BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH [ \ TRẦN VĂN GIÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH LIÊN THÔNG TỪ BẬC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP LÊN ĐẠI HỌC NGÀNH VẬN H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[ \
TRẦN VĂN GIÁP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH LIÊN THÔNG TỪ BẬC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP LÊN ĐẠI HỌC
NGÀNH VẬN HÀNH MÁY TÀU BIỂN
Chuyên ngành : Quản Lý Giáo Dục Mã số : 5.07.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ SƠN
Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2004
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng 5
Danh mục các hình vẽ, sơ đồ , biểu đồ 5
Phần mở đầu 7
CHƯƠNG I Cơ sở lý luận 14
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 14
1.2 Mục đích và ý nghĩa của đào tạo liên thông 20
1.3 Khái niệm về chương trình đào tạo, xây dựng chương trình ĐTLT 23
1.4 Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông 24
CHƯƠNG II Thực trạng đào tạo ngành Vận hành máy tàu biển tại Trường Trung Học Hàng Hải II và Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh 41
2.1 Vài nét về Trường Trung Học Hàng Hải II và Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh 41
2.2 Thực trạng đào tạo ngành vận hành máy tàu biển tại Trường Trung Học Hàng Hải II và Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh 48
CHƯƠNG III :Xây dựng chương trình đào tạo liên thông ngành Vận hành máy tàu biển 71
3.1 Thăm dò nhu cầu 71
3.2 Xác định mục tiêu đào tạo 80
3.3 Xác định nội dung Chương trình đào tạo 84
3.4 Thẩm định chương trình đào tạo 93
Kết luận và kiến nghị 97
Tài liệu tham khảo 100
Phụ lục .103
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của bản thân đến:
o Đảng ủy, Ban giám hiệu , Phòng Nghiên cứu khoa học và Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
o Quí Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học ngành Quản lý giáo dục
o Quí Thầy Cô giáo, Cán bộ Công nhân viên các Phòng, Khoa, Bộ môn Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
o Thầy hướng dẫn PGS.TS LÊ SƠN
o Hiệu Trưởng, các thầy ,cô giáo, cán bộ công nhân viên Trường Trung Học Hàng Hải II, Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam, Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải TP.Hồ Chí Minh
o Các đồng chí cán bộ kỹ thuật và máy trưởng các Công Ty Vận Tải biển tại khu vực TP Hồ Chí Minh
o Tiến Sỹ khoa học Hoàng Ngọc Vinh – chuyên viên Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
o Các bạn học viên lớp Cao học khoá 11 ngành Quản lý giáo dục
Đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này !
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
- ANTA Australian National Training Authority
- AVCC Australian Vice- Chancellors Committee
- CNKT Công nhân kỹ thuật
- DWT Dead weight ( Trọng tải toàn phần )
- ĐTLT Đào tạo liên thông
- GMDSS Hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu
- GTVT Giao thông vận tải
- GTVT TP.HCM Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh
- HTTĐĐC Hệ thống tự động điều chỉnh
- IMO International Maritime Organization (Tổ chức Hàng
Hải Quốc Tế)
- KT HĐL Khai thác hệ động lực
- STCW Bộ luật về các tiêu chuẩn huấn luyện cấp bằng đi ca
ca cho thuyền viên
- TAFE Technical and Further Education
- THCN Trung học chuyên nghiệp
- THHH II Trung học hàng hải II
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chức năng nhiệm vụ về đào tạo và huấn luyện hàng hải của Trường THHH II và Trường Đại Học GTVT TP.HCM Bảng 2.2 Các chức danh trên tàu biển tương ứng với các bậc đào tạo Bảng 2.3 Trang thiết bị đào tạo hàng hải theo yêu cầu của STCW78/95 Bảng 3.1 Chuẩn trình độ THCN và đại học chuyên ngành vận hành máy tàu biển
Bảng 3.2 Bảng liệt kê môn học và so sánh thời gian giảng dạy Bảng 3.3 Bảng phân bố các học phần theo tuần
Bảng 3.4 Bài tập lớn và thiết kế môn học
Bảng 3.5 Thi tốt nghiệp
Bảng 3.6 Phân bố thời gian toàn khoá học theo tuần lễ
Bảng 3.7 Đánh giá chương trình đào tạo
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ , SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Vòng chất lượng Deming M-P-P-S
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức nhà nước về đào tạo, huấn luyện hàng hải Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Trung Học Hàng Hải II
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại Học GTVT TP HCM
Sơ đồ 2.4 Quy trình đào tạo ngành Vận hành máy tàu biển tại các Trường THHH II và Trường Đại Học GTVT TP HCM Biểu đồ 2.1 Số lượng học sinh trung cấp máy tàu biển của Trường THHH II năm 2000 – 2002
Biểu đồ 2.2 Số lượng sinh viên đại học máy tàu biển của Trường Đại Học GTVT TP HCM năm 2000 – 2002
Trang 66Biểu đồ 2.3 Số lượng thợ máy , sỹ quan vận hành vã quản lý ngành
Vận hành máy tàu biển hiện có ( tính đến tháng 6/ 2003 ) Biểu đồ 2.4 Nhu cầu số lượng thợ máy , sỹ quan vận hành vã quản lý ngành máy tàu biển đến năm 2010
Biểu đồ 2.5 Mức độ đáp ứng yêu cầu thực tế của thuyền viên Việt Nam có trình độ trung học và đại học trên tàu biển trong nước Biểu đồ 2.6 Mức độ đáp ứng yêu cầu thực tế của thuyền viên Việt Nam có trình độ trung học và đại học trên tàu biển nước ngoài Biểu đồ 2.7 Các hạn chế hiện nay của thuyền viên Việt Nam có trình độ trung học và đại học ngành Vận hành máy tàu biển
Biểu đồ 2.8 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế hiện nay của thuyền viên trình độ trung học ngành Vận hành máy tàu biển
Biểu đồ 2.9 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế hiện nay của thuyền viên trình độ đại học ngành Vận hành máy tàu biển
Biểu đồ 3.1 Kết quả thăm dò trong học sinh về nhu cầu đào tạo liên thông Biểu đồ 3.2 Kết quả thăm dò trong lực lượng lao động về nhu cầu đào
tạo liên thông
Trang 7NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH LIÊN THÔNG TỪ BẬC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP LÊN ĐẠI HỌC
NGÀNH VẬN HÀNH MÁY TÀU BIỂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài :
Báo cáo chính trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá VIII Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam [17] đã khẳng định vị trí và định hướng phát triển cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo:
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”
Đưa chủ trương , chính sách của Đảng về giáo dục và đào tạo vào cuộc sống là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân nói chung và đặc biệt là của ngành giáo dục nói riêng
Sau hơn 15 năm đổi mới, toàn Đảng và toàn dân Việt Nam đã đạt đươc
những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Chúng ta đã đa dạng hoá loại hình trường lớp và phương thức giáo dục; quy
Trang 88mô giáo dục tăng nhanh; Trình độ hiểu biết và khả năng tiếp cận tri thức mới trong học sinh , sinh viên ngày càng được nâng cao…[6]
Đạt được những thành tựu đó là nhờ chúng ta có đường lối đúng về phát triển giáo dục đào tạo Liên thông trong giáo dục và đào tạo là một trong số những hướng đi đúng đắn mà chúng ta có được trong những năm qua Chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo về đào tạo liên thông đã tạo điều kiện dễ dàng cho người học có thể chuyển từ một bậc học này sang bậc học khác hoặc từ ngành học này sang ngành học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân tránh học lại những kiến thức , kỹ năng hiện có Do vậy, đào tạo liên thông sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí đào tạo “Đào tạo liên thông sẽ tạo điều kiện để tiến tới một hệ thống giáo dục phi rào cản –
xu hướng tất yếu của hầu hết các nền giáo dục hiện đại trên thế giới “[2]
