1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BAI TIỂU LUẬN LỊCH sử các học THUYẾT CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT

15 42 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 329,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ VIỆN ĐÀO TẠO MỞ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 0O0 TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ PHÁP LUẬT TÊN ĐỀ TÀI THUYẾT HỌC KHỔNG TỬ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Sinh viên thực hiện Võ Văn Trung Lớp Luật – Quảng Ngãi 2021 Trạm đào tạo từ xa Trường Cao đẳng Công thương TPHCM – Cơ sở đào tạo Quảng Ngãi Cố vấn học tập Ngô Vĩnh Phước Quảng Ngãi, ngày 04 tháng 4 năm 2022 A PHẦN MỞ ĐẦU Ở nước ta, sự xuất hiện của.

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

VIỆN ĐÀO TẠO MỞ VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

0O0 -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT

TÊN ĐỀ TÀI THUYẾT HỌC KHỔNG TỬ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐỐI ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện: Võ Văn Trung.

Lớp: Luật – Quảng Ngãi 2021.

Trạm đào tạo từ xa: Trường Cao đẳng Công thương TPHCM – Cơ sở đào tạo Quảng Ngãi.

Cố vấn học tập: Ngô Vĩnh Phước.

Trang 2

Quảng Ngãi, ngày 04 tháng 4 năm 2022

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

Ở nước ta, sự xuất hiện của Nho giáo đi theo một quá trình lịch sử lâu dài trong quá trình đô hộ của các triều đại phương Bắc Sự tồn tại của nó đã được ghi nhận từ thời kỳ Lý – Trần Theo Việt Nam sử lược, thời vua Lê Thành Tông thì Nho giáo đã thực sự được coi là quốc giáo, ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ người dân cũng như tình chính trị quốc gia thời kì này Từ đây Nho giáo đã thành một công cụ, phương tiện xuất hiện trong xuốt thời kì phát triển của Việt Nam trong việc quản lý cũng như xây dựng hình tượng con người thời kỳ phong kiến sau này

Việc xây dựng một nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân do dân và vì dân đã được Đảng và Nhà nước ta xây dựng từ lâu Với thực tế đất nước ngày càng phát triển, nền kinh tế hội nhập toàn cầu việc xây dựng một quốc gia với tinh thần thượng tôn pháp luật là hết sức cần thiết và nhanh chóng, đẩy mạnh hoàn thiện một nhà nước liêm chính, chấm dứt một sự suy thoái về tư tưởng, lối sống của những bộ phận công chức, cơ quan công quyền thì yêu cầu về nhà nước Pháp quyền

là một đòi hỏi cấp bách và cần thiết

Một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân với một mục tiêu không đổi, xuyên xuốt trong sự đấu tranh của dân tộc ta

“ dân giàu, nước mạnh, công bằng văn minh” để đạt được mục tiêu mang tính dân tộc này chúng ta cần phải vận dụng thật tốt tinh hoa, tính túy bản chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam anh hùng, quật cường và có chọn lọc những thông tin, tư tưởng

có ý nghĩa tiến bộ Tư tương lấy dân làm gốc, một xã hội mang tính ổn định có những “con người đạo đức” cán bộ có phẩm giá, chuyên môn sâu năng lực và phẩm chất chuẩn mực cần gắn liền với một xã hội phát triển văn minh tiến bộ Với sự ảnh hưởng mang tính tương đối, có cả tích cực và tiêu cực thì việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay của tư tưởng Nho giáo với việc xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự ở nước ta cần phải nghiên cứu và làm rõ những điểm tích cực, từ đó tìm ra phương hướng và đường lối hiệu quả đứng đắn với những điểm văn mình tốt đẹp, hạn chế và loại bỏ những điểm xấu trong con đường xây dựng và phát triển đất nước là hết sực thực tiễn Xuất phát từ những cơ

sở lý luận và thực tiễn nêu trên, bản thân em đã chọn đề tài “Tư tưởng của Khổng

Tử và ảnh hưởng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần môn học

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

I Tư Tưởng Của Khổng Tử

1 Hoàn cảnh kinh tế, chính trị thời kỳ xuất hiện học thuyết Khổng Tử

Về mặt lịch sử: thời Xuân thu (770 - 403 trước Công nguyên) là thời kỳ xã

hội Trung Quốc biến chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ mà đỉnh cao là chế độ tông pháp nhà Tây Chu sang chế độ phong kiến sơ kỳ, thời kỳ trật tự lễ nghĩa, chuẩn mực đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại và mất dần vai trò lịch sử của nó, nhưng trật tự thể chế, pháp luật và chuẩn mực đạo đức mới đang hình thành, chưa đóng vai trò thống trị trong xã hội Chính điều này là một trong những nguyên nhân hình thành

