1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo của trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thành phố hồ chí minh

60 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Giáo Dục Đào Tạo Của Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Huỳnh Lê Tuân
Người hướng dẫn TS. Trương Văn Sinh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 456,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH    HUỲNH LÊ TUÂN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN L

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO -

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

  

HUỲNH LÊ TUÂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC

QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA

TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 5.07.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG VĂN SINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM 2004

Trang 2

Lời cảm ơn

Xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

Quý thầy, cô trong Ban giám hiệu, quý thầy, cô và các cán bộ, công chức ở các phòng, ban, khoa của Trường Đại Học Sư Phạm

TP Hồ Chí Minh

Quý thầy, cô đã trực tiếp giảng dạy lớp cao học quản lý giáo dục khóa 11 của Trường Đại Học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh

Các anh chị và các bạn cùng khóa

Ban giám hiệu, cùng tất cả các anh, chị và các bạn đồng nghiệp ở

Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP.Hồ Chí Minh

Cha, mẹ và tất cả các thành viên trong gia đình

Và đặc biệt chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trương Văn Sinh, người thầy hết sức nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình học và thực hiện luận văn này

Tháng 6/2004

Huỳnh Lê Tuân

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, làm cho giáo dục - đào tạo thực

sự trở thành động lực, mục tiêu thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

1.2 Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội lớn

nhất toàn quốc, lại là một thành phố có mối quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa sâu rộng với nhiều nước trên thế giới Là một trường đào tạo chuyên ngành cho một thành phố lớn, đông dân như thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa - nghệ thuật - thông tin cho nhiều tỉnh phía Nam nên nhiệm vụ của Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh hết sức nặng nề

Từ khi được thành lập và đi vào hoạt động đến nay, trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật

TP Hồ Chí Minh đã có nhiều đóng góp trong việc đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa - nghệ thuật - thông tin cho thành phố và một số tỉnh phía Nam Nhưng cũng như nhiều trường đại học và cao đẳng trong cả nước, chất lượng đào tạo của Trường chưa thật cao, chưa ngang tầm với đòi hỏi của xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi thành phố Hồ Chí Minh cùng cả nước đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và đẩy mạnh việc triển khai thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành trung ương Đảng - Khóa VIII, với mục tiêu xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh đang phải đi tìm những giải pháp mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu về một đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật cho thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Với luận văn "Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo của Trường Cao Đẳng

Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh", chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé giải đáp một số

vấn đề cấp thiết của trường

2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

phần lớn các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia giáo dục tập trung phần nhiều vào việc nghiên cứu các chiến lược phát triển giáo dục, xây dựng các loại hình đào tạo, tổ chức lại mạng lưới đào tạo trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, hoặc xây dựng các chương trình, các dự án phát triển giáo dục, v.v ví dụ : Chương trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, chương trình chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục, chương trình xóa nạn mù chữ, phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, v.v Những công trình đi sâu

Trang 4

vào việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục của các đơn vị, cơ quan giáo dục, nhất

là của các trường cao đẳng, đại học không nhiều; phần lớn là những báo cáo kinh nghiệm đúc rút được từ thực tiễn hoạt động của các đơn vị, các trường

2.2 Vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục - đào tạo của các trường trung học

chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, chuyên ngành như các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, ngành văn hóa nghệ thuật chẳng hạn, càng ít được quan tâm

Hiện nay, ngoài các trường nghiệp vụ văn hóa thông tin và trung học chuyên nghiệp văn hóa nghệ thuật ở các tỉnh, thành, cả nước có 4 trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật, đó là:

- Trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội

- Trường Cao Đẳng Văn Hóa TP Hồ Chí Minh

- Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật Quân đội

- Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh

Có nhiều vấn đề đã và đang đặt ra cho các trường nêu trên, như: Nên tổ chức theo mô hình nào? Làm gì và làm như thế nào để nâng cao chất lượng công tác đào tạo cũng như nâng cao hiệu quả quản lý công tác đào tạo?