Nhận thức được tầm quan trọng và cần thiết của đào tạo liên thông, Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo đã thành lập ban chỉ đạo “ Xây dựng chương trình liên thông “ do Bộ Trưởng làm trưởng ban Sau một quá trình nghiên cứu , ngày 05/12/2002 Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo đã ra quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành Quy định tạm thời về đào tạo liên thông Dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học Quyết định nói trên đã chính thức xác nhận tính cần thiết của đào tạo liên thông tại Việt Nam
Thực ra, trước đó đào tạo liên thông đã được tiến hành nhiều năm nay ở nước ta dưới hình thức đào tạo chuyên tu nhằm đáp ứng nhu cầu người học và thực hiện chính sách cán bộ Nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đã được đào tạo nâng cao trình độ , chuyển đổi nghề nghiệp , có công ăn việc làm thích hợp ổn định cuộc sống và đóng góp công sức của mình vào sự tiến bộ của xã hội Tuy nhiên với hình thức đào tạo này, chúng ta còn một số tồn tại sau [2]:
1.- Chưa có những đánh giá và những nghiên cứu về loại hình đào tạo liên thông này để có chỉ đạo tốt hơn
Trang 92.- Chưa có những giải pháp và cơ chế chính sách thống nhất chỉ đạo từ
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục
3.- Chưa kiểm soát được chất lượng đào tạo tại các cơ sở tiến hành đào tạo liên thông
Đối với ngành Hàng hải Việt Nam , đào tạo liên thông dưới hình thức chuyên tu - chuyển cấp từ bậc học trung học chuyên nghiệp lên đại học đã bắt đầu từ năm 1977 Một trong những nguyên nhân khiến ngành Hàng hải sớm có đào tạo liên thông là do tiền thân của Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam và Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh hiện nay là Trường Trung Học Hàng Hải trước đây và phần lớn thuyền viên tốt nghiệp trung học phải nhanh chóng học chuyển cấp lên đại học để đáp ứng kịp thời nhu cầu về nhân lực của ngành
Cũng như một số ngành khác, đào tạo liên thông trong ngành Hàng hải ngoài những tồn tại nêu trên còn có những nhược điểm sau :
1.- Chương trình đào tạo do chưa được tập trung nghiên cứu một cách khoa học nên chưa đáp ứng với yêu cầu chất lượng đào tạo hiện nay của ngành vận tải biển
2.- Hình thức liên thông chưa tuân thủ các quy định mới của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo
Thật cần thiết khi đặt ra nhiệm vụ giải quyết những tồn tại nêu trên, vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất Chương trình đào tạo liên thông từ bậc Trung học chuyên nghiệp lên đại học chuyên ngành vận hành máy tàu biển “ làm luận văn tốt nghiệp Cao học Ngoài ra, việc xây dựng được một chương trình liên thông có khoa học từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học còn là nhiệm vụ mà ngành giao cho trường phải thực hiện ngay trong năm học 2004- 2005
2- Mục đích nghiên cứu :
Trang 1010Qua việc khảo sát thực trạng về công tác đào tạo và đào tạo liên thông đối với ngành vận hành máy tàu biển tại các trường hàng hải, đề tài sẽ đề xuất một chương trình khung đào tạo liên thông từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học cho chuyên ngành này
3- Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1- Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các
chương trình đào tạo trung học chuyên nghiệp và đại học chuyên ngành vận hành máy tàu biển
3.2- Khách thể nghiên cứu :
- Hoạt động đào tạo đối với chuyên ngành vận hành máy tàu biển tại trường trung học hàng hải
- Hoạt động đào tạo đối với chuyên ngành vận hành máy tàu biển tại trường đại học Giao Thông Vận Tải TP Hò CHí Minh
4- Giả thuyết khoa học
Nếu nắm vững được lý luận xây dựng chương trình đào tạo liên thông, vận dụng vào phân tích mục tiêu đào tạo và các đặc điểm của đối tượng sinh viên Hàng Hải thì có thể thiết kế được một chương trình liên thông thích hợp và khả thi
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.- Xây dựng cơ sở lý luận về đào tạo liên thông nói chung và liên thông từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học nói riêng
5.2.- Khảo sát thực trạng hoạt động đào tạo đối với chuyên ngành vận hành máy tàu biển ở các trường Trung Học Hàng Hải và Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh trong 03 năm gần đây
5.3.- Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông và xây dựng chương trình khung (Mục tiêu chương trình, các môn học, cấu trúc và
Trang 11tổ chức các môn học, thời gian đào tạo) đào tạo liên thông cho chuyên ngành Vận hành máy tàu biển
6- Giới hạn đề tài
6.1- Về thời gian : Khảo sát thực trạng đào tạo đối với chuyên ngành vận hành máy tàu biển tại Trường Trung Học Hàng Hải và tại Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh trong các năm học 1999-2000, 2000-2001, 2001-2002
6.2- Về không gian : Nghiên cứu tiến hành trong phạm vi các trường Trường Trung Học Hàng Hải và tại Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh
6.3- Về quy mô : Nghiên cứu tiến hành đối với chuyên ngành Vận hành máy tàu biển ở mức độ là đề xuất một chương trình đào tạo liên thông từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học Do thời gian và giới hạn ở mức độ một luận văn cao học , nên luận văn chỉ tập trung vào hai khâu (khảo sát nhu cầu, thực trạng và thiết kế xây dựng chương trình ) trong bốn khâu thuộc mô hình quản lý của tiến sỹ U E Deming (Mỹ ) Hai khâu chưa được xem xét tới trong luận văn là tổ chức đào tạo thí điểm và đánh giá kết quả của công tác đào tạo
7- Phương pháp nghiên cứu
7.1-Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu lý luận : Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, tài liệu, sách báo, tư liệu lưu trữ, thống kê, báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài
7.2- Phương pháp điều tra :
Điều tra bằng phiếu câu hỏi đối với học viên, cán bộ quản lý về thực trạng chương trình đào tạo của ngành máy tàu biển tại các trường Trung học Hàng Hải và Đại Học Giao Thông Vận Tải TP Hồ Chí Minh
Trang 12127.3- Phương pháp phỏng vấn trao đổi trực tiếp với các chuyên gia quản lý công tác đào tạo và sử dụng nhân lực đào tạo về chương trình đào tạo hiên hành , những yêu cầu từ thực tế học tập và sản xuất để đưa vào chương trình đào tạo
7.4 Trưng cầu ý kiến xây dựng chương trình đào tạo liên thông
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
KHÁI NIỆM VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
THIẾT KẾ QUI TRÌNH XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
Trang 141.1.1- Đào tạo liên thông trên thế giới :
Trên thế giới đào tạo liên thông đã hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Australia, Singapor…Các quốc gia này đang nỗ lực gắn chặt hơn nữa giáo dục và đào tạo với thị trường lao động qua chính sách “ Từ trường học đến việc làm “ Chính vì vậy , quá trình liên thông trong đào tạo có thể xem như một trong những giải pháp thực hiện mục tiêu nói trên
* Tại Hoa Kỳ : Đào tạo liên thông đã hình thành và phát triển ở những
năm thập kỷ 60 cuả thế kỷ XX Ơû đây, người ta chia yêu cầu về trình độ ra ba mức [4]:
Mức 1 – mức thấp nhất (entry level) cho công nhân Mức 2 – nâng cao (advanced level) cho cán bộ kỹ thuật Mức 3 - mức chuyên nghiệp (professional level) cho kỹ sư Mỗi mức đều chỉ ra những yêu cầu cụ thể, học sinh phải đạt được chuẩn và hướng dẫn chương trình kèm theo ở mỗi bậc học Trên cơ sở đó thực hiện
liên thông (articulation and credits transfer) giữa các bậc học
* Tại Australia : Khung trình độ chuẩn chia ra làm các bậc : chứng chỉ
cấp I; chứng chỉ cấp II; chứng chỉ cấp III; chứng chỉ cấp IV; sau trung học phổ thông – Diploma (tương dương bằng THCN của ta); Cao đẳng – Advance