tư tưởng đạo đức của Khổng Tử

Về mặt kinh tế: với tư cách là cơ sở cho sự tồn tại của xã hội, thời Xuân thu,

nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất Nó thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Đặc biệt, những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của đồ sắt đã làm cho chế độ “tỉnh điền” cơ sở kinh tế của chế độ nô lệ dần dần bị tan rã, chế độ tư hữu về ruộng đất từng bước hình thành

và ngày càng phát triển

Về chính trị - xã hội: trên cơ sở sự chuyển biến về lịch sử và sự phát triển về

kinh tế đã dẫn đến sự biến động về chính trị - xã hội ở thời kỳ Xuân thu Có thể khái quát sự biến đổi về chính trị - xã hội Trung Quốc thời kỳ này ở một số mặt sau: một

là, sự phân hóa giai cấp và nạn “tiếm ngôi việt vị”; hai là, các cuộc chiến tranh liên miên và ác liệt giữa các nước chư hầu hòng tranh giành đất đai, quyền lực, làm bá chủ thiên hạ Điều đó, đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, trật tự xã hội

bị đảo lộn

2 Nội dung cơ bản của thuyết Khổng Tử

2.1.1 Tư tưởng của Khổng Tử về vai trò của đạo đức

Có thể thấy, Khổng Tử không đưa ra một định nghĩa, hay khái niệm mang tính chất tổng quát về đạo đức, mà quan niệm về đạo đức được thể hiện ở nhiều góc

độ, đan xen trong hệ thống tư tưởng của ông Theo đó, đạo đức bao gồm những quan hệ đạo đức như : vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè và các

Trang 5

chuẩn mực đạo đức đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu đễ, giữa chúng

có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, nó chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng, thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người Vì vậy, theo Khổng Tử, đạo đức có những vai trò sau:

Thứ nhất, đạo đức có vai trò quan trọng trong việc tu dưỡng và rèn luyện nhân cách con người.

Tu thân tức là sửa mình, là quá trình khắc phục những sai lầm, khiếm khuyết trong suy nghĩ và hành động của mình để mình ngày càng hoàn thiện, đúng đắn, tốt đẹp Theo Khổng Tử, muốn sửa mình cho thành người có đức hạnh hoàn toàn, mỗi con người cần phải lấy những chuẩn mực đạo đức nhân, nghĩa, lễ, tín, chính danh… làm cơ sở, nhân tố quan trọng trong việc điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình trong các mối quan hệ với bản thân, gia đình và xã hội cho phù hợp Vì vậy, Khổng

Tử rất đề cao đạo đức, coi đó là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất trong việc tu dưỡng

và rèn luyện nhân cách con người

Thứ hai, đạo đức có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì trật tự kỷ cương, ổn định xã hội

Khổng Tử cho rằng, dùng đạo đức trong giáo hóa và cai trị thì dân mới nể phục mà không sai phạm nữa; còn nếu dùng pháp luật thì dân sợ nhưng không nể phục Mặt khác, đạo đức có thể cảm hoá được lòng người, thu phục được lòng dân trong việc trị quốc, bình thiên hạ Vậy nên, khi ông Quý - Khương - tử hỏi Khổng

Tử về cách cai trị, Khổng Tử đáp: “Ông muốn cai trị, cần chi phải dùng sự chém giết? Nếu tự ông muốn làm thiện, thì dân chúng sẽ trở nên thiện hết cả” Kế đến, Khổng Tử cho rằng, đạo đức còn góp phần khắc phục, loại trừ tình trạng phi nhân tính, vô đạo đức, bất chấp kỷ cương, phép tắc trong xã hội Khổng Tử nói: “Xử kiện, ta cũng biết xử như người: ta cũng biết xét đoán ai phải, ai quấy và trừng trị kẻ phạm Nhưng nếu dạy cho dân biết nghĩa vụ, biết nhường nhịn, biết luật pháp

mà giữ gìn, đặng họ chẳng đem nhau đến tụng đình, như vậy chẳng hay hơn sao?” Như vậy, theo Khổng Tử đạo đức có vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì trật tự kỷ cương, ổn định xã hội