Từ năm 1998 đến nay đã có 3 cuộc hội thảo nhằm định hướng phát triển và bàn về những vấn

đề liên quan đến hoạt động của các trường văn hóa nghệ thuật Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức tại trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội (tháng 8/1998) Hội thảo lần thứ hai được tổ chức tại trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh (tháng 11/2000) Hội thảo lần thứ ba được

tổ chức tại trường Trung Học Văn Hóa Nghệ Thuật Thừa Thiên - Huế (tháng 3/2002) Tại các cuộc hội thảo này, đã có nhiều tác giả đề cập đến việc tổ chức lại, đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý của các trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật Đáng tiếc, do nhiều nguyên nhân, các tác giả chỉ đi vào

từng mảng riêng lẻ của hoạt động quản lý công tác đào tạo Ví dụ như thạc sĩ Hoàng Lân (Hiệu

trưởng Trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội) trong tham luận mang tiêu đề "Một số giải pháp về tổ chức - quản lý đào tạo ở Trường cao đẳng nghệ thuật Hà Nội trong những năm đổi mới" cũng

chỉ đề cập một cách khái quát đến những vấn đề mang tính cụ thể từ thực tiễn của trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Hà Nội Tác giả đã đưa ra một số giải pháp về công tác quản lý, song chỉ dừng lại ở những gợi ý chung về: (1)

- Quản lý mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo

- Quản lý người dạy, người học (Giáo viên - HSSV)

- Quản lý cơ sở vật chất, tài chính, ngân sách

Trang 5

- Quản lý các chế độ chính sách, quy chế, quy định, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi giáo viên, học sinh

- Chú ý đến tâm lý người làm nghệ thuật, người học nghệ thuật

- Chú ý nghiên cứu tính chất lao động đặc thù của mỗi loại hình nghệ thuật và giá trị sản phẩm nghệ thuật để đánh giá chất lượng đúng với giá trị

3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ở luận văn này, chúng tôi đi sâu vào 3 nội dung :

hiệu quả của công tác quản lý đào tạo

TP.Hồ Chí Minh

Văn Hóa Nghệ Thuật TP.Hồ Chí Minh để đáp ứng kịp thời những yêu cầu mới trong hoạt động của nhà trường trong thời gian tới

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa, giáo dục đối với công cuộc xây dựng đất nước nói chung, đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, và xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh, luận văn hướng tới mục đích đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo nhằm góp phần đào tạo một đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật có chất lượng cao, phục vụ ngày càng tốt hơn việc phát triển kinh tế, xã hội nói chung và nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật nói riêng, của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội lớn nhất của cả nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

4.2.1 Phương pháp miêu tả - phân tích thực trạng công tác quản lý đào tạo của trường Cao Đẳng

Văn Hóa Nghệ Thuật TP.Hồ Chí Minh

4.2.2 Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến các chuyên gia, lấy ý kiến của lãnh đạo một số trường

tiêu biểu về quan điểm và phương pháp thực hiện công tác quản lý đào tạo

(1) Kỷ yếu hội thảo về định hướng và phát triển các trường văn hóa nghệ thuật Hà Nội, Thừa Thiên - Huế, TP Hồ Chí Minh - Huế -

Trang 6

4.2.3 Phương pháp thống kê - lập biểu đồ - đối chiếu - so sánh

Tùy từng chương, từng phần, một hoặc một số phương pháp nêu trên được sử dụng

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Trong luận văn này, chúng tôi cố gắng :

 Một là : Chỉ ra những thành tựu và những tồn tại trong hoạt động đào tạo nói chung và trong công tác

quản lý đào tạo nói riêng của trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh thời gian vừa qua

Từ đó nêu lên một số vấn đề đang đặt ra đối với công tác quản lý đào tạo của trường trong giai đoạn tới

 Hai là : Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo, đồng

thời nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật - một trong những chức năng và nhiệm vụ chính trị chủ yếu của trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh trong những năm sắp đến

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:

 Chương I: Một số vấn đề chung về hoạt động quản lý giáo dục đào tạo

 Chương II: Tình hình công tác quản lý đào tạo của trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP

Hồ Chí Minh thời gian vừa qua

 Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo của trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh trong thời gian tới

  

Tháng 5-2002 - Trang 21

Trang 7

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG

QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.1.1 Quản lý :

1.1.1.1 Khái niệm :

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý , phải có người đứng đầu Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra

Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các - Mác : "Một nghệ

sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng"

Thuật ngữ "Quản lý" lột tả được bản chất hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau : quá trình "Quản" gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định; quá trình "Lý" gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế "phát triển" Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc "Quản", tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn, thì tổ chức dễ trì trệ Ngược lại, nếu chỉ quan tâm đến việc "Lý", tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của

sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững Trong "quản" phải có "lý", trong 'lý" phải

có "quản" để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả

trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực).(1)