Trang 15diploma (tương đương bằng cao đẳng của ta); đại học; thạc sĩ; tiến sĩ Mỗi bậc học đều có khung trình độ chuẩn, nêu lên những khác biệt năng lực nghề nghiệp hoặc trình độ yêu cầu mỗi bậc học thuộc hệ thống TAFE (Technical and Further Education) Căn cứ vào khung trình độ quốc gia, hầu hết các trường đại học đều có chính sách thỏa thuận công nhận tín chỉ ở bậc học dưới Để có thể liên thông giữa các bậc học thì cần thiết phải có bằng diploma hoặc advance diploma để liên thông lên đại học và trên đại học
Trong chính sách liên thông có hướng dẫn chi tiết về những điều kiện để học sinh có thể vào học một hoặc một vài khóa học trong nhà trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho họ có thể theo học Trên cơ sở hợp tác giữa các trường chuyên nghiệp và các trường đại học, những chi tiết cụ thể về thỏa thuận chuyển tín chỉ sẽ do khoa ở các trường chịu trách nhiệm ban hành Cơ quan quản lý cao nhất của mỗi bậc học này là AVCC (Australian Vice- Chancallors Committee) phụ trách khối đại học và ANTA (Australian National Training Authority) chịu trách nhiệm trong khối giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp (Vocational Education and Training - VET) trong việc ban hành qui định, những nguyên tắc và chỉ dẫn điều hành mang tính hệ thống về đào tạo liên thông đối với các bậc học
* Tại Canada : Đào tạo liên thông cũng tiến hành từ thập niên 60 cuả
thế kỷ XX với các hình thức giống như Mỹ và Australia Liên thông thực hiện trên cơ sở thoả thuận giữa các hệ thống , cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo Bộ Giáo dục British Colombia (Canada) tham gia quản lý nhà nước trong đào tạo liên thông để đảm bảo chất lượng đào tạo và công bố những văn bản hướng dẫn để cho quá trình liên thông diễn ra thuận lợi
* Tại Đông Nam Á : Đào tạo liên thông còn tương đối mới nên còn
nhiều vấn đề cần giải quyết Trong khu vực, chỉ có Singapor là nước có chương trình đào tạo liên thông khá mềm dẻo, hiệu quả và đa dạng nhằm đáp
Trang 1616ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực Sinh viên hoàn tất một bằng diploma về polytechnic có thể vào học hầu hết các khoá học ở bậc đại học với những chuyên ngành tương ứng Trong khi đó, ở Thái Lan, những học sinh học ở trường nghề rất ít có cơ hội để vào học đại học, đặc biệt là những trường đại học công
Đào tạo liên thông ở các nước trên thế giới đã được nghiên cứu và thực hiện từ lâu nên có những nguyên tắc, trình tự thực hiện và những vấn đề tồn đọng riêng Mỗi nước có một bài học khác nhau trong quá trình ĐTLT (Xem
phụ lục 1-một số bài học kinh nghiệm về đào tạo liên thông ở một số nước )
1.1.2- Đào tạo liên thông tại Việt Nam
Đào tạo liên thông cũng đã xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 1960, với hình thức đào tạo chuyên tu để vừa bảo đảm chính sách cán bộ , vừa kịp thời bổ sung đội ngũ cán bộ rất thiếu lúc bấy giờ Bộ Đại học và THCN (phía Bắc) thời kỳ này đã có một số văn bản quy định và hướng dẫn đào tạo cũng như văn bằng chứng nhận kết quả học tập cho loại hình này Có thể nói đào tạo chuyên tu đã góp phần tạo ra cho đất nước một đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý trưởng thành từ sản xuất và chiến đấu Chính sách này vẫn còn áp dụng đến ngày nay
Trong khoảng chục năm trở lại đây, một số hình thức liên thông mới đã được một số trường áp dụng :
* Một số trường đại học cho phép sinh viên vào học và miễn trừ một số môn đã học ở một nghành khác ( chủ yếu là các môn văn hóa ) và thời gian học cũng vì thế mà có thể được rút ngắn
* Một số trường, được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục và Đào tạo như Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Y - Dượïc và các đại học sư phạm tiến hành đào tạo liên
Trang 17thông với hình thức là tiếp nhận những học sinh không đủ điểm tuyển vào đại học vào hệ cao đẳng tại trường thi tuyển Sau khi tốt nghiệp cao đẳng được xét chuyển lên học đại học trong thời gian 3 đến 3,5 năm Tổng thời gian để tốt nghiệp đại học là 6 đến 6,5 năm
* Một hình thức liên thông khác nữa cũng đã tồn tại nhiều năm khi Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo ban hành chính sách đào tạo hai giai đoạn, cho phép học sinh học xong giai đoạn I ở trường này có thể chuyển sang học tiếp giai đoạn II ở một vài trường khác cùng khối ngành
Các hình thức đào tạo liên thông nói trên có ưu điểm là giúp cho người học tận dụng hết năng lực và động cơ học tập để có thể học một lúc nhiều trường hoặc học ở những trường mong đợi mà ban đầu chưa được vào học do điểm thi đầu vào thấp Tuy nhiên các hình thức trên cũng đã bộc lộ những điểm yếu là:
- Học sinh yếu học lực học ở những trường đòi hỏi học lực cao nên chất lượng học thấp
- Do có thể chuyển trường khi chuyển giai đoạn nên các trường thường
bị động về lưu lượng học sinh
- Trong hầu hết các trường đào tạo liên thông vẫn chưa định rõ ràng chuẩn trình độ, chuẩn kỹ năng , chuẩn kiến thức ở mỗi bậc học mà học sinh tốt nghiệp cần phải có, vì vậy chương trình đào tạo xây dựng chưa thực sự hoàn chỉnh
Về tính khoa học , Đào tạo liên thông chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Công trình quốc gia nghiên cứu về đào tạo liên thông được ghi nhận
là đề tài khoa học cấp Bộ , mã số B96-49-29 mang tên “ Sự khác biệt và liên
thông giữa hai cấp Đại học và Cao đẳng trong bậc giáo dục đại học” do Viện
Khoa Học Giáo Dục Việt Nam thực hiện ( TS Đỗ Công Vịnh – chủ nhiệm đề
Trang 1818tài ) tháng 12 năm 1997 [30] đã đề cập đến những cơ sở của việc đào tạo liên thông trong kỷ nguyên mới, những yêu cầu và điều kiện liên thông, các con đường thực hiện liên thông và giới thiệu thiết kế mẫu chương trình đào tạo liên thông Ngòai công trình nói trên, còn có một số nghiên cứu khác dưới dạng báo cáo, tham luận tại các cuộc hội thảo về đào tạo liên thông do Bộ Giáo Dục & Đào Tạo tổ chức
Trong số các cuộc hội thảo về đào tạo liên thông phải kể đến hai cuộc hội thảo lớn do Bộ Giáo Dục & Đào Tạo tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5/2001 và tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 10/2001 Hội thảo diễn ra với sự tham gia các đại biểu đại diện cho các Bộ, Ngành, Sở Giáo dục và Đào tạo, và các trường Đại học, Cao đẳng, THCN Hội thảo đã tập trung thảo luận một số vấn đề:
1 Tính cấp thiết của việc tổ chức đào tạo liên thông
2 Ngành đào tạo cần liên thông và hình thức liên thông
3 Bước đi và các điều kiện đảm bảo chất lượng
4 Những vấn đề khó khăn khi thực hiện đào tạo liên thông
5 Kinh nghiệm và đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong đào tạo liên thông
Hội thảo đã xác định, mục tiêu bao trùm của đào tạo liên thông là nhằm
đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao, đa dạng và hiệu quả để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang phát triển Bộ Giáo Dục & Đào Tạo sẽ là cơ quan chỉ
đạo đầu mối có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý các hoạt động ĐTLT, tư vấn và điều phối các mối quan hệ trong quá trình thực hiện Nhiệm vụ chính sẽ thuộc về các cơ sở đào tạo trong việc thiết kế chương trình, xác định diện học sinh nào được liên thông tìm đối tác để có được thoả thuận liên thông nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
Trang 19Tuy nhiên, đào tạo liên thông là vấn đề mới ở Việt Nam nên trong quá trình thực hiện sẽ gặp những khó khăn tồn tại cản trở việc xây dựng chương trình như sau:
1 Phải xây dựng được chuẩn trình độ đào tạo ở mỗi bậc học để làm cơ sở xác định mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo liên thông
2 Ngành đào tạo trong từng bậc học và giữa các bậc học phải thống nhất về tên gọi để tạo sự kết nối giữa hai bậc học
3 Chương trình khung giáo dục cao đẳng chưa áp dụng thống nhất tại các trường Cao đẳng
4 Tài liệu học tập của bậc THCN vừa thiếu vừa không đồng bộ, nhất là giáo trình, sách tham khảo mỗi trường sử dụng một tài liệu riêng, thiếu nhất quán trong việc biên soạn sách giáo khoa khiến cho công việc kiểm tra liệt kê nội dung mất rất nhiều thời gian , công sức và khó thực hiện
