưu ý HS không trình bày bài giải như ở ví dụ trên (vì cách trình bày trên chỉ có tác dụng giúp HS tìm ra phương pháp chung để giải dạng toán) Còn các bài toán vận dụng sẽ được trình bày một cách ngắn gọn hơn theo các bước giải
đã có Dựa vào kế hoạch giải bài toán ở trên mà học sinh sẽ tiến hành giải như sau:
Số lớn là:
(70 + 10) : 2 = 40
Số bé là :