Có nhiều quan niện khác nhau về "Quản lý" Tuy nhiên, tựu trung lại có những hướng

chủ yếu sau:

a Nếu nhìn từ hướng "vận hành", "hoạt động", thì quản lý được hiểu là sự tác động, là hoạt

động phối hợp của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, hướng khách thể phát triển theo quy luật khách quan hoặc theo mục đích, chủ định của chủ thể quản lý Theo hướng này, có thể kể đến các loại ý kiến sau:

- Quản lý là hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó, quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới

(1) "Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" - NXB Thống kê - Hà Nội - 1999 - Trang 14

Trang 8

- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động

- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành thành tựu của xã hội

- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch, và có hệ thống thông tin từ chủ thể đến khách thể của nó

b Nếu nhìn từ hướng tổng thể trong tổ chức của "Quản lý", thì "Quản lý" là một hệ thống bao

gồm nhiều yếu tố cấu thành, các yếu tố có sự tác động lẫn nhau, vận hành theo quy luật và theo chủ định của chủ thể quản lý Xin nêu một vài ý kiến thuộc loại này (1):

- Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội ) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động

- Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến

Dù đi theo hướng nào đi nữa, thì :

- Quản lý là hoạt động tác động, chỉ huy, điều khiển của chủ thể quản lý đối với khách thể quản

- Khách thể quản lý luôn tồn tại trong mối quan hệ tương tác với nhau và cả với chủ thể quản lý, tạo thành một cơ cấu có tính hệ thống

Do đó, có thể chấp nhận định nghĩa như sau :

- Quản lý là sự hoạt động của chủ thể quản lý (thông qua các hình thức và công cụ quản lý)

nhằm điều khiển, tổ chức cho khách thể quản lý thực hiện công việc để đạt được mục đích quản lý

Quản lý, từ cách hiểu trên đây, được tổ chức bởi 5 yếu tố, có thể hình dung qua lược đồ :

Công cụ quản lý

Trang 9

Thông thường, có 3 loại quản lý: Quản lý sinh học; Quản lý kỹ thuật; Quản lý xã hội Quản lý giáo dục - đào tạo thuộc loại quản lý xã hội

1.1.2.1 Giáo dục

Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về thế giới

khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng về hoạt động nghề nghiệp cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương

tiện dạy học khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (như phát thanh, truyền hình,

báo chí, phim ảnh ) với các kiểu học tập rất đa dạng, linh hoạt, trong đó người học đóng vai trò

"trung tâm" Giáo dục là một trong 3 yếu tố góp phần hình thành nhân cách con người (Di truyền -

Giáo dục - Môi trường) Giáo dục là quá trình diễn ra liên tục trong mọi môi trường hoạt động của

con người Trong đó, học đường là môi trường đào tạo có vai trò rất quan trọng

Theo nghĩa hẹp, giáo dục bao gồm quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học của thế giới

quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người, kể cả việc phát triển nâng cao thể lực Quá trình này được xem là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, kết quả không chỉ được xem xét về mặt nhận thức mà còn căn cứ trên các hành vi, thói quen, biểu hiện trình độ

phát triển (cao hay thấp) của trình độ "có giáo dục" của mỗi con người

1.1.2.2 Dạy học:

Là khái niệm dùng để chỉ các hoạt động của người dạy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo cho người học Hoạt động dạy (của thầy) và hoạt động học (của trò) là 2 hoạt động gắn bó hữu

cơ với nhau trong một quá trình giáo dục tổng thể, trong đó :

 Vai trò của nhà sư phạm là định hướng tổ chức, thực hiện việc truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đến người học một cách hợp lý, khoa học - do đó luôn có vai trò và tác dụng chủ đạo

 Người học nhận thức, tổ chức quá trình tiếp thu một cách độc lập, sáng tạo các hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành năng lực và thái độ đúng đắn, tạo ra động lực cho việc tự học với tư cách là chủ thể sáng tạo, hình thành nhân cách của bản thân

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống thì vai trò chủ đạo của người dạy (thể hiện qua việc định hướng,

tổ chức, điều khiển các hoạt động) và trực tiếp (khi hoạt động trên lớp) luôn luôn có ý nghĩa đặc biệt với

việc đảm bảo chất lượng của quá trình đào tạo

"Vai trò chủ động, tích cực, năng động của học sinh trong quá trình học tập có ý nghĩa quyết