5 Nghiên cứu về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo trong các trường chưa được quan tâm đúng mức thiếu chuyên gia xây dựng và phát triển chương trình nên khi tiếp cận chương trình mới còn máy móc, lúng túng
6 Giáo viên ở bậc THCN còn rất nhiều hạn chế về trình độ sư phạm, về trình độ chuyên môn, cũng như nghiên cứu khoa học nên hiệu quả hợp tác còn thấp khi xây dựng chương trình
7 Còn tồn tại những quan điểm lệch lạc về ĐTLT và những nguyên nhân khác tạo những cản trở vô hình cho quá trình xây dựng
Đây cũng chính là những trở ngại đặt ra khi thực hiện đề tài Tuy nhiên xét về tính lịch sử của vấn đề nghiên cứu, đề tài có những thuận lợi sau :
1.- Đào tạo liên thông đã chính thức trở thành chính sách trong giáo dục – đào tạo ở nước ta
2.- Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo liên thông ở nước ta, nhưng những công trình nghiên cứu đã có cũng đã đặt được những nền móng cơ bản để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra
Trang 20203.- Đối với ngành Hàng hải, vì Việt Nam là thành viên của Tổ Chức Hàng Hải Quốc Tế ( IMO ) nên chuẩn đào tạo về chuyên môn cơ bản phải tuân theo quy định của IMO ở các bậc học
4.- Chuyên ngành và tên gọi của chuyên ngành ở bậc trung học và đại học hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ cao thấp về trình độ chuyên môn
5.- Tài liệu học tập ở bậc trung học đa phần là tài liệu học tập ở bậc đại học được cắt bỏ những phần được xem là không cần thiết đối với bậc trung học
1.2 Mục đích và ý nghĩa của đào tạo liên thông :
1.2.1 Khái niệm về đào tạo liên thông : Đào tạo liên thông là gì?
Có nhiều định nghĩa về ĐTLT, nói về ĐTLT người ta thường đề cập đến 3 thuật ngữ: articulation (quay chuyển hướng), credit transfer (chuyển tín chỉ), cross – sectoral qualification linkage (liên kết thông qua các bậc học)
- Liên thông (Articulation) là sự ghép nối của hai hoặc nhiều hệ thống trong một cộng đồng trường học để giúp sinh viên chuyển dễ dàng từ một bậc học này tới một bậc học khác mà không phải học lại hoặc mất tín chỉ Bên cạnh đó nó cho phép sinh viên đạt được một trình độ kỹ năng cao hơn sau khi hoàn tất khoá học
- Chuyển tín chỉ (Credit transfer) là quá trình đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học ở một bậc học nào đó để xác định sự trùng lắp (overlap) hay là tương đương với kiến thức và kỹ năng của bậc học khác để thừa nhận các tín chỉ cho người học
- Liên kết thông qua các bậc học (Cross – sector Qualification Linkage): bất kỳ mối liên hệ chính thức giữa một trình độ nghề hoặc những phần của một trình độ nghề với một trình độ học, đều được phát triển để tạo ra con đường học tập xuyên suốt qua các bậc học, thông qua việc thỏa thuận giữa các cơ sở đào tạo có các bậc học với sự chấp nhận của cơ quan quản lý và cấp văn bằng
Trang 21Theo dự án ĐTLT Australia:
“Đào tạo liên thông là quá trình liên kết hai hoặc nhiều bậc học vào một mạch đường kế tiếp và tích hợp để người học có thể chuyển từ bậc học này tới bậc học kia một cách liên tục với điều kiện thoả mãn một lượng tín chỉ về thành tích học tập của bậc học trước đó mà có liên quan đến bậc học được chuyển tới”
PGS.TS Nguyễn Đại Thành- Vụ trưởng vụ THCN Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, trong Hội thảo Xây dựng chương trình đào tạo liên thông tại Hà Nội tháng 10/2001, đã đưa ra định nghĩa:
Đào tạo liên thông là quá trình đào tạo cho phép công nhận và chuyển đổi kết quả học tập và rèn luyện của người học từ bậc học này tới một số bậc học khác trong hệ thống đào tạo Như vậy, liên thông có thể hiểu với nghĩa liên kết và chuyển đổi giữa các ngành học và bậc học với nhau [2]
Theo định nghĩa được đưa ra tại hội thảo Hà Nội 10/2001 thì ĐTLT là một “quy trình cho phép và chuyển đổi “ Như vậy có thể hiểu ĐTLT bao gồm hai khối công việc : 1- Kỹ thuật phát triển chương trình đào tạo ( để có thể kế thừa kiến thức và kỹ năng ) ; 2- Thể chế chính sách vận hành điều khiển quá trình này ( cho phép nối ghép với nhau giữa các khối kiến thức và kỹ năng )
1.2.2 Các hình thức ĐTLT
Hiện nay trên thế giới tồn tại một số hình thức liên thông như sau:
- Liên thông dọc ( Vertical Articulation ): người học chuyển từ bậc học thấp lên bậc học cao hơn trong cùng một ngành học như từ THCN lên cao đẳng, THCN lên đại học, cao đẳng lên đại học
- Liên thông ngang (Horizotal Articulation ): người học di chuyển trong cùng bậc học để có thể học thêm những ngành tương tự hoặc khác ngành
Trang 221.2.3 Mục đích và ý nghĩa ĐTLT
Đào tao liên thông có mục tiêu chính là nhằm đào tạo lực lượng lao động chất lượng cao, đa dạng và hiệu quả để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế đang phát triển
Ngoài ra đào tạo liên thông còn có ý nghĩa sau:
- Thoả mãn nhu cầu học tập, tạo cơ hội rộng rãi hơn khi quyết định chọn bậc học đối với người học Đáp ứng nhu cầu học cho người học khi muốn chuyển đổi bậc học cao hơn
- Tận dụng nguồn lực hiện có của các cơ sở đào tạo, giảm bớt gánh nặng đầu tư cơ sở vật chất và lực lượng giảng dạy
- Nhà trường thấy rõ hơn ý nghĩa của việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy trong việc nâng cao chất lượng dạy học
- Tăng cường chức năng quản lý nhà nước cao hơn trong việc điều chỉnh
cơ cấu lao động xã hội phù hợp với nhịp độ và xu hướng phát triển
- Tạo điều kiện phân luồng học sinh sau THPT và giảm áp lực thi vào đại học, điều phối cơ cấu lao động xã hội cân đối với nhu cầu lao động thị trường
- Có thể tạo được mối liên kết giữa nhà trường với cơ sở giáo dục khác, giữa nhà trường với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tốt hơn
- Tăng cường dân chủ hoá trong giáo dục
1.3 Khái niệm chương trình đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo liên thông
Trang 231.3.1- Khái niệm chương trình đào tạo :
Chương trình đào tạo là gì ? Đây là câu hỏi còn nhiều tranh cãi Tuỳ theo cách lý giải khác nhau người ta có thể hiểu khác nhau về khái niệm chương trình đào tạo [5], ví dụ :
- CTĐT là những điều được dạy trong nhà trường ( nhìn một cách tổng quan)
- CTĐT là một tập hợp của các môn học ( xét về cách sắp xếp các môn
học)
- CTĐT là cái được dạy bên trong, và ngoài trường học nhưng được định
hướng bởi nhà trường ( nhìn từ góc độ xà hội )
- CTĐT là cái mà người học trải qua như một kết quả giáo dục – đào tạo
(nhìn từ góc độ của người học )
- V.v…
Như vậy, tương tự như khái niệm giáo dục , khái niệm chương trình đào tạo có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.Trong phạm vi nghiên cứu mà đề tài đặt ra , chúng ta chỉ giới hạn khái niệm chương trình đào tạo theo nghĩa hẹp
là tập hợp các môn học được dạy trong nhà trường [5] Chương trình đào tạo
theo nghĩa hẹp được xem là chương trình khung đào tạo Chương trình đào tạo nói chung và chương trình đào tạo liên thông nói riêng thường được xây dựng theo một quy trình nhất định
Trước khi bước vào thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo, chương trình đào tạo liên thông chúng ta xem xét khái niệm xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng chương trình liên thông
1.3.2- Khái niệm xây dựng chương trình đào tạo liên thông:
Xây dựng chương trình liên thông là nhằm tạo ra hệ thống các vấn đề tạo điều kiện cho các bậc học và các nghề liên thông được với nhau
Các vấn đề nêu trên là cơ chế liên thông, công nhận và chuyển đổi tín chỉ kết quả học tập, quản lý đào tạo… Các vấn đề này liên kết với nhau
Trang 24thành một hệ thống chặt chẽ đảm bảo quá trình liên thông diễn ra thông suốt và theo trật tự qui định [4]
1.4 Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông
Để xây dựng chương trình đào tạo thường phải thực hiện các bước theo quy định Các bước đó được gọi là quy trình
Qui trình là gì ?