Thứ ba, đạo đức và thực hành đạo đức đóng vai trò quyết định đối với việc tạo lập mẫu người lý tưởng, góp phần tạo lập xã hội lý tưởng

Theo Khổng Tử, mẫu người lý tưởng - người quân tử phải là những người hội tụ đầy đủ những phẩm chất đạo đức, như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, trung, hiếu đễ… phải là người tài đức vẹn toàn Có thể nói, toàn bộ tâm huyết, trí tuệ mẫn tiệp của Khổng Tử là nhằm chỉ ra bản chất, con đường thực hành về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, trung, hiếu đễ,… cho mỗi con người, để họ từng bước hướng tới mẫu người lý tưởng, góp phần tích cực vào việc xây dựng xã hội thanh bình, êm ấm

2.1.2 Tư tưởng của Khổng Tử về các quan hệ đạo đức và các chuẩn mực đạo đức cơ bản

Một là, tư tưởng của Khổng Tử về các quan hệ đạo đức cơ bản

Trang 6

Khổng Tử xác định, con người có năm mối quan hệ đạo đức cơ bản gọi là

“ngũ luân”, gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu)

Trong quan hệ vua tôi, Khổng Tử đề cao đức trung Ông cho rằng, dân vì

vua là trung, vua vì dân để được lòng dân tin cũng là trung Vậy trung của Khổng

Tử có hai chiều giữa dân với vua, đòi hỏi sự hết lòng và thành tâm thật ý trong quan

hệ với nhau

Quan hệ cha con: Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm

đầu, cha đối với con phải lấy lòng từ ái làm trọng Khổng Tử cũng chỉ ra những việc người con cần phải làm để thực hiện điều hiếu nghĩa với cha mẹ Theo ông, phận làm người con phải thực hiện điều hiếu nghĩa với cha mẹ suốt đời, khi cha mẹ còn sống cũng như lúc qua đời chỉ còn lại nấm mộ Hiếu là phải có tâm, có lòng thành, không có tâm, không có lòng thành thì sẽ không được gọi là hiếu Quan điểm “cha

ra cha, con ra con” của ông cũng đòi hỏi cha mẹ phải đối xử với con cái cho đúng đạo của mình

Quan hệ vợ chồng: Khổng Tử cho rằng, đã là vợ chồng phải thủy chung, hoà

thuận, thương yêu chăm sóc nhau

Quan hệ anh em: Anh em là những người cùng huyết thống, phải thật sự yêu

thương, quan tâm chăm sóc, đoàn kết giúp đỡ nhau, tạo không khí hoà thuận, kính trên nhường dưới, êm ấm trong ngoài có như vậy gia đình mới hạnh phúc

Quan hệ bạn bè: Theo Khổng Tử, trong quan hệ bạn bè, trung, tín luôn là

tiêu chuẩn của mọi hành vi

Hai là, tư tưởng của Khổng Tử về các chuẩn mực đạo đức cơ bản

Về phạm trù nhân, theo Khổng Tử, nhân có hai nội dung cơ bản sau: Thứ nhất là đối với bản thân mình, người có nhân phải luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để giúp ích cho nước, cho dân Ông nói: “người có nhân trước phải làm những việc khó; sau thì thâu hoạch cuộc thành tựu của mình” Thứ hai là đối với người: nhân có nghĩa là thương người “Phàn Trì hỏi về đức nhân, Khổng Tử đáp: “nhân là thương người” Tình yêu thương con người, theo Khổng Tử phải được xây dựng trên hai nguyên tắc là trung và thứ Bàn về chữ trung, Khổng Tử giải thích: “trung

là hết lòng hết dạ, thành tâm thật ý” Còn về chữ thứ có nghĩa là: “việc gì mình không muốn chớ làm cho người”

Về phạm trù nghĩa, Khổng Tử cho rằng, nghĩa là lẽ phải, đường hay việc đúng phải làm một cách tự nhiên, không suy nghĩ, tính toán lợi hay hại, được hay mất cho bản thân, biết tri ân đối với người đã giúp đỡ, cưu mang mình trong những lúc khốn khó, bần hàn, kính trọng người tài năng và nhân đức Khổng Tử đã từng nói: “Nghĩa

là cư xử cho thích hợp (nghi); nhưng đại để phải tôn trọng bậc hiền” Ngoài ra, trong các mối quan hệ xã hội của con người, như: vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè, nghĩa thể hiện với tư cách là trách nhiệm Như vậy, nghĩa trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử giúp cho con người biết phân minh việc phải trái, làm việc tốt, việc thiện ở đời và hành xử công bằng theo lẽ phải Cho nên, người có nghĩa, theo Khổng Tử là người thường biết làm và dám làm những việc lớn, đại sự, suốt đời phấn đấu cho sự thành công của sự nghiệp chung, lợi ích của toàn thể

Trang 7

Lễ theo Khổng Tử, không chỉ là quy định, phép tắc, chuẩn mực về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người, mà lễ còn là trật tự, kỷ cương, phép nước mà mọi người đều phải thực hiện Mọi người thực hiện lễ không được thái quá mà phải đúng mực Theo ông, bất luận thái độ, hành vi nào của con người, mặc dù về bản chất là tốt, nhưng thái quá, vượt khỏi lễ đều phản tác dụng, thậm chí còn gây nguy hại Ông nói: “cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình; cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách”

Đức trung trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử chỉ rõ thái độ, trách nhiệm, nghĩa vụ của dân, bề tôi đối với nhà vua trong quan hệ vua - tôi Tức là, bề tôi phải hết lòng, hết dạ phụng sự nhà vua Ông nói: “Vua khiến bầy tôi thì phải giữ lễ phép; bầy tôi thờ vua thì phải cho hết lòng” Lòng trung phải xuất phát từ trong tâm con người Theo quan niệm của Khổng Tử, trung với vua không có nghĩa là bề tôi lúc nào cũng hoàn toàn tuân theo mệnh lệnh của bề trên, mà phải có lòng dạ ngay thẳng, biết can ngăn, khuyên nhủ vua theo đúng điều nhân, tránh cho vua phạm những điều lầm lỗi

Chữ tín có nghĩa là tạo được lòng tin đối với mọi người bằng sự trung thực, lời nói phải đi đôi với việc làm Trong ngũ luân, tín được xem là điều kiện đầu tiên của mối quan hệ bạn bè “bằng hữu hữu tín” (bạn bè có lòng tin) Tuy nhiên, theo quan điểm của Khổng Tử, nội hàm của đức tín không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ bạn

bè mà còn bao hàm cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậc thánh hiền, các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ,…

Khổng Tử cho rằng, để nhận thức và hành động đúng bản chất của nhân, nghĩa,

lễ, trung, tín,… đòi hỏi phải là những người có trí, dũng

Theo Khổng Tử, trí là sự minh mẫn, sáng suốt của con người, phân biệt được người chính, kẻ tà; xác định đúng tình huống để có cách ứng xử phải đạo, có tình,

có lý Về nguồn gốc của trí, bên cạnh việc thừa nhận có loại tri thức bẩm sinh do trời phú cho những hạng người cao thượng; nhưng mặt khác, Khổng Tử cũng thấy được vai trò to lớn của sự học trong việc hình thành, mở rộng và nâng cao tri thức con người Ông nói: “Kẻ ham học hỏi, nghiên cứu thì ngày càng thấy xa hiểu rộng, tức gần với đức trí” Với Khổng Tử, học không chỉ để tu thân, mà mục đích cao nhất của bậc trí giả là để giúp nước, cứu đời, để tự lập rồi lập nhân, tự đạt rồi đạt nhân Nên, ông cho rằng việc dạy học chủ yếu là dạy kẻ cầm quyền trị dân “đủ

lễ, nghĩa, tín khiến dân từ bốn phương sẽ đưa con đến phục dịch mình ” chứ không phải học nghề “cày cấy” Khổng Tử đã đưa ra tư tưởng hết sức tiến bộ, đó

là “hữu giáo vô loại”, song, ông lại quan niệm có bậc “thượng trí” và kẻ “hạ ngu”

Sự phân chia này cho thấy nhiều mâu thuẫn và hạn chế trong quan niệm của ông

về đối tượng giáo dục

Trong tư tưởng Khổng Tử, dũng không chỉ sức khỏe thể chất, sức lực của con người mà là ý chí, sức mạnh chí khí của con người Vì vậy, người có dũng, theo Khổng

Tử không phải là kẻ ỷ vào bạo lực, vì lợi mà hành động bất chấp đạo lý Người có đức dũng, phải là người có ý chí quả cảm, hành động xả thân vì nghĩa, “lập thân” và “đạt nhân” Dũng còn là tinh thần can đảm, dám bày tỏ ý kiến đúng đắn của mình, có những hành động trung thực, thanh cao, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào

Trang 8

Theo Khổng Tử, các chuẩn mực đạo đức trên có mối liên hệ thống nhất với nhau về nội dung, trong đó nhân được coi là chuẩn mực gốc, là toàn đức, các chuẩn mực nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng, hiếu, đễ,… cũng từ nhân mà hình thành

và có vai trò bổ sung, chỉ ra cách thức, làm sáng tỏ nội dung của nhân Các chuẩn mực đạo đức này trở thành trục chính trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử

2.1.3 Tư tưởng của Khổng Tử về các phương pháp giáo dục đạo đức cho con người trong xã hội

Thứ nhất, phương pháp chính danh

Danh theo Khổng Tử có nghĩa là tên gọi, địa vị, công dụng; chính có nghĩa là ngay thẳng, đúng đắn Do đó, chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, cũng không dành vị trí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn Mặt khác, chính danh còn đòi hỏi mỗi người phải xứng đáng với cái danh mà mình đang mang Với những nội dung trên, ý nghĩa tích cực của phương pháp chính danh là làm cho con người ý thức được trách nhiệm và nghĩa

vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ xã hội

Thứ hai, phương pháp thuyết giáo tùy nghi

Đó là phương pháp dạy học tùy từng đối tượng Trong sự nghiệp dạy học của mình, ông luôn tìm hiểu kỹ về khả năng của học trò, trên cơ sở đó đề ra nội dung, yêu cầu, phương pháp giáo dục đạo đức phù hợp với từng người

Thứ ba, phương pháp làm gương

Khổng Tử cho rằng, giáo dục đạo đức có điều dạy mà không nói, học trò nhìn vào thái độ, cử chỉ, hành vi của thầy là có thể rút ra bài học Mỗi sự mẫu mực,

sự hoàn thiện nhân cách, sự nghiêm túc của thầy đều có thể trở thành những bài học sinh động cho trò Vì vậy, với ông sự làm gương của người thầy quan trọng hơn lời giảng Người thầy phải gương mẫu trong mọi hành vi, thái độ, cử chỉ của mình; đồng thời, phải có kiến thức thâm cao, là tấm gương sống để người học nhìn vào đó noi theo Đạt được những tiêu chí đó mới làm thầy trong thiên hạ được, mới có thể giáo hóa được mọi người

Thứ tư, phương pháp tự tu dưỡng bản thân

Khổng Tử cho rằng, người học phải biết quan sát người để xét mình, biết tìm những ưu điểm của người khác để học tập, đồng thời cũng biết nhìn ra những khuyết điểm của họ để tự sửa chữa bản thân Thậm chí, không ngại học hỏi từ những người có địa vị thấp hơn mình Ông nói: “Thấy ai hiền đức, mình nên tư tưởng để cố gắng cho bằng người Thấy ai chẳng hiền, mình nên tự xét, đừng bắt chước theo” Mỗi ngày xem xét lại bản thân là cách tự giáo dục hiệu quả tốt nhất, sẽ nhanh chóng sửa lỗi, hoàn thiện bản thân, tránh được sai lầm

Thứ năm, phương pháp thống nhất giữa học với hành, giữa tri thức và cuộc sống

Khổng Tử luôn đề cao phương pháp học đi đôi với hành Theo ông, học để hiểu biết, nhưng không coi hiểu biết là mục đích cuối cùng mà cao hơn thế là phải kết hợp học với hành, đem những tri thức đã học vận dụng vào trong cuộc sống, tránh nói

Trang 9

suông, học suông Theo Khổng Tử, nếu chỉ biết thế nào là nhân, lễ, nghĩa,… mà không thực hành nó thì đó mới chỉ là cái biểu hiện hời hợt bên ngoài, không có ý nghĩa, nên ông đòi hỏi học trò phải thực hành những điều đã học được với những người khác như với vua, với cha mẹ, anh em, bạn bè

II Những ưu điểm, hạn chế của học thuyết Khổng Tử

1 Ưu điểm của học thuyết Khổng Tử

Thứ nhất, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử góp phần xây dựng một xã hội có

tôn ti trật tự từ trên xuống dưới, từ bản thân mỗi cá nhân đến gia đình và xã hội.

Trước thực trạng xã hội thời Xuân thu rối loạn, trật tự kỷ cương đảo lộn, con người sống bất nhân, bất nghĩa, cha không ra cha, con không ra con, vua không ra vua, tôi không ra tôi, Khổng Tử đã đưa ra các tiêu chuẩn như, như cha hiền, con thảo, anh tốt em ngoan, chồng biết tình vợ nghe lẽ phải, bề trên từ hiếu,

bề dưới kính thuận, vua nhân từ, tôi trung thành; cùng với các chuẩn mực đạo đức như: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trung, dũng,… nhằm định hình trong mỗi con người cách ứng xử cho phải đạo Không chỉ đưa ra các yêu cầu, chuẩn mực đạo đức để con người tu dưỡng, rèn luyện, mà Khổng Tử còn rất đề cao việc học và việc dạy đạo đức để thực hiện đạo làm người, trở thành người có đạo đức, có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội Với những nội dung trên, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử đã góp phần xây dựng một cộng đồng xã hội có trật tự, kỷ cương, nền nếp từ gia đình đến ngoài xã hội

Thứ hai, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử hàm chứa giá trị nhân bản, nhân

văn khá sâu sắc.

Với tư tưởng chọn con người làm yếu tố căn bản, trung tâm, coi trọng xây dựng và xử lý các mối quan hệ giữa người với người dựa trên các quy tắc, tiêu chuẩn nhân luân Tin vào khả năng hoàn thiện của con người Coi đạo đức tối cao của con người là nhân, phạm vi hành động là lễ, phương pháp đối xử với mọi người

là trung thứ,… Khổng Tử đã chủ trương quý trọng sinh mạng, vì yêu thương người thân mà yêu thương mọi người, vì yêu thương loài người nên ủng hộ nền chính trị nhân chính để xây dựng thế giới đại đồng cùng với những nỗ lực để thực hiện khát vọng hạnh phúc cho con người gắn với việc đánh giá mức độ “thành nhân” của họ; trong đó, bao gồm cả việc hoàn thiện nhân cách và hoàn thành nghĩa vụ làm người, khẳng định vai trò của dân, nhấn mạnh cả yếu tố vật chất và tinh thần, không bỏ qua vai trò của cá nhân, tập thể đứng đầu… đã cho thấy giá trị nhân bản, nhân văn đáng được ghi nhận trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử

2 Hạn chế của học thuyết Khổng Tử

Thứ nhất, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử thể hiện quan điểm duy tâm, và phiến diện về lịch sử

Khổng Tử đã quan niệm đạo đức là nhân tố duy nhất quyết định sự hưng vong, thịnh suy của triều đại mà quên mất vai trò quyết định của kinh tế, của tồn tại xã hội đã

thể hiện quan điểm duy tâm về lịch sử trong tư tưởng đạo đức của ông Bên cạnh đó, tư

tưởng đạo đức của Khổng Tử đã đề cao đến mức tuyệt đối hóa vai trò đạo đức của nhà vua trong việc ổn định xã hội Ông coi đạo đức của người quân tử, tức giới cầm quyền,

Trang 10

mang tính quyết định đến đạo đức của tiểu nhân (thảo dân) Đó là quan niệm hết sức siêu hình, phiến diện và một chiều Khổng Tử rất quan tâm đến lĩnh vực giáo dục con người Mục đích của ông là nhằm giáo hóa, đào tạo, hoàn thiện con người Theo ông,

sự hoàn thiện con người vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện hoàn thiện xã hội, nhưng ông lại chú trọng đến con người chủ yếu ở phương diện đạo đức Quan niệm của Khổng Tử về con người như vậy không thể tránh khỏi tính chất siêu hình

Thứ hai, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử còn mang dấu ấn đẳng cấp, danh phận

Bất cứ một thời đại nào trong lịch sử, các nhà triết học ít hay nhiều cũng đều bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng ở thời đại của mình đang sống và giai cấp hay tầng lớp

mà mình là người đại diện, như C.Mác nhận định: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình” Khổng Tử cũng vậy, sinh ra và lớn lên trong giai đoạn chiến tranh triền miên, đạo đức con người bị băng hoại, ông lại là người có dòng dõi quý tộc, vì muốn khôi phục lại xã hội như thời Tây Chu cho nên tư tưởng của ông không thể không mang dấu ấn đẳng cấp, danh phận

Vì vậy, tư tưởng đạo đức của Khổng Tử trên thực chất chỉ đề cao đạo đức của giai cấp thống trị, hệ thống chuẩn mực đạo đức trong tư tưởng của ông được coi là

“khuôn vàng thước ngọc” buộc mọi người phải thực hiện trong suy nghĩ và hành động nhằm mục đích phục vụ cho giai cấp thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến trì trệ,

lạc hậu Do đó, nó rất khó có thể dung nạp được những tư tưởng mới mẻ, cách mạng,

và khi trình độ dân trí đã phát triển thì những mặt hạn chế đó trong tư tưởng đạo đức của Khổng Tử nếu không được khắc phục sẽ trở thành lực cản và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội

III Ảnh hưởng của Thuyết học Khổng Tử đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện

1 Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) cũng như trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước Tại Hiến pháp năm 2013, bản chất và đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được thể chế hóa rõ hơn Nhà nước pháp chúng ta có thể hiểu ngắn gọn là nhà nước có hệ thống pháp luật tiêu biểu cho quyền lực của một nhà nước, một chế độ Hệ thống này phản ánh ý chí, nguyện vong, tâm tư của nhân dân, bảo đảm cho nhân dân quyền được làm chủ của mình

Như vậy, có thể nhận thấy, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa mang những đặc điểm của nhà nước pháp quyền nói chung, nhất là tính thượng tôn Hiến pháp, pháp luật, vừa có những đặc thù của riêng Việt Nam, được nhấn mạnh ở ba điểm chính sau:

Thứ nhất, cơ sở kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Ngày đăng: 13/04/2022, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2013), Những nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nho giáo, Thông tin khoa học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung chủ yếu trong tư tưởngchính trị - xã hội của Nho giáo
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2013
2. Nguyễn Đăng Dung (2020), Lịch sử các học thuyết Chính trị, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết Chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb ĐHQGHà Nội
Năm: 2020
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
6. Trung Hiếu (2020), Góc nhìn đại biểu: Vai trò lãnh đạo của Đảng với cơ quan Lập pháp (Bài 2), Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc nhìn đại biểu: Vai trò lãnh đạo của Đảng với cơquan Lập pháp (Bài 2)
Tác giả: Trung Hiếu
Năm: 2020
7. Bùi Quốc Hưng, (2019), Ảnh hưởng của tư tưởng trị quốc đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tư tưởng trị quốc đối với việc xâydựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Quốc Hưng
Năm: 2019
8. Chu Hy (Nguyễn Đức Lân dịch), (1998), Tứ thư tập chú, Nxb văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư tập chú
Tác giả: Chu Hy (Nguyễn Đức Lân dịch)
Nhà XB: Nxb văn hóaThông tin
Năm: 1998
9. Vũ Khiêu (2009), Nho giáo xưa và nay, Viện khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 2009
10. Trần Trọng Kim, (2001), Nho giáo, Nxb văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb văn hóa Thông tin
Năm: 2001
11. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
13. Trần Văn Hải Minh (1991), Bách Gia Chư Tử, Hội nghiên cứu và Giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bách Gia Chư Tử
Tác giả: Trần Văn Hải Minh
Năm: 1991
14. Trương Hữu Quýnh chủ biên, (2015), Đại Cương Lịch Sử Việt Nam, tập I, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Cương Lịch Sử Việt Nam
Tác giả: Trương Hữu Quýnh chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
15. Lưu Ngọc Tố Tâm (2018), Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam trong xu thế hội nhập và phát triển, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ"nghĩa Việt Nam trong xu thế hội nhập và phát triển
Tác giả: Lưu Ngọc Tố Tâm
Năm: 2018
16. Trương Nguyên Tuệ (2019), Suy nghĩ về thực trạng đạo đức xã hội hiện nay, Tạp chí ban tuyên giáo Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về thực trạng đạo đức xã hội hiệnnay
Tác giả: Trương Nguyên Tuệ
Năm: 2019
17. Thông tấn xã Việt Nam (2021), Ngành tư pháp cần chủ động tham mưu tháo gỡ vướng mắc về thể chế, VietNamplus, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành tư pháp cần chủ động tham mưutháo gỡ vướng mắc về thể chế
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2021
18. Nguyễn Đức Sự (2011), Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Văn Hóa Nghệ An Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w