định đối với việc phát triển trí tuệ, lĩnh hội kiến thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân - với ý nghĩa là chủ thể sáng tạo, không thể thay thế

Trang 10

Dạy và học vì thế cần hiểu đúng là hai mặt của một quá trình bổ sung cho nhau, cái này chế ước và đồng thời là tác động quan trọng của cái kia, kích thích động lực bên trong của mỗi chủ thể phát triển."(1) "Kết quả trực tiếp của quá trình dạy học là học vấn (học thức) bao gồm cả phương pháp (nhận thức và hành động) và năng lực chuyên biệt của người học.(1)

1.1.2.3 Đào tạo:

Là một quá trình dạy và học mang tính chuyên biệt nhằm trang bị, rèn luyện cho người học các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu nghề nghiệp chuyên môn, chuyên sâu Quá trình đào tạo nhằm chuẩn bị cho con người có khả năng lao động để góp phần vào việc duy trì và phát triển cuộc sống trong cộng đồng xã hội

1.1.3 Quản lý giáo dục - đào tạo:

Theo nghĩa rộng, giáo dục - đào tạo là một quá trình hoạt động của toàn xã hội, mang tính đặc

thù của loài người, nó tạo ra điều kiện cần thiết giúp cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, năng lực của mỗi cá nhân, để cho cá nhân có thể hòa nhập với cộng đồng Vì vậy, quản lý giáo dục - đào tạo là quản lý nhà nước theo lĩnh vực, có tính thống nhất từ trung ương đến địa phương và giữa các cấp giáo dục

Theo nghĩa hẹp, quản lý giáo dục - đào tạo là quản lý quá trình dạy và học trong nhà trường

Có thể nói theo cách khác là: Quản lý giáo dục - đào tạo là một hoạt động chỉ huy, phối hợp, điều

hành, kiểm tra, chỉnh lý , nhằm giúp cho hoạt động dạy và học đạt được hiệu quả mong muốn

1.2.1 Quan niệm:

Theo nghĩa rộng, giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật là quá trình trang bị và nâng cao kiến

thức hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật, kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng, bằng các phương tiện dạy học khác nhau, kể cả các phương tiện truyền

thông đại chúng (như phát thanh, truyền hình, báo chí, phim ảnh ) với các kiểu học tập rất đa

dạng, linh hoạt, trong đó chủ thể người học đóng vai trò "trung tâm"; thực hiện theo phương thức đa dạng hóa, năng động, thích ứng với mọi biến đổi; là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải chỉ riêng của ngành Văn hóa; Giáo dục văn hóa nghệ thuật góp phần hình thành nhân cách con người, hướng con người phát triển đến cái Chân - Thiện - Mỹ Giáo dục đào tạo văn hóa nghệ thuật là một

bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, nó cũng là quá trình diễn ra liên tục trong mọi môi trường hoạt động của con người Trong đó, môi trường học đường, đào tạo có vai trò rất quan trọng

Theo nghĩa hẹp, giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật

( 1 ) PGS Nguyễn Sinh Huy, PGS.PTS Nguyễn Văn Lê - Giáo dục học đại cương - NXB Giáo dục - 1997 - Trang 33 -> 37

Trang 11

là quá trình hoạt động dạy và học trong trường văn hóa nghệ thuật Tuy cũng là hoạt động dạy và học, nhưng người học của các trường văn hóa nghệ thuật có những đặc thù riêng: họ phải hội đủ những điều kiện cần thiết cho việc tuyển chọn năng khiếu văn hóa nghệ thuật trước khi tiến hành quá trình đào tạo

1.2.2 Vai trò và nội dung của công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

vụ của các đơn vị này là:

chóng, kịp thời và có hiệu quả nhu cầu học tập, thưởng thức văn hóa nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân

 Thứ hai: Đưa các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng tài năng về văn hóa nghệ thuật theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, góp phần làm cho văn hóa nghệ thuật thực sự trở thành nền tảng tinh thần của nhân dân, là động lực, là đòn bẩy để thúc đẩy kinh tế -

xã hội phát triển

Riêng đối với các tỉnh, thành phía Nam, nhất là đối với thành phố Hồ Chí Minh, một thành phố sôi động, năng động và cũng phức tạp nhất về kinh tế, văn hóa, xã hội - thì những khía cạnh này càng có ý nghĩa to lớn Thực tế cho thấy hàng loạt hiện tượng văn hóa mới hay văn hóa ngoại bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh sau đó lan rộng ra khắp các nơi

Công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đóng vai trò tổ chức, chỉ huy, phối hợp

các lực lượng làm công tác giáo dục - đào tạo (trong và ngoài ngành văn hóa nghệ thuật) nhằm phát

triển nền văn hóa nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân,

hướng mọi người đến những giá trị Chân - Thiện - Mỹ

1.2.2.2 Nội dung của hoạt động quản lý đào tạo

1.2.2.2.1 Quản lý mục tiêu đào tạo :

( 1 ) Hà Thế Ngữ - Giáo dục học tập I - NXB Giáo dục - 1987 - trang 22

Trang 12

Việc xác định rõ, chính xác mục tiêu đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của công tác quản

lý đào tạo trong nhà trường Cơ sở để xác định mục tiêu đào tạo là :

 Mục tiêu giáo dục tổng quát được quy định bởi luật Giáo dục

Trong Luật Giáo dục của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội khóa IX,

kỳ họp thứ 4 thông qua có nêu : "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành nhân cách và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (1)

 Nhiệm vụ chính trị xã hội của nhà trường :

Trường văn hóa nghệ thuật là một thiết chế chính trị xã hội và phải phục vụ cho việc phát triển

xã hội Sự phát triển của nhà trường chịu sự quy định của Nhà nước, lịch sử, sự phát triển và tiến bộ

xã hội Mục tiêu đào tạo có nhiều cấp độ khác nhau :

dẫn)

giáo dục, mục tiêu đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật phải là: Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

về văn hóa nghệ thuật, giàu óc sáng tạo, có ý thức, có khả năng góp phần xây dựng, bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành nhân cách và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 Mục tiêu đào tạo của từng khoa: Trong các trường văn hóa nghệ thuật, mỗi khoa có đặc thù ngành nghề đào tạo riêng, do đó, cần phải xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể của khoa để làm cơ

sở cho việc xác định mục tiêu đào tạo cho từng ngành học, môn học

Vấn đề cốt lõi là tất cả các mục tiêu đào tạo cụ thể đều phải phù hợp và phục vụ cho mục tiêu đào tạo tổng quát

1.2.2.2.2 Tổ chức và quản lý nhân sự :

Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi cần có sự phối hợp hoạt động của nhiều người, có nghĩa là cần phải có tổ chức, nhằm mục đích đạt được hiệu quả lao động cao hơn Vì vậy, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản lý giáo dục chính là công tác tổ chức nhân sự, bởi vì hoạt động giáo dục là hoạt động tương tác giữa người với người Trong các trường văn hóa nghệ thuật, công tác quản lý nhân sự cần phải quan tâm đến yếu tố đặc thù của những người làm công tác văn

1 Luật Giáo dục - NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội - 1999 - trang 8

Trang 13

hóa nghệ thuật để giúp họ phát triển, đó là: khả năng sáng tạo, tài năng nghệ thuật, phẩm chất và cá tính riêng độc đáo, v.v

1.2.2.2.3 Quản lý nội dung đào tạo :

Là xác định khối lượng tri thức mà Người dạy cần phải chuyển giao cho Người học trong một

thời gian có giới hạn, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Cơ sở để xác định nội dung đào tạo chính là mục tiêu và thời gian đào tạo

1.2.2.2.4 Quản lý kế hoạch đào tạo :

Kế hoạch là sự dự kiến các bước thực hiện công việc một cách có hệ thống trong một thời hạn nhất định, căn cứ vào những điều kiện, những phương tiện cho phép, nhằm đạt được mục tiêu đã xác định

Tính kế hoạch không phải là "khả năng độc quyền" của riêng loài người Ngay cả ở các loài vật cũng có khả năng này, đương nhiên là ở mức độ tư duy thấp, chủ yếu là do bản năng sinh tồn mà

có (ví dụ : người ta quan sát thấy ở loài kiến, ong, hoặc ở loài gấu khả năng tích lũy thức ăn để

sinh sống, để có thể vượt qua những khoảng thời gian không thuận lợi cho việc kiếm ăn của chúng)

Tuy nhiên, với khả năng tư duy phát triển vượt bực, có ngôn ngữ, chữ viết loài người có thể tạo ra được các kế hoạch một cách hết sức khoa học, hoàn chỉnh, chính xác cho dù làm bất kỳ công việc gì, từ đơn giản tới phức tạp Xã hội càng phát triển, đặc biệt là trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay, việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch là một yêu cầu quan trọng khẳng định tính hiệu quả của các hoạt động xã hội, đặc biệt là với công tác quản lý, kể cả ở tầng vĩ mô lẫn vi mô

1.2.2.2.5 Xây dựng và quản lý thông tin :

Để đảm bảo được tính hiệu quả, công tác quản lý đào tạo cần phải thiết lập được hệ thống

thông tin đa chiều trong tổ chức Công tác dự báo là điều kiện rất cần thiết để nhà quản lý giáo dục xác định, điều chỉnh phương hướng, mục tiêu giáo dục

1.2.2.2.6 Quản lý tài chính - kinh phí :

Các hoạt động giáo dục - đào tạo trong nhà trường đều cần phải có kinh phí để phục vụ Lập kế hoạch và dự trù kinh phí là các công tác phải đi song song với nhau ngày từ đầu nhằm bảo đảm các

đào tạo văn hóa nghệ thuật thường lớn hơn rất nhiều so với việc đào tạo các loại hình nghề nghiệp phổ thông, vì công tác đào tạo văn hóa nghệ thuật không chỉ đơn thuần là đào tạo nhân lực mà còn

chỉ xây dựng được cơ chế đào tạo nhân lực, chứ chưa xây dựng được một cơ chế phù hợp cho công tác bồi dưỡng nhân tài

1.2.2.2.7 Kiểm tra - đánh giá chất lượng đào tạo :

Trang 14

Kiểm tra - đánh giá là một trong những hoạt động nhận thức của con người nhằm xác định giá

trị thật sự của đối tượng được kiểm tra - đánh giá

Do mang tính chất của hoạt động nhận thức, nên hoạt động kiểm tra - đánh giá sẽ xuất phát từ những thông tin cần thiết về đối tượng được đánh giá mà chủ thể đánh giá có thể nhận được

Trong hoạt động quản lý giáo dục - đào tạo văn hóa nghệ thuật, chúng ta thường phải kiểm tra

để đánh giá bản chất của không phải chỉ là một người mà là rất nhiều người, nhiều đối tượng khác

người, hoạt động quản lý giáo dục còn phải đánh giá về rất nhiều vấn đề khác nhau như: phương pháp giáo dục, phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá, v.v Do hoạt động kiểm tra - đánh giá là một hoạt động nhận thức, nên tự thân nó đã mang đậm tính chủ quan Vì vậy, để khắc phục tính chủ quan, việc kiểm tra - đánh giá trong hoạt động quản lý giáo dục cần phải rất chú trọng đến

tính khách quan và tính khoa học, tức là cần phải xây dựng các tiêu chí (mức tối đa có thể đạt

được), các tiêu chuẩn (mức tối thiểu cần phải đạt được), các thang giá trị mang tính khách quan và

khoa học để đánh giá trong hoạt động quản lý giáo dục Ngược lại, việc kiểm tra - đánh giá trong hoạt động quản lý giáo dục buộc phải dựa trên các tiêu chí, tiêu chuẩn đã được xây dựng một cách khoa học và khách quan Một vấn đề quan trọng khác là hoạt động kiểm tra - đánh giá trong quản lý giáo dục thường không có mục đích tự thân, nó chỉ giữ vai trò công cụ để thực hiện một mục đích nào đó Vì vậy, trước khi thực hiện hoạt động kiểm tra - đánh giá thì cần phải xác định mục đích và đối tượng của hoạt động kiểm tra - đánh giá Muốn đánh giá về con người, người ta không thể nào đánh giá trực tiếp mà chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua biểu hiện của các hành vi Tuy nhiên, hành vi của con người khá phức tạp, có những hành vi chỉ là phản ứng nhất thời hoặc đóng kịch chứ không phải tất cả các hành vi đều mang tính bản chất Vì vậy, khi đánh giá con người thì cần phải tìm ra những hành vi mang tính bản chất, đó là những hành vi mang tính ổn định hoặc hành vi thói quen

Các nhà khoa học sau khi nghiên cứu đã đưa ra mô hình kiểm tra - đánh giá là một hệ thống

công việc mà đối tượng được kiểm tra - đánh giá cần phải thực hiện theo thứ tự có cấp độ nâng dần

từ thấp đến cao, từ dễ dàng đến khó khăn, phức tạp nhằm xác định khả năng có sẵn, khả năng tiềm

ẩn, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo v.v của đối tượng được đánh giá thông qua khả năng của họ trong