Qui trình là thứ tự các bước tiến hành trong một quá trình sản xuất
(Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, GS Nguyễn Lân )
Vậy,Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông là thiết kế trình tự tiến hành tạo ra chương trình đào tạo, mà chương trình này đưa đến sự liên thông giữa các bậc học trong cùng một nghề hoặc giữa bậc học trong một nghề nào đó đến các bậc học trong ngành nghề khác
Để thiết kế quy trình đào tạo nhiều tác giả đã vận dụng “ Vòng quản lý chất lượng Deming “ ( US Deming, nhà quản trị học nổi tiếng người Mỹ)
Theo vòng quản lý chất lượng Deming ( hình 1.1 ) thì chu trình sản xuất bất kỳ sản phẩm nào đó phải bắt đầu từ nghiên cứu thị trường tìm hiểu nhu cầu khách hàng ( Marketing – M ), sau đó là thiết kế ( Project – P ), rồi mới tạo sản phẩm (Production – P ), tiếp theo là tiêu thụ sản phẩm ( Consumer – C ) để tiếp một chu trình sau trên cơ sở kinh nghiệm thu được trong chu trình trước Cứ như vậy sản phẩm tạo ra ngày càng hoàn thiện hơn
Hình 1.1 : Vòng tròn quản lý chất lượng Deming (M - P - P - C)
P
C
Trang 25Vận dụng vòng quản lý chất lượng Deming , Richard A Swanson [ 33 ],
đã đưa ra quy trình xây dựng chương trình đào tạo gồm 5 giai đoạn:
1.- Phân tích ( Analyze ) : nhằm xác định được nhu cầu đào tạo
2.- Thiết kế ( Design ) : Thiết kế chương trình đào tạo và các bài học 3.- Triển khai ( Develop ) : triển khai cơ sở vật chất và phương pháp giảng dạy
4.- Aùp dụng ( Implement ) : Thực hiện chương trình đào tạo
5.- Đánh giá ( Control ) : Đánh giá chương trình đào tạo
Theo Tác giả William Blank [32] chương trình xây dựng trải qua 11 bước:
1 Xác định và mô tả các đặc điểm của nghề
2 Xác định những yêu cầu chính của đối tượng người học
3 Xác định các công việc của nghề
4 Phân tích các công việc của nghề và bổ sung những kiến thức (chuyên đề) cần thiết
5 Viết mục tiêu thực hiện của các công việc
6 Sắp xếp theo thứ tự các công việc và các mục tiêu thực hiện
7 Phát triển các bài kiểm tra thực hiện (thực hành)
8 Phát triển các bài kiểm tra kiến thức (lý thuyết)
9 Phát triển các hình thức hướng dẫn học tập
10 Phát triển các hệ thống quản lý việc học tập
11 Bổ sung và đánh giá chương trình đào tạo
Theo TS John Collum (Trung tâm Giáo dục và Đào tạo lao động thuộc
Đại học Ohio, tiểu bang Ohio của Hoa kỳ ) đưa ra CTĐT nghề theo CDOT (Curriculum Development for Occupational Training) trong hội thảo về “Xây
dựng chương trình và phát triển giảng dạy” tổ chức 17/8/1993 tại Columbo, Srilanka:
1 Phân tích nhu cầu đào tạo
2 Nghiên cứu về nghề
Trang 263 Phân tích nghề
4 Thiết kế chương trình
5 Phân tích công việc nghề
6 Phân tích giảng dạy
7 Phát triển các tài nguyên dạy học
8 Phát triển các phương tiện
9 Thiết kế bài kiểm tra
10 Đánh giá
Ở Việt Nam, chúng ta chưa thống nhất được khái niệm về chương trình đào tạo, khái niệm về xây dựng chương trình đào tạo cũng như chưa đưa ra được một quy trình chung để xây dựng các chương trình đào tạo Việc xây dựng chương trình đào tạo diễn ra khá tuỳ tiện và cơ sở khoa học chưa vững chắc Tuy nhiên, các chương trình đào tạo được xây dựng trong những năm qua đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Trong phạm vi của mình đề tài muốn góp một phần nhỏ trong việc thiết kế
một quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông
Trên cơ sở những hiểu biết về ĐTLT hiện tại, việc thiết kế “Qui trình xây dựng chương trình ĐTLT” sẽ góp phần nâng cao lý luận phát triển chương trình đào tạo Thông qua việc tham khảo các quy trình nêu trên, kết hợp với các văn bản pháp quy do Bộ Giáo Dục & Đào tạo ban hành có thể đề xuất một
“Quy trình xây dựng Chương trình ĐTLT” gồm các bước sau:
1.-Xác định nhu cầu ĐTLT
2.- Xác định mục tiêu đào tạo liên thông
3.- Xây dựng nội dung Chương trình đào tạo liên thông
4.- Thẩm định chương trình đào tạo liên thông
5.- Đào tạo thí điểm
6.- Hoàn thiện chương trình và đào tạo chính thức
Trang 27Tuy nhiên, như đã trình bày , đề tài chỉ đề cập đến bốn bước đầu , hai bước còn lại sẽ đề xuất để Bộ Giáo Dục & Đào tạo cho phép trường thực hiện
3.1 Xác định nhu cầu ĐTLT
Thăm dò nhu cầu nhằm xác định hệ thống nhu cầu của các đối tượng đối với chương trình đào tạo trên mọi khía cạnh để tìm thông tin cho việc xây dựng chương trình
Thông thường có ba đối tượng mà chương trình đào tạo quan tâm đến, đó là xã hội, ngành kinh tế (các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ), người học Mỗi đối tượng có nhu cầu khác nhau, các đối tượng đều mong muốn chương trình được xây dựng phải đáp ứng tối đa những đòi hỏi riêng cho mình Trong khi đó, chương trình đào tạo được xây dựng rất khó có thể đáp ứng cùng lúc các yêu cầu của nhiều đối tượng, chính vì thế cần giải quyết các mâu thuẫn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng chương trình
Nhu cầu của các đối tượng thường khác nhau, nhưng thông thường những thông tin cần tìm hiểu để xây dựng chương trình là:
* Tính cấp thiết của chương trình
* Đối tượng nhập học: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, thâm niên công tác, thu nhập, địa phương, trình độ, sở thích, nguyện vọng …
* Tiêu chuẩn nhập học: thi đầu vào, xét tuyển, chuyển tín chỉ…
* Kỳ vọng của xã hội và các tổ chức kinh tế mong muốn ở người lao động những giá trị văn hoá, xã hội, trình độ kiến thức, kỹ năng, thái độ, tay nghề
* Kỳ vọng của người học đến những lợi ích mà chương trình đào tạo mang lại, như tài chánh, thời gian, bằng cấp, điều kiện học tập, kết quả tốt nghiệp
* Nguyên nhân học tập: nâng cao kiến thức, nâng cao tay nghề, ổn định việc làm, thăng tiến trong nghề nghiệp và những nguyên nhân khác
Trang 28* Những khó khăn khi thực hiện đào tạo liên thông: cơ chế liên thông, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giảng viên, tài chánh, mối liên kết bên trong các cơ sở đào tạo và với các tổ chức kinh tế
* Sự hỗ trợ có thể có được từ các đối tượng, từ các lãnh vực kinh tế – xã hội – ngoại giao
Để có được những nội dung trên ta sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, tức là trưng cầu ý kiến các đối tượng bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận , lập bảng hệ thống câu hỏi questionaire
Kết quả thăm dò được tập hợp lại, phân tích và xác định nhu cầu của đối tượng nghiên cứu
3.2 Xác định mục tiêu đào tạo liên thông
3.2.1 Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh cho từng bậc học
Sau khi xác định nhu cầu đào tạo về ngành đào tạo, ta sẽ xác định chuẩn ở mỗi bậc học để từ đó xây dựng mục tiêu đào tạo được khách quan
Chuẩn trình độ là gì?
* Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam:
- Chuẩn: cái được coi là căn cứ để đối chiếu
- Trình độ: mức đạt tới
* Theo từ điển OXFORD 2000:
Chuẩn (standard hoặc base): mức, tiêu chuẩn Trong chừng mực nào đó, chuẩn có nghĩa là mức tối thiểu mà những chỉ tiêu số lượng và chất lượng cần đạt tới
* Trên quan điểm giáo dục nghề nghiệp hiện nay, khái niệm:
Chuẩn trình độ (qualification standard) là trình độ nghề nghiệp cùng
với những kỹ năng và thái độ cần thiết kèm theo để người học có thể tham gia lao động sản xuất và học tập tiếp tục sau khi hoàn thành một bậc học
Trang 29Xác định chuẩn trình độ nhằm xác định những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần phải có ở người học tại mỗi bậc đào tạo Từ đó, ta biết cần phải bổ sung cho người học những kiến thức và kỹ năng nào qua quá trình đào tạo để đạt được trình độ bậc cao hơn
Trước đây chúng ta chưa từng dùng chuẩn để xác định khung trình độ của mỗi bậc học, nên chưa hình thành cơ sở cho những thỏa thuận liên thông giữa các cơ sở đào tạo Liên thông giữa các ngành học và bậc học gặp nhiều khó khăn khi công nhận các kết quả đào tạo trước đó của người học
Tại một số nước tiên tiến có hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, chương trình đào tạo được cấu trúc theo mô hình mudule hoặc mô hình nghề module hoá dựa trên khung chuẩn trình độ quốc gia, đã tạo cơ sở cho việc liên thông, công nhận và chuyển đổi các kết quả học giữa các bậc học diễn ra tương đối thuận lợi ( ví dụ: chuẩn trình độ của Hoa Kỳ – xem phụ lục 2)
Trong khi đó, tại Việt Nam những chương trình đào tạo trước đây dùng mục tiêu đào tạo để nói lên những kỳ vọng chờ đợi người học sau khi tốt nghiệp Nhưng việc sử dụng mục tiêu đào tạo có những hạn chế sau:
- Mục tiêu đào tạo thường chưa xác định rõ ràng trình độ trên các mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ ở mỗi bậc học
- Mục tiêu đào tạo đề ra chưa phù hợp với trình độ đào tạo hoặc là quá cao hay quá thấp, hoặc là quá rộng hay quá hẹp Nguyên nhân thông thường là
do sự phân định trình độ chưa rõ ràng, chưa xác định chuẩn cụ thể ở mỗi bậc học
- Mục tiêu và nội dung không nhất quán với nhau, do các căn cứ để xây dựng mục tiêu và nội dung khác nhau Những căn cứ để xác định mục tiêu thường nằm bên ngoài quá trình dạy và học, những căn cứ nội dung lại thường nằm bên trong quá trình dạy và học
Trang 30- Có những mục tiêu được xác định từ ý tưởng chủ quan, dựa vào các hiện tượng, các hình thức bên ngoài của những sự kiện hoặc cóp nhặt từ bên ngoài Thiếu những căn cứ vững chắc, những nhu cầu thực tế, những nghiên cứu khoa học và không được tiến hành một cách dân chủ Trong trường hợp này, mục tiêu thường thiếu tính chuẩn xác và nhất quán, trong quá trình triển khai thực hiện sẽ gặp nhiều trở ngại
Vì những nguyên nhân trên, để cho việc xác định mục tiêu ĐTLT một cách khách quan và khoa học ta tiến hành xác định chuẩn trình độ mỗi bậc học
3.2.2 Phương pháp thực hiện
Để có được chuẩn trình độ ta tiến hành lấy ý kiến chuyên gia, người sử dụng lao động, giáo viên bằng cách phỏng vấn điều tra, tham khảo chuẩn trình độ ở một số nước tiên tiến và trong khu vực
Tuy nhiên, đối với chuyên ngành vận hành máy tàu biển có thuận lợi là chuẩn trình độ chuyên môn về cơ bản đã được xác định bởi Tổ Chức Hàng Hải thế Giới
3.2.3 Nội dung chuẩn trình độ chuyên môn
Nội dung của chuẩn trình độ là mô tả những kiến thức, kỹ năng và thái độ của bậc học ở một trình độ xác định
- Đối với kỹ năng, mô tả việc thực hiện nhiệm vụ rất cụ thể Bởi vì bản thân kỹ năng phải thể hiện bằng một công việc làm cụ thể, tức là một hoạt động có thể quan sát được
- Đối với kiến thức, thường khó mô tả bằng một động từ hành động Chúng
ta thường viết “Học sinh phải nắm vững ”, “ hiểu rõ ”, “ thông thạo ”, Thế nào là hiểu rõ? Hiểu rõ ở mức độ nào? Thế nào là nắm vững?
Trang 31Theo quan điểm mới để mô tả việc tiếp thu và vận dụng một kiến thức nghề chuyên môn, ta thường liên hệ đến kiến thức này phục vụ trực tiếp cho kỹ năng nào
Tiến hành mô tả chuẩn đào tạo cho cả hai bậc học liên thông và sắp xếp lại theo từng nhóm thuộc lãnh vực kiến thức, kỹ năng và thái độ để dễ so sánh sự chênh lệch về trình độ ở mỗi bậc học
3.2.4 Mục tiêu đào tạo
Căn cứ vào chuẩn trình độ ở hai bậc học, từ đó khái quát thành mục tiêu đào tạo Mục tiêu chương trình đào tạo giúp cho giáo viên có một bức tranh tổng thể về người học sau khi tốt nghiệp, từ đó định hướng cho việc biên soạn mục đích và nội dung môn học một cách hệ thống và tổng quát, phù hợp với trình độ người học Đối với người học, mục tiêu chương trình đào tạo giúp học biết rõ ràng hơn kiến thức và kỹ năng cụ thể nào cần phải đạt được hoặc cải thiện được sau khi hoàn tất chương trình
Khi viết mục tiêu chương trình đào tạo cần sử dụng các động từ dạng chủ động để truyền đạt hành động tác động vào đối tượng một cách chủ động Mục tiêu cần phản ánh đúng mức độ thay đổi trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ được so sánh giữa chuẩn trình độ của hai bậc học liên thông và mục tiêu phải mang tính bao trùm và tổng quát
Từ mục tiêu đào tạo, xác định khối lượng phần kiến thức, kỹ năng và thái độ còn thiếu hoặc cần phải bổ sung từ bậc học này đến bậc học kia Làm căn cứ để thực hiện bước tiếp theo là xây dựng nội dung chương trình
3.3 Xây dựng nội dung Chương trình đào tạo liên thông
Từ mục tiêu chương trình ĐTLT ta xây dựng nội dung Chương trình ĐTLT, do kế thừa từ chương trình của hai bậc học liên thông nên trình tự xây dựng được tiến hành như sau:
3.3.1 Lập bảng liệt kê nội dung
Trang 3232Trong bước này cần thực hiện những công việc sau cho cả hai chương trình liên thông nhau Khối lượng phần nội dung liệt kê sẽ rất lớn, tùy thuộc mức độ triển khai chương trình mà mức độ nội dung liệt kê chi tiết đến môn học, hoặc chương, hoặc bài
* Liệt kê những nội dung chi tiết của hai chương trình liên thông nhau trên một sơ đồ
* Trên cơ sở mục tiêu đào tạo liên thông, so sánh và đối chiếu giữa 2 chương trình xác định những nội dung cần bù đắp từ sơ đồ trên
* Đối chiếu lại với chuẩn trình độ và kiểm tra xem:
- Những nội dung bù đắp có phải là nền tảng, là trọng tâm của nội dung chương trình ĐTLT chưa?
- Những nội dung này đã phản ảnh được mục tiêu đào tạo của chương trình đào tạo, mục đích của môn học hay không?
- Đã đủ chưa, có thừa hay thiếu không?
- Những nội dung chi tiết được liên kết trật tự logic chưa?
3.3.2 Kiểm tra nội dung môn học
Sau khi tập trung nội dung chi tiết cần chuyển đổi trong môn học, tiến hành kiểm tra nội dung của môn học Những nội dung được tập trung thường rời rạc chưa sử dụng giảng dạy được mà cần phải sắp xếp, bổ xung, bố trí lại
* Khi tách nội dung chương trình ra thành nội dung từng môn học thường xảy ra những trường hợp nội dung mới hoàn toàn, khối lượng nội dung quá ít hoặc lưng chừng
- Đối với môn học mới hoàn toàn thì thực hiện theo chương trình đào tạo sẵn có
Trang 33- Đối với trường hợp có nội dung quá ít không đủ để hình thành môn học thì tổ chức những lớp bắc cầu khi có nhiều trường hợp như vậy; hoặc giao bài cho người học tự hoàn thành ( có sự hướng dẫn của giáo viên )
- Đối với trường hợp lưng chừng, trước tiên ta nên xem xét khả năng có thể tích hợp với những môn học trong cùng khối ngành, chuyên ngành hay ở khối kiến thức khác để trở thành một môn học hay không Nếu không thể tích hợp được hoặc tích hợp không có lợi cho việc công nhận và chuyển đổi kết quả ở bậc kế tiếp, ta bố trí thành một môn học
* Các nội dung chi tiết phân bố theo đơn vị học tập (ĐVHT), mỗi ĐVHT là 15 tiết giảng lý thuyết để tổ chức và bố trí chương trình theo mô hình tín chỉ Số ĐVHT cho mỗi môn nên giới hạn từ 2 đến 6 ĐVHT, trong trường hợp nhiều hơn nên tách ra thành hai hay nhiều học phần để thuận tiện cho việc phân bố tải trọng cho chương trình Các môn học cần được sắp xếp sao cho phù hợp trong tổng thể chung và kiểm tra lại xem có trùng lắp hay vướng mắc sang các phần kiến thức của môn học khác không
Khi xây dựng nội dung theo từng ĐVHT lúc đầu sẽ gặp những khó khăn do chương trình trước đây liên soạn theo lối chương mục, số lượng giờ giảng cho mỗi phần có thể co giãn dễ dàng thì nay lại bị khống chế trong một đơn vị thời gian Chính vì thế cần phải xác định nội dung nào là trọng tâm, quan trọng cần được giảng dạy trên lớp, nội dung nào người học có thể tự hoàn thành theo hướng dẫn của giảng viên
* Dựa trên mục tiêu của chương trình đào tạo và yêu cầu của môn học đặt ra cho người học, tiến hành viết mục đích môn học và hướng dẫn sử dụng chương trình môn học
Mục đích môn học giúp cho giáo viên có một bức tranh khái quát và hệ thống hơn về nội dung học tập sẽ được truyền thụ như thế nào, là cơ sở xây dựng tiêu chí kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và rà soát cũng như cập nhật nội dung môn học sát với thực tế Đối với người học sẽ biết rõ ràng hơn những
Trang 3434kiến thức và kỹ năng cụ thể nào cần phải đạt hoặc được cải thiện sau mỗi bài học, môn học và sau khi kết thúc khoá học
3.3.3 Tổ chức và bố trí trình tự nội dung
Trong ĐTLT, người học có nhu cầu mang thành tích học tập từng phần của mình đến chương trình khác và cần được thừa nhận Vì vậy tổ chức chương trình đào tạo có thể theo kiểu niên khoá hoặc theo module
Tổ chức và bố trí trình tự nội dung của chương trình đào tạo theo các
môn học và các học phần, hoặc theo module và trong mỗi module có các đơn
vị học tập (unit) và các thành tố học tập (learing element) sẽ làm nội dung mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, dễ dàng trong việc thay đổi lắp ghép các nội dung học tập với nhau Tuy nhiên, module học tập thích hợp cao với việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, còn đối với các kiến thức đại cương và kiến thức cơ sở của ngành rất khó thiết lập thành module, các khối lượng kiến thức khó kết hợp với nhau để hình thành kiến thức, kỹ năng và quan trọng nhất là thái độ ở người học
Trong những năm gần đây, ở một số trường, các chương trình đào tạo được xây dựng theo đơn vị học tập và mô hình tín chỉ cho phép công nhận và chuyển đổi các kết quả học tập từ bậc học này đến bậc học khác, cũng tương tự như ĐTLT ở một số nước trên thế giới Tổ chức và bố trí trình tự nội dung theo ĐVHT và mô hình tín chỉ tương đối phù hợp với điều kiện liên thông hiện nay, vừa đảm bảo được tính mềm dẻo lại vừa kết hợp được các khối kiến thức trong quá trình giáo dục đào tạo
Cấu trúc và tổ chức nội dung chương trình thể hiện qua “Bảng phân phối số giờ học” và “Lịch học toàn khoá” trong kế hoạch đào tạo
• Bảng phân phối số giờ học cho ta biết kết cấu kiến thức chương trình đào tao, gồm ba phần chính sau:
- Khối kiến thức giáo dục đại cương của khối ngành
Trang 35- Khối kiến thức cơ sở của ngành
- Khối kiến thức giáo dục chuyên ngành
Từ đó, giúp ta kiểm tra phân bố số ĐVHT ở mỗi khối kiến thức, xem xét liệu có đủ thời gian để truyền đạt và tiếp thu nội dung các môn học ở người dạy và người học hay không Xem xét tỷ lệ giữa các khối kiến thức liệu có thể hình thành những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà mục tiêu chương trình đào tạo đã đề ra không
Bảng phân phối còn giúp ta kiểm tra số ĐVHT của mỗi môn học trong mỗi khối kiến thức, tỷ lệ giữa các môn để lên phương án phân phối tải trọng và chọn hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp
• Lịch học toàn khoá giúp ta kiểm tra việc phân bố tải trong toàn khoá học và thời gian toàn khoá học Tổ chức và bố trí trình tự nội dung các môn học cần căn cứ vào mục đích và nội dung của mỗi môn học, điều kiện thực tế tại cơ sở, và cần lưu ý là kiến thức và kỹ năng của người học được phát triển trên cơ sở hoàn tất các môn học khác nhau Ta cần phải biết mối quan hệ giữa các môn học về mục tiêu, tính chất, nội dung, đặc trưng, kết cấu của chương trình và của môn học để sắp xếp sao cho tạo điều kiện cho quá trình tư duy
logic được hình thành ở người học
Khi tổ chức và bố trí trình tự các môn học cần quan tâm đến các yếu tố:
- Tải trọng học tập phân bố trong toàn khoá học
- Các phương án sắp xếp, bố trí giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, giữa hoạt động học tập và hoạt động ngoại khoá
Tải trọng học tập được phản ánh trên phương diện cường độ và nhịp độ phân bố tất cả các nội dung của chương trình đào tao theo trục thời gian toàn khoá học Cường độ là số giờ học lý thuyết và thực hành trong một đơn vị thời gian (tuần, tháng, học kỳ) đối với người học, nhịp độ là khoảng cách phân bố giữa các nội dung học tập Cường độ và nhịp độ phải đảm bảo trình tự logic
Trang 3636của nội dung học tập, nghĩa là cần cho người học biết điều gì trước, điều gì sau, điều gì khái quát, điều gì riêng biệt trong từng giai đoạn của quá trình học tập
Nội dung đào tạo không chỉ có phần lý thuyết và thực hành mà còn có thực tập, tham quan, hoạt động ngoại khoáv.v… đối với người học liên thông còn có thể có hoạt động nghề nghiệp tại nơi làm việc Vì vậy trước khi tập hợp nội dung vào trong chương trình đào tạo, hoặc vào một môn học cần đặt ra vấn đề tổ chức nội dung như vậy đã tốt chưa, còn những cách phối hợp nào khác nữa nhằm giúp người học không chỉ tiếp thu được tất cả nội dung môn học mà còn nhận được những mục tiêu học tập rộng hơn Những mục tiêu học tập rộng hơn như là: hình thành khả năng tư duy logic, phát triển thái độ hợp tác trong nhóm, hình thành kỹ năng tự học v.v… qua việc giao đồ án cho nhóm, làm việc tại phòng thí nghiệm, thực hành tại xưởng …
Lịch học toàn khóa còn phụ thuộc vào điều kiện tập trung của khoá học, trong khóa ĐTLT có thể người học còn phải tham gia lao động nên cần lưu ý đến số giờ trong một tuần để tránh tình trạng quá tải làm ảnh hưởng đến việc học tập và sức khoẻ của người học
3.3.4 Mô tả vắn tắt nội dung các môn học
Kết thúc việc tổ chức và bố trí trình tự nội dung chương trình ta mô tả vắn tắt nội dung các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn
Phần mô tả các môn học cần rất cô đọng các nội dung sau: tên môn học,
vị trí môn học trong chương trình, mục đích của môn học, nội dung chủ yếu của môn học, hình thức kiểm tra đánh giá
3.4 Thẩm định chương trình đào tạo liên thông
Nội dung chương trình liên thông vừa được xây dựng chỉ giới hạn trong hai chương trình cụ thể của hai bậc học cần liên thông nên chưa thể hiện đầy đủ các điều kiện cần thiết để phát triển chương trình đào tạo Để được thừa
Trang 37nhận và ủng hộ khi ký kết thoả thuận liên thông sau này, chương trình cần được rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện thêm dưới sự tham gia đóng góp của các trường và các đối tác tham gia chương trình ĐTLT Do đó cần phải tạo được mối quan hệ giữa các bên liên quan tham gia chương trình liên thông Thiết lập mối quan hệ liên thông nhằm tìm hiểu và phát hiện thêm những yếu tố chưa được đề cập cần được bổ sung, loại bỏ những yếu tố thừa không thích hợp của chương trình liên thông đã được xây dựng Qua quá trình sàng lọc, tạo sự gắn bó giữa các trường liên kết ĐTLT và các đối tác với chương trình góp phần thúc đẩy quy trình vận hành nhanh chóng và hiệu quả hơn Mối liên hệ liên thông hình thành thông qua các bước trong quá trình liên kết ĐTLT, mở đầu bằng việc thẩm định và phát triển các vấn đề trong chương trình ĐTLT vừa được xây dựng
Thẩm định và phát triển các vấn đề trong chương trình ĐTLT bao gồm
những công việc sau:
3.4.1 Thẩm định những yêu cầu đào tạo
Thẩm định những yêu cầu đào tạo là đánh giá và xác định chính xác những yêu cầu từ phía các trường thực hiện ĐTLT, các trường muốn tham gia liên thông và các đối tượng mà chương trình đào tạo quan tâm đến Các yếu tố cần thẩm định là:
- Mức độ chấp thuận chuyển đổi các tín chỉ, thừa nhận kết quả học tập trước đó, tiêu chuẩn đầu vào cho mỗi loại hình thức liên thông?
- Thời gian khoá học, điều kiện tập trung?
- Số lượng đầu vào hàng năm là bao nhiêu?
- Chương trình có khả thi không?
3.4.2 Thẩm định tiêu chuẩn đào tạo
Trang 3838Thẩm định tiêu chuẩn đào tạo là đánh giá và xác định cụ thể, rõ ràng, chính xác mục tiêu đào tạo chương trình đề ra và các yếu tố đảm bảo hoàn thành mục tiêu đó Các yếu tố cần được thẩm định là:
- Chuẩn đào tạo đã nêu đầy đủ, rõ ràng các kiến thức, kỹ năng và thái độ hay chưa? Cần được bổ sung, bỏ bớt, sửa đổi như thế nào cho phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và các trường có khả năng đạt được mục tiêu chương trình đề ra đến mức độ nào?
- Những khó khăn tồn tại trong thực hiện ĐTLT là gì?
- Những vướng mắc gì cần được tháo gỡ trước và trong khi thực hiện ĐTLT theo thứ tự ưu tiên nào?
3.4.3 Thẩm định cấu trúc chương trình
Thẩm định cấu trúc chương trình là đánh giá và xác định nội dung chương trình đầy đủ, logic hơn phù hợp với những chuẩn mực xã hội và điều kiện đào tạo hiện tại Các yếu tố cần được thẩm định là:
- Nội dung chương trình có đủ để cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học hay chưa?
- Nội dung chương trình được sắp xếp như thế đã phù hợp chưa? Tại sao?
- Cách sắp xếp trình tự các môn học có đảm bảo hình thành suy luận tư duy logic trong người học chưa? Tại sao? Còn những cách sắp xếp nào hay hơn, hiệu quả hơn?
- Có những biện pháp nào để thiết lập sự hợp tác giữa các tổ chức kinh tế – xã hội với nhà trường?
3.4.4 Phát triển trình tự các môn học:
Kết quả thẩm định thu thập thông qua phương pháp lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia đầu ngành hoặc qua tổ chức hội thảo, những kết quả này dùng để điều chỉnh mục tiêu và nội dung chương trình ĐTLT sát với thực tiễn
Trang 39Phát triển trình tự các môn học là một khối lượng lao động rất lớn cần phải tốn nhiều công sức, mất nhiều thời gian, chi phí và tập trung nhiều người để biên soạn cùng lúc Tập trung biên soạn nội dung sẽ có những lợi điểm sau:
- Tạo ra sự hợp tác giữa giáo viên trong các ngành đào tạo khác nhau
- Giới hạn lặp lại kiến thức của các môn học trong chương trình
- Tạo cơ hội để tài liệu giảng day đạt chất lượng cao
- Tạo sự liên thông linh họat giữa những môn học, giữa các bậc học trong ngành học
- Tạo ra sự tích hợp giữa học lý thuyết và thực hành
Trang 40CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGÀNH VẬN HÀNH MÁY TÀU BIỂN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀNG HẢI II VÀ ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN
TẢI TP HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN
TẢI TP HỒ CHÍ MINH
BIỂN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC HÀNG HẢI II VÀ ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH