Với những lý do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Phương pháp tính và động thái chỉ só giá chứng khoán Việt Nam VN-Index từ ngà
Trang 1Lêi c¶m ¬n
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ban giám hiệu, các Khoa,các phòng, Ban, Khoa Toán Kinh tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đãgiảng dạy, hướng dẫn tận tình và truyền đạt cho em những kiến thức quý báutrong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường cũng như trong thời gian thựchiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Th.s Lưu Trung Dũng cùng các anh chịtrong phòng Quản lý danh mục đầu tư (BESTFIT INVESTMENT)– Công ty Chứng
khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam vì sự giúp đỡ nhiệt tình trong suốtquá trình em được thực tập tốt nghiệp tại cơ quan từ việc tạo điều kiện thựctập, tìm tài liệu đến những sự góp ý quý báu về các vấn đề thực tiễn trên thịtrường chứng khoán Việt Nam để em có thể hoàn thiện chuyên đề thực tập tôtnghiệp này
Đặc biệt, em vô cùng biết ơn PGS.TS Nguyễn Quang Dong- TrưởngKhoa Toán Kinh tế đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình lựa chọn đề tài, xácđịnh hướng nghiên cứu, sửa chữa và hoàn thiện chuyên đề này Sự hướng dẫn,chỉ bảo tận tình và những góp ý quý báu của thầy đã giúp em nâng cao kiếnthức bản thân và hoàn thành chuyên đề này
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè
đã cổ vũ, động viên và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập cũng như trongthời gian thực hiện và hoàn thiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn và kính chúc các Thầy giáo,
Cô giáo, các anh, các chị mạnh khỏe, hạnh phúc
Hà Nội, tháng 04 năm 2006
Đỗ Huy Hoàng
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 2i) Tính cấp thiết của đề tài.
Nhìn lại chặng đường phát triển 20 năm qua, có thể thấy, những chủtrương, chính sách đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế đã và đang đơmhoa kết trái Nhưng dân tộc Việt Nam không nghỉ ngơi trên hành trình tiến tớiphồn vinh Mục tiêu đặt ra đến năm 2020 là Việt Nam sẽ thoát khỏi tình trạngkém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhândân; cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trong hoàn cảnh ấy, sự ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam ngày28/07/2000 như là sự đòi hỏi tất yếu, trở thành “điểm hẹn” của những nguồnvốn nhàn rỗi, để rồi phân phối chúng một cách hiệu quả Mới bước sang tuổithứ 6, nhưng thị trường chứng khoán non trẻ đã song đã bước đầu góp phầnhình thành một mô hình thị trường vốn, tạo lập và vận hành kênh huy độngvốn trung và dài hạn cho nền kinh tế
Hoạt động của thị trường chứng khoán là hoạt động nhạy cảm, nhiềuyếu tố tích cực, song cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro Chỉ số giá VN-Index
là chỉ số đại diện cho “phong vũ”của cả thị trường Mặc dù có vai trò quantrọng như vậy nhưng dường như VN-Index vẫn chưa được nhìn nhận và đánhgiá một cách đúng mức Chúng ta chưa có những nghiên cứu sâu sắc về bảnthân chỉ số này cũng như việc áp dụng nó vào quá trình phân tích biến động giá
cổ phiếu và biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam
Với những lý do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, em đã
đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Phương pháp tính và động thái chỉ só
giá chứng khoán Việt Nam VN-Index từ ngày 28/07/2000 đến 25/04/2006 ”
để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp nhằm mục đích góp phần tạo nên nhữngcăn cứ khoa học và thực tiễn để làm cơ sở cho việc tính toán và vận dụng chỉ
số giá VN-Index trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong khuôn khổ một bài chuyên đề thực tập, mặc dù đã hết sức cốgắng nhưng do khả năng còn nhiều hạn chế và đây là lần đầu tiên em được tiếp
Trang 3xúc với những vấn đề mang tính chất thực tiễn, nên bài viết không thể tránhkhỏi một số thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ cácthầy giáo, cô giáo để chuyên đề hoàn chỉnh hơn và có ý nghĩa với thực tiễnhoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mục đích của chuyên đề: là phân tích được động thái của thị trường
chứng khoán Việt Nam và đưa ra một vài dự báo trong tương lai Cũng nhưđưa ra một vài khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển hơn nữa một thị trườnggiàu tiềm năng, một kênh huy động vốn chủ yếu của nền kinh tế, chuyên đềthực tập tốt nghiệp này xem xét các vấn đề sau:
Phương pháp tính chỉ số giá nói chung và chỉ số giá VN-Index nóiriêng
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự liên tục của chuỗi và biện pháp trừkhử
Những đặc điểm cơ bản về chuỗi lợi suất chỉ số giá VN-Index (R.)
Thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay và nhữngmốc lịch sử quan trọng
Đối tượng nghiên cứu: là chuỗi chỉ số giá VN-Index và chuỗi lợi suất
chỉ số giá VN-Index (R ) từ ngày 28/07/2000 đến ngày 25/04/2006
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề: Chuyên đề tập trung phân tích cơ sở
lý thuyết từ việc nghiên cứu các phương pháp tính chỉ số giá nói chung và chỉ
số giá VN-Index nói riêng Phân tích các yếu tố gây nên tính không liên tụccủa chuỗi VN-Index để từ đó đưa ra các biện pháp trừ khử các yếu tố đó khitiến hành tính toán chỉ số giá VN-Index Kết hợp với diễn biến thực tế trên thịtrường để kiểm nghiệm tính đúng đắn của kết quả phân tích
Trang 4Dựa trên cơ sở những luận điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử với những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm chính sách của Đảng và Nhànước Bài viết sử dụng phương châm lý luận gắn liền với thực tiễn, kế thừa cóchọn lọc các công trình nghiên cứu, các bài viết có liên quan Kết hợp với haiphần mềm xử lý số liệu là EVIEWS và MetaStock để tiến hành tổng hợp phântích, so sánh và mô hình hóa Trên cơ sở gắn với thực tiễn để rút ra những bàihọc kinh nghiệm, những kết luận chính xác, dần đưa chỉ số giá VN-Index vàoviệc phân tích cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệutham khảo, nội dung chính của chuyên để bao gồm ba phần như sau:
Ở phần này ta đi sâu tìm hiểu các phương pháp tính chỉ số giá nói chung vàphương pháp tính chỉ số giá VN-Index nói riêng Ta cũng tìm hiểu các yếu tốảnh hưởng đến tính liên tục của chuỗi chỉ số giá VN-Index và các biện pháptrừ khử những yếu tố đó
Trong phần này ta sẽ đi sâu tìm hiểu bản thân chuỗi lợi suât chỉ số giá Index như phân bố của chuỗi, trung bình, mô hình ARIMA, mô hình ARCHGARCH, các hiệu ứng ảnh hưởng đến biến động của chuỗi lợi suất (R ).Trong phần này có sự hỗ trợ của phần mềm EVIEWS
25/04/2006 ” Trong phần ba, quá trình biến động của chuỗi chỉ số giá
VN-Index được chia ra làm 6 thời kỳ Tại các thời kỳ ta phân tích nguyên nhân gâynên biến động, xu thế của biến động trong thời kỳ đó Trong phần này có sự
hỗ trợ của phần mềm MetaStock
Trang 5PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỈ SỐ GIÁ
CHỨNG KHOÁN
1.1 Nguồn gốc hình thành và khái niệm
Chỉ số giá chứng khoán là thước đo phản ánh sự biến động giá chứngkhoán nói chung trên thị trường chứng khoán Mục đích chính của việc xâydựng nên các chỉ số giá là nhằm dự đoán các xu thế thị trường, làm cơ sở chocác quyết định mua hoặc bán chứng khoán tại từng thời điểm nhất định
Các chỉ số giá trên thị trường chứng khoán có thể được chia làm hai loại
cơ bản – chỉ số giá bình quân và chỉ số giá tổng hợp Chỉ số giá bình quânđược tính theo phương pháp bình quân giản đơn (arithmetic average) của mộtnhóm chứng khoán, điển hình là chỉ số DowJones Công nghiệp ( DJIA – đượctính toán trên cơ sở giá của 30 loại cổ phiếu của những công ty hàng đầu trongmột số ngành công nghiệp của Mỹ được niêm yết trên Sở giao dịch chứngkhoán NewYork – NYSE) Chỉ số giá tổng hợp thường được tính theo phươngpháp bình quân gia quyền giá trị ( value-weighted ) và số lượng các loại cổphiếu được sử dụng để tính toán cũng lớn hơn, tiêu biểu là chỉ số S&P 500(được tính cho 500 loại cổ phiếu, phần lớn được niêm yết trên NYSE)
Ví dụ minh họa:
Cổ phiếu Tổng số
CP
Giá ngày 21/1
Giá ngày 21/8
Tỷ lệ thay đổi
Trang 6Cổ phiếu Giá ngày
21/1 Tỷ trọng
Giá ngày 21/8 Tỷ trọng
Tổng giá trị của 3 cổ phiếu ngày 21/1 120
Theo cách tính chỉ số giá tổng hợpS&P 500
Cổ phiếu Tổng giá
trị 21/1 Tỷ trọng
Tổng giá trị 21/8 Tỷ trọng
Tổng giá trị thị trường của 3 cổ phiếu ngày 21/1 8.150.000
Trong cách tính toán chỉ số bình quân, các cổ phiếu có thị giá càng caothì ảnh hưởng càng lớn đến chỉ số; đối với chỉ số giá tổng hợp các cổ phiếu có
số lượng niêm yết lớn cũng sẽ ảnh hưởng đến chỉ số nhiều hơn ( các cổ phiếu
có số lượng niêm yết ngang nhau, cổ phiếu có thị giá cao hơn sẽ có ảnh hưởnglớn hơn đến chỉ số)
1.2 Các phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán.
Trang 7Đây là phương pháp tính của chỉ số DJIA, trong phương pháp tính không có sự tham gia của quyền số:
n
i it
P P
1
1
(1.1)
Trong đó : I : là Chỉ số giá bình quân giản đơn
Pit : là giá thời kỳ (t) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
Pio : là giá thời kỳ gốc (to) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
i = 1 n Số cổ phiếu trong giỏ tính toánCách tính toán chỉ số này rất đơn giản và dễ hiểu Tuy nhiên theophương pháp này ta đã bỏ qua sự biến động của quyền số Nó chỉ là số bìnhquân giản đơn Khi áp dụng trong tính toán, kết quả thu được là đáng tin cậykhi các phần tử khá đồng đều hay phương sai của chúng nhỏ
Chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị là chỉ số giá bình quân được tính không chỉ quan tâm đến giá mà còn quan tâm đến khối lượng, khi có sựbiến động về giá thì phần tử có khối lượng càng lớn thì ảnh hưởng càng nhiều
n
i it
qP qP
1
1
(1.2)
Trong đó: I : là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị
Pit : là giá thời kỳ (t) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
Pio : là giá thời kỳ gốc (to) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
q : là khối lượng ( quyền số) có thể theo thời kỳ gốc hoặc thờikỳ
hiện hành
i = 1 n Số cổ phiếu trong giỏ tính toán
Trang 8Chỉ số giá bình quân gia quyền có cách tính phức tạp hơn phương phápbình quân giản đơn Phương pháp này đã đề cập đến quyền số “khối lượng”
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số bình quân gia quyền với quyền
số là “khối lượng thời kỳ gốc” Ta có công thức sau:
n
i
it o
P q
P q
1
Trong đó: IL : là chỉ số giá bình quân gia quyền Laspeyres
Pit : là giá thời kỳ (t) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
Pio : là giá thời kỳ gốc (to) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
qo : là khối lượng ( quyền số) theo thời kỳ gốc
i = 1 n Số cổ phiếu trong giỏ tính toánTheo phương pháp Laspeyres, ta đã đề cập đến quyền số khối lượng Tuynhiên do quyền số là thời kỳ gốc nên ta chỉ quan tâm đến khối lượng ở lần đầutiên giao dịch Nó không cập nhật được sự thay đổi liên tục của quyền số
Chỉ số giá bình quân Paascher là chỉ số giá bình quân gia quyền với quyền số là “khối lượng thời kỳ hiện hành”.Kết quả tính sẽ phụ thuộc trực tiếpđến quyền số thời kỳ hiện hành Ta có:
n
i
it i
P q
P q
1
1
(1.4)
Trong đó: Ip : là chỉ số giá bình quân gia quyền Paascher
Pit : là giá thời kỳ (t) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
Pio : là giá thời kỳ gốc (to) của các cổ phiếu trong giỏ tính toán
qi : là khối lượng ( quyền số) theo thời kỳ hiện hành
i = 1 n Số cổ phiếu trong giỏ tính toánVới phương pháp tính này, ta thường xuyên phải cập nhật số liệu hiện
Trang 9hành của quyền số Tuy có mất công sức hơn về mặt thu thập số liệu nhưngphương pháp này đã phản ánh đầy đủ, liên tục những biến động không chỉ vềmặt giá mà còn cả về mặt lượng của các cổ phiếu trong giỏ tính toán.
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số bình quân giữa chỉ số giá bìnhquân Laspeyres và chỉ số giá bình quân Paascher Ta có :
If = I * p I L (1.5)
Trong đó: If : là chỉ số giá bình quân Fisher
IL : là chỉ số giá bình quân Laspeyres
Ip : là chỉ số giá bình quân PaascherVới phương pháp tính này, ta đã giảm thiểu những nhược điểm của haiphương pháp Laspeyres và phương pháp Paascher Phương pháp tính này cóphức tạp nhưng với những tổng thể có sự biến thiên của các phần tử là khôngđồng đều hay phương sai ở mức cao thì đây là phương pháp tính hữu hiệu nhất
1.3 Ưu nhược điểm của từng loại quyền số
Từ khi ra đời cho đến nay, chỉ số giá luôn hình thành và phát triển Vớimỗi cách tính đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định
Với phương pháp “bình quân giản đơn” ta thấy: Cổ phiếu có thị giá càngcao thì ảnh hưởng càng lớn đến chỉ số giá Cổ phiếu có thị giá cao tăng 1% ảnhhưởng nhiều đến chỉ số giá hơn cổ phiếu có thị giá thấp cũng tăng 1% Nóphản ánh không thật sự đầy đủ về sự biến động của thị trường Phương phápnày chỉ áp dụng và cho kết quả đúng khi tổng thể nghiên cứu là đồng đều hayphương sai nhỏ Hiện nay trên thế giới, các chỉ số DowJones ( Mỹ) , Nikkei
225 (Nhật), chỉ số tổng hợp MIB ( Italia) áp dụng phương pháp tính này
Với phương pháp “bình quân gia quyền giá trị” cho thấy các công ty lớn
sẽ có tầm ảnh hưởng lớn Nếu cùng thị giá giao dịch, công ty nào có khối
Trang 10lượng niêm yết lớn hơn sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến chỉ số giá Có những loại
cổ phiếu giao dịch ít do khối lượng niêm yết lớn => ảnh hưởng đến chỉ số giá.Với phương pháp chỉ số giá bình quân Laspeyers, đây là phương pháptính với quyền số là “khối lượng thời kỳ gốc” => nó không phản ánh được sựbiến động liên tục của thị trường Đây là phương pháp mà FAZ, DAX của Đức
sử dụng để tính toán
Phương pháp chỉ số giá bình quân Passchers, đây là phương pháp tínhchỉ số giá cổ phiếu thông dụng và được áp dung nhiều nhất trên thế giới hiệnnay Với quyền số là “khối lượng thời kỳ tính toán” nó đã phản ánh tương đốiđầy đủ và liên tục về sự biến động của các phần tử trong giỏ tính toán Các chỉ
số S&P 500 (Mỹ) KOSPI (Hàn Quốc), TOPIX ( Nhật) , CAC ( Pháp) ,Hangseng( Hồng Kông), FT-SE ( Anh) ,…đã và đang áp dụng phương phápnày trong tính toán và dự báo
1.4 Phương pháp tính chỉ số VN-Index trên TTCK Việt Nam
Chỉ số giá thị trường chứng khoán Việt Nam, VN-Index là chỉ số phảnánh mức giá trên thị trường chứng khoán trong một ngày cụ thể so sánh vớimức giá tại thời điểm gốc
VN-Index là chỉ số giá tổng hợp được tính theo phương pháp gia quyềntổng giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết trên trung tâm giaodịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.( Phương pháp Passcher)
VN-Index có ngày gốc là 28 tháng 07 năm 2000 với giá trị 100 điểm Tổng giá trị thị trường hiện tại
VN-Index = -* 100
Tổng giá trị thị trường gốc
CMV VN-Index = -* 100 (1.6)
BMV
Trang 111.5Nguyên nhân gây ra tính không liên tục trong quá trình tính
toán chỉ số giá chứng khoán.
Với bất kỳ phương pháp tính toán chỉ số giá chứng khóan nào cũng phảiđảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Chỉ số giá phản ánh đúng biến động của giá
- Biến động của chỉ số giá không bị ảnh hưởng bởi biến động của cácyếu tố khác (ngoài giá )
Trong quá trình hình thành và phát triển, các công ty có cổ phiếu niêmyết trên các trung tâm giao dich chứng khoán luôn ngày càng phát triển hoặcdiệt vong Ngày 28 tháng 07 năm 2000 đánh dấu sự ra đời của thị trườngchứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, vào thời gian đó chỉ có duy nhất 2 cổ phiếuniêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh là REE vàSAM Không lâu sau vào ngày 4 tháng 8 năm 2000 đã có thêm 2 cổ phiếuTMS và HAP tham gia niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Vàhiện nay, trên trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh đã có tổngcộng là 35 loại cổ phiếu được niêm yết Việc thêm ( hay bớt) cổ phiếu khỏi rổđại diện đều ảnh hưởng đến việc tính toán chỉ số giá chứng khoán Và để phảnánh chính xác sự biến động của chỉ số giá VN-Index, ta phải điều chỉnh lại
“hệ số chia” cho phù hợp
Bên cạnh ảnh hưởng của việc thêm ( bớt) cổ phiếu khỏi rổ đại diện, việctách ( gộp) hay thay thế cổ phiếu cũng ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoánnói chung Việc tách cổ phiếu rõ ràng nhằm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu
đó bằng việc tách 1 cổ phiếu thành 2 hay 3 cổ phiếu Chính việc này làm giá trị
cổ phiếu giảm
Giả sử cổ phiếu A có giá bán 90.000đ/cp, khối lượng niêm yết 100.000cp.Do công ty làm ăn tốt, cổ phiếu sẽ tăng giá trong tương lai, công ty quyếtđịnh tách 1 cổ phiếu thành 3 cổ phiếu Lúc này giá 1 cổ phiếu sẽ là 30.000đ/cp
Nếu theo phương pháp bình quân giản đơn, do đã không quan tâm đếnquyền số giá cả Vì vậy khi tính toán sẽ làm chỉ số giá giảm một cách rõ rệt
Trang 12Điều này là không chính xác Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp bình quângia quyền có trọng số thì ta sẽ khắc phục được nhược điểm này.
Bên cạnh hai nguyên nhân trên, việc công ty quyết định trả cổ tức bằngtiền, bằng quyền mua cổ phiếu cho các cổ đông Việc thưởng cổ phiếu cho cổđông, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn…v.v sẽ có ảnh hưởng đến tínhtoán chỉ số giá VN-Index Để khắc phục những hậu quả này, ta phải tiến hànhđiều chỉnh lại “hệ số chia” Trong từng trường hợp cụ thể sẽ được trình bày cụthể trong phần sau của bài viết
1.6Kỹ thuật trừ khử tính không liên tục trong quá trình tính toán
chỉ số giá chứng khoán.
Như đã trình bày ở phần (1.5), ta thấy có rất nhiều yếu tố gây nên tínhkhông liên tục trong quá trình tính toán chỉ số giá VN-Index Trong từngtrường hợp cụ thể ta phải tìm phương pháp toán học để tính lại “hệ số chia”nhằm duy trì tính liên tục của chỉ số gía VN-Index
(1.7)
Trên thế giới, việc bớt cổ phiếu khỏi rổ đại diện không phải là không có
Ví dụ như chỉ số DowJones dựa trên 65 cổ phiếu mạnh nhất Từ khi ra đời chođến nay rất nhiều cổ phiếu đã vào rồi lại bị loại ra khỏi rổ đại diện Ngay cảnhư IBM, một công ty máy tính rất mạnh cũng đã có lần bị loại ra khỏi rổ đạidiện do không đủ tiêu chuẩn đứng trong Top 65 Duy nhất chỉ có cổ phiếu củangành điện lực của Mỹ là tồn tại trong giỏ tính toán từ khi ra đời chỉ số DJIAcho đến nay
Việc bị loại ra khỏi rổ đại diện có thể do: doanh nghiệp đang lụi bại, vaitrò, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường bị giảm sút Chính việc loại cổ
Tổng giá trị trước khi thay đổi Tổng giá trị sau khi thay đổi
- =
Hệ số chia cũ Hệ số chia mới
Trang 13phiếu “không đủ mạnh” ra khỏi rổ đại diện cũng tạo ra tính không liên tục do
ta không có “chuẩn ” để so sánh giữa các thời kỳ
Ở Việt Nam, do chưa có quá nhiều cổ phiếu của các công ty niêm yếttrên trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh nên rổ đại diện để tínhchỉ số giá chứng khoán là tất cả các cổ phiếu của các công ty niêm yết Do vậy,không có trường hợp cổ phiếu bị loại ra khỏi rổ đại diện Tuy nhiên, trên thếgiới đã xây dựng cách tính toán và hiệu chỉnh cho trường hợp này như sau:
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
i i i
Trang 14Ta sẽ lấy số liệu theo ví dụ trên để minh họa cho các trường hợp sau.
Trang 15Thay vì loại bớt một cổ phiếu ra khỏi rổ đại diện, ta thêm cổ phiếu vào
rổ đại diện để tính toán
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
i i i
Ngày 05/01 thêm cổ phiếu (D)
Ngày Cổ phiếu Thị giá Khối lượng Giá trị
Trang 16Trong trường hợp này, chỉ số giá VN-Index tăng lên 112.02 điểm khôngphải là do thêm cp (D) Bởi vì khi thêm cổ phiếu D, ta đã tiến hành điều chỉnhlại hệ số chia (Gm=19639 thay vì 8391.21) Ở đây, chỉ số giá VN-Index tănglên là do bản thân 2 cổ phiếu A và B cùng tăng thị giá.
Chúng ta đều biết chỉ số giá S&P 500 đại diện cho 500 cổ phiếu mạnh
và uy tín nhất Khi nào cổ phiếu không “đủ mạnh” sẽ bị thay thế bằng một cổphiếu khác “xứng đáng hơn”, đại diện tốt hơn cho thị trường đó Chính vì vậy,
ta cùng xem xét trường hợp thay cổ phiếu trong rổ đại diện
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
i i i
Trang 17Ngày Cổ phiếu Thị giá Khối lượng Giá trị
Trong trường hợp thay thế 2 cổ phiếu (A) và (D) bằng 2 cổ phiếu (E) và(F) cùng với giả định giá và lượng của cổ phiếu (B) không thay đổi ở ngày06/01 so với ngày 05/01 Kết quả cho thấy, với việc điều chỉnh hệ số chianhằm đảm bảo tính liên tục, chỉ số giá VN-Index vẫn là 112.02 điểm
Khi giá cổ phiếu của một công ty trở nên “đắt đỏ” hơn do công ty làm ănphát đạt, lợi nhuận tăng dần qua các năm Nhằm tăng tính thanh khoản cho cổphiếu Công ty quyết định tách cổ phiếu, “1 ăn 2” hoặc “1 ăn 3” Với việc tách
Trang 18cổ phiếu như thế này, một mặt tăng khả năng thanh khoản cho cổ phiếu, mặtkhác với kỳ vọng công ty tiếp tục làm ăn phát triển, trong tương lai giá cổphiếu đó sẽ có xu thế tiếp tục tăng trở lại.
Trong trường hợp này, nếu ta để ý đến phương pháp tính “bình quângiản đơn” của DJIA sẽ thấy được một điều rất quan trọng đó là hệ số chia ngàycàng bé và chỉ số giá lại mang giá trị ngày càng lớn
Tuy nhiên, với phương pháp “bình quân gia quyền có trọng số” thì việctách cổ phiếu sẽ không ảnh hưởng đến hệ số chia
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
- Hệ số chia ngày ( t) là : Go
- Giả sử ngày (t +1) một cổ phiếu (j) tách thành (s) cổ phiếu, j,s
Khi đó ta có công thức tính hệ số chia mới Gm như sau:
Đến ngày 07/01 cổ phiếu (E) tách làm 2 cổ phiếu
Ngày Cổ phiếu Thị giá Khối lượng Giá trị
Trang 19VN-về khối lượng và thị giá trong ngày 07/01 so với ngày 06/01 trước đó.
Với phương pháp tính bình quân gia quyền có trọng số, ta không cần điều chỉnh lại “hệ số chia” trong trường hợp này do số cổ phiếu tăng thêm baonhiêu lần thì thị giá của 1 cổ phiếu đó cũng giảm đi tương ứng từng ấy lần
Trường hợp này thực tế ít khi xảy ra Nhưng với công cụ và phươngpháp không có gì khác Ta cùng xem xét để điều chỉnh lại hệ số chia
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
Trang 20Tổng cộng 14000
Chỉ số VN-Index = 112.02 điểm
Đến ngày 08/01, cứ 3 cổ phiếu (B) gộp thành 1 cổ phiếu.Ta có :
Ngày Cổ phiếu Thị giá Khối lượng Giá trị
Các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu bên cạnh mục đích kiếm lời trong ngắnhạn nhờ việc buôn bán hưởng chênh lệch giá cổ phiếu thì còn mục đích khác,quan trọng hơn, ý nghĩa hơn đó là kỳ vọng vào công ty niêm yết làm ăn phátđạt để được nhận cổ tức
Sau mỗi kỳ hoạt động ( 6 tháng hoặc 1 năm) công ty cổ phần sẽ có thôngbáo về việc trả cổ tức Họ sẽ thông báo lượng trả cổ tức cũng như ngày đăng
ký danh sách cuối cùng nhận cổ tức
Với phương thức thanh toán T+3, thì các ngày giao dịch (T-1) và (T-2)
là các ngày cổ phiếu giao dịch không được nhận cổ tức Tại những ngày đó thìgiá trị cổ phiếu giảm đi một lượng đúng bằng giá trị cổ tức phát cho cổ đông
Trang 21Chúng ta cần chú ý rằng, ở đây là việc giảm “giá trị” của cổ phiếu chứkhông phải là việc giảm “giá” của cổ phiếu đó Vì vậy, nếu ta không tiến hànhđiều chỉnh hệ số chia sẽ dẫn đến sự sai lệch trong tính toán chỉ số giá.
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
Hệ số chia là 12497.55 và chỉ số giá VN-Index = 112.02 đỉểm
Công ty phát hành cổ phiếu (E) thông báo rằng ngày 16/01 công ty tiến hànhtrả cổ tức là 4đ/cổ phiếu Với thông tin này các cổ đông của công ty sẽ đăng kýdanh sách nhận cổ tức Cùng với nó, những ngày 14/01 và 15/01 là những
Trang 22ngày cổ phiếu (E) giao dịch mà không được nhận cổ tức ( Phương thức thanhtoán T+3).
Để đảm bảo tính liên tục trong quá trình tính toán chỉ số giá VN-Index,
ta phải tiến hành điều chỉnh hệ số chia
12497.55*132001400011783.41
m m
m
G G
Với thông tin trả cổ tức, thường tâm lý nhà đầu tư sẽ đi mua cổ phiếu vớimục đích nhận được lượng tiền mà công ty đã thông báo Theo diễn biến trênbảng giá trực tuyến ta sẽ thấy giá cổ phiếu (E) giảm một lượng đúng bằng (4đ)trong khoảng T+3 Tuy nhiên, một lần nữa cần nhắc lại rằng: Đây không phải
là việc “giảm giá” cổ phiếu mà là việc giảm “giá trị ” của cổ phiếu đó Với bất
kỳ tác động nào khác tác động về giá ta cần điều chỉnh lại hệ số chia cho phùhợp và đảm bảo tính liên tục trong quá trình tính toán
Đây là trường hợp công ty phát hành cổ phiếu muốn tăng vốn tự có, hội
Trang 23nghị cổ đông sẽ đề nghị vừa phát thưởng bằng tiền, vừa phát thưởng bằng cổphiếu( với điều kiện công ty được quyền phát hành cổ phiếu nhưng chưa pháthành).
Việc xuất hiện thông tin trên làm cho giá trị của bản thân cổ phiếu trongngày giao dịch bị giảm đi, ảnh hưởng đến sự liên tục trong quá trình tính toán
Lúc này, giá tham chiếu của cổ phiếu sau khi phát thưởng sẽ là:
Km-1 là : Giá cổ phiếu trước khi phát thưởng
T là : Thưởng tiền mặt
R là : Tỷ kệ vốn tăng do phát thưởng
Lúc này, hệ số chia sẽ được điều chỉnh lại như sau:
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
P T
R G
Trang 24Lúc này hệ số chia được điều chỉnh lại như sau:
Giá tham chiếu ngày (t+1 ) của cổ phiếu (F) là : Pf+1
f
P
R P
i i i
m
m
G G
Chỉ số VN-Index = 13200-600+(20*20.83) 13016.6
Trang 25“chứng quyền” cho các cổ đông của công ty Với mục tiêu là huy động vốn từnội lực và bảo vệ quyền lợi sở hữu cổ phần cho các cổ đông hiện hữu của công
ty Công ty bảo đảm bán cho người sở hữu chứng quyền sẽ được quyền mua
cổ phiếu của công ty trong đợt phát hành cổ phiếu tới
Thông thường đợt mua cổ phiếu này diễn ra trong thời gian ngắn từ 2đến 4 tuần và với giá thấp hơn giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành.Việcphát hành chứng quyền sẽ làm cho giá thị trường của cổ phiếu giảm do việc
“pha loãng” quyền cổ đông hiện hữu Ta sẽ nghiên cứu công thức giá thamchiếu trong trường hợp này như sau:
1 ( * )1
m m
Km-1 là: Giá cổ phiếu trước khi phát hành chứng quyền
R là: Tỷ lệ vốn tăng
H là : Giá cổ phiếu sẽ bán cho người nắm giữ chứng quyền
Lúc này ta tiến hành điều chỉnh hệ số chia như sau:
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
- Hệ số chia ngày ( t) là : Go
- Giả sử ngày (t+1)công ty tiến hành phát chứng quyền đối với cổ đông
sở hữu cổ phiếu (j ) với giá bán (H)< Pj để tăng R% vốn tự có
R G
Trang 26Ngày Cổ phiếu Thị giá Khối lượng Giá trị
Giá tham chiếu ngày (t+1 ) của cổ phiếu (E) là : PE+1
E
P
R P
11441.1513016.6
m
m
G G
Trang 27Chỉ số VN-Index vẫn là 112.02 điểm, với giả định các nhân tố kháckhông thay đổi.
Đây là trường hợp công ty niêm yết muốn phát hành thêm cổ phiếu mới
ra công chúng nhằm thu hút thêm các nhà đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất
Trong trường hợp này, mặc dù tại thời điểm chuẩn bị phát hành cổ phiếumới công ty đã được cấp phép và cũng được kỳ vọng vào khả năng sinh lờitrong tương lai Tuy nhiên, các cổ đông cũ nhận thấy quyền lợi của mình tạicông ty tự nhiên bị “san sẻ”, một cái bánh đã bị chia thành nhiều phần hơn.Với tâm lý đó đã làm cho giá trị cổ phiếu của công ty bị giảm sút
Trường hợp này cũng cho thấy sự giảm “giá trị” của cổ phiếu chứ khôngphải là sự “giảm giá” Để đảm bảo tính liên tục, ta điều chỉnh lại “hệ số chia”
Ta sẽ nghiên cứu công thức giá tham chiếu trong trường hợp này như sau:
Trong đó Km là : Giá tham chiếu cổ phiếu sau khi phát hành thêm cp mới
Pj là: Giá cổ phiếu hiện hành
Pk là: Giá bán cổ phiếu sẽ phát hành thêm
Qj là : Số lượng cổ phiếu đang niêm yết
Qk là : Số lượng cổ phiếu phát hành thêm
Lúc này ta tiến hành điều chỉnh hệ số chia như sau:
- Trên thị trường có các cổ phiếu : X1 , X2 ,….,Xn
- Giá giao dịch ngày (t) là : P1 , P2 ,…., Pn
- Số chứng khoán niêm yết là : Q1, Q2,… , Qn
- Hệ số chia ngày ( t) là : Go
- Giả sử ngày (t+1)công ty tiến hành phát hành thêm cổ phiếu (j ) mộtlượng là Qk với giá Pk < Pj hiện hành
Trang 28Ngày 21/01 công ty niêm yết cổ phiếu (B) quyết định phát hành thêm 60
cổ phiếu mới, với giá 120đ/cp Theo (***) ta có công thức tính giá tham chiếusau đây:
(120 * 60) (135* 40)
60 4012600
126100
Trang 29m
m
G G
Có thể nói, trong quá trình tính toán chỉ số giá chứng khoán có rất nhiềuyếu tố gây nên tính không liên tục của chỉ số giá Có thể do thêm (bớt ) cổphiếu vào rổ đại diện; có thể do tách (gộp ) cổ phiếu trong rổ đại diện; có thể
do việc công ty niêm yết tiến hành trả cổ tức, thưởng tiền mặt, phát hànhchứng quyền, phát hành thêm cổ phiếu đang có trong rổ đại diện v.v
Để đảm bảo tính liên tục trong quá trình tính toán ta phải loại bỏ nhữngảnh hưởng này trong quá trình tính toán Đảm bảo điều kiện:
- Chỉ số giá phản ánh đúng biến động của giá
- Biến động của chỉ số không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nênbiến động về mặt giá trị
Kỹ thuật loại trừ các ảnh hưởng đó dựa theo quy tắc “tam suất”
Trên đây là những phương pháp tính chỉ số giá chứng khoá, các yếu tố gây nên
Tổng giá trị trước khi thay đổi Tổng giá trị sau khi thay đổi
- =
Hệ số chia cũ Hệ số chia mới
Trang 30tính không liên tục trong quá trình tính chỉ số giá và các biện pháp trừ khử cácyếu tố đó Nhưng lợi suất chỉ số giá VN-Index có phân bố như thế nào, daođộng ra sao, liệu kết quả ở thời kỳ (T) có phụ thuộc vào các thời kỳ trễ…Vấn
đề này sẽ được giải đáp trong phần 2 của bài viết
Trang 31PHẦN 2: PHÂN TÍCH CHUỖI LỢI SUẤT CỦA CHỈ SỐ
GIÁ CHỨNG KHOÁN VN- INDEX
Trong phần 1 của bài viết, chúng ta đã biết đến những vấn đề cơ bảncủa chỉ số giá chứng khoán nói chung và chỉ số giá VN-Index nói riêng Ởphần 2 này, ta sẽ đi sâu nghiên cứu và làm rõ chuỗi lợi suất VN-Index ( R)cóphân bố như thế nào, chuỗi (R) có phải là chuỗi dừng hay không, mô hìnhARIMA,… Với sự hỗ trợ của phần mềm EVIEWS ta sẽ tìm hiểu vấn đề này
Số liệu quan sát gồm 1272 quan sát từ 28/07/2000 đến 25/04/2006
- Thống kê Jaque-Bera có giá trị bằng 29992.24 với P_value 0<0.05
=> Bác bỏ giả thiết chuỗi R có phân phối chuẩn
Trang 322.2 Biểu đồ chuỗi chỉ số giá chứng khoán VN-Index
Nhìn vào đồ thị ta thấy, trong từng thời kỳ cụ thể chuỗi chỉ số giáVN-Index có những xu thế nhất định Có những lúc lên đến đỉnh điểmnhư ngày 25/06/2001 chỉ số VN-Index lên đến 571.04 điểm Gần đâyvào ngày 25/04/2006 chỉ số giá VN-Index đạt mức kỷ lục 632.69 điểm
2.3 Biểu đồ chuỗi lợi suất chỉ số giá chứng khoán R
Theo biểu đồ trên ta thấy, lợi suất R của các thời kỳ dao độngtrong khoảng 0 5 Ở thời kỳ đầu các dao động có mạnh hơn nhưng
về sau các dao động là khá đồng đều Do việc quy định biên độ daođộng giá chứng khoán của Ủy ban chứng khoán Nhà nước cũng đãhạn chế phần nào sự biến động thật của chuỗi lợi suất ( R) Sự biến
Trang 33thiên theo thời gian của R tương đối ổn định cho ta cái nhìn trựcquan rằng chuỗi R của chỉ số giá VN-Index là một chuỗi dừng
2.4 Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root test )
Theo kết quả kiểm định Unit Root Test, ta thấy:
qs = 21.92972 > 0.1 = 3.4383 qs = 21.92972 > 0.05 = 2.8643 qs = 21.92972 > 0.01 = 2.5682
Theo tiêu chuẩn Dickey- Fuller chuỗi lợi suất R là chuỗi dừng
Vậy chuỗi R là chuỗi dừng với giá trị tới hạn là 1%, 5% và 10 %
Trang 342.5 Lược đồ tương quan và mô hình ARIMA của chuỗi R
Từ kết quả của lược đồ tương quan trên ta thấy, sự thay đổi của lợisuất R có phụ thuộc vào các phiên trước đó Từ lược đồ cho thấy, 11
=0.304 0 (P_value =0<0.05) Từ k = 2 trở đi các kk giảm dần và luônnằm trong khoảng 95% hay hệ số tương quan của các trễ xấp xỉ 0 Lại có
114 =0.153 0 (P_value =0<0.05)
Với k ta thấy 1, 5, 6, 15 0 (P_value =0<0.05), sau đó làgiảm dần Như vậy mô hình trung bình trượt đồng liên kết tự hồi quyARIMA đối với chuỗi R có thể có p=1,14 và q=1,5,6
Trang 352.6 Ước lượng mô hình ARIMA
Mô hình MA(1) có hệ số chặn.
Trang 36 Mô hình AR(1) có hệ số chặn.
Theo kết quả ước lượng trên cho thấy, hệ số chặn C có giá trị thống
kê t = 0.969701 với giá trị P_value = 0.3324 > 0.05 Điều này cho ta cơ sởchấp nhận gỉa thiết Ho Hay hệ số C không có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 37 Mô hình AR(1) AR(14) không có hệ số chặn.
Theo lược đồ trên ta thấy còn có 6 0, điều này cho thấy phần dưResid không phải là một chuỗi dừng => phần dư của mô hình ARIMA chưa lànhiễu trắng Mô hình ARIMA với hai biến AR(1) và AR(14) chưa là mô hìnhtốt
Trang 38 Mô hình AR(1) MA(6) có hệ số chặn.
Sau khi tiến hành ước lượng các mô hình AR(14), MA(1), AR(1) tanhận thấy mô hình AR(1) và MA(6) có biến trế AR(1) và MA(6) giải thíchđược nhiều nhất sự thay đổi của biến R Theo 2 tiêu chuẩn Akaike, Schwarz tanhận thấy ở mô hình AR(1) và MA(6) cả hai tiêu chuẩn này đều đạt min Dovậy, mô hình tốt hơn cả là mô hình ARIMA(1,0,6)
Theo kết quả ước lượng trên ta cũng nhận thấy hệ số chặn C trong
mô hình ARIMA(1,0,6) không thực sự có ý nghĩa Thống kê t =1.316654 vớigiá trị P_value =0.1882>0.05 ( mức ý nghĩa =5%) Chấp nhận giả thiết hệ sốchặn = 0
Trang 39Theo kết quả ước lượng mô hình ARIMA(1,0,6) ta thấy , lợi suất Rcủa chỉ số giá VN-Index trong phiên giao dịch sẽ phụ thuộc vào phiên trước
đó Kiểm định T về sự bằng không của hệ số biến AR(1) và MA(6) là :
Hệ số của AR(1): Thống kê T = 13.31407
Giá trị P_value = 0 <0.05
Hệ số của MA(1): Thống kê T = 6.859025
Giá trị P_value = 0 <0.05 Giả thiết hệ số biến AR(1) =MA(6) = 0 bị bác bỏ
Theo lược đồ tương quan và kiểm định ADF đối với phần dư, tanhận thấy, tất cả các và đều nằm trong khoảng tin cậy 95% và phần dư
Trang 40Resid là một chuỗi dừng => phần dư của mô hình ARIMA(1,0,6) là nhiễutrắng Mô hình ARIMA(1,0,6) là mô hình tốt.
Ta có mô hình ARIMA(1,0,6) cho chuỗi lợi suất R như sau:
Sau khi có được mô hình ARIMA tốt, ta sẽ đi sâu tìm hiểu sự daođộng của lợi suất, ảnh hưởng của các cú sốc âm, cú sốc dương trong quá khứđến giá trị của R, ảnh hưởng của độ lêch chuẩn, phương sai của R đến (R ) vv
Các câu hỏi trên sẽ được giải đáp thông qua các mô hình ARCH,GARCH, T-ARCH, E-GARCH, COMPONENT ARCH và ASYMMETRICCOMPONENT
2.7 Đồ thị phần dư của mô hình ARMA (1,6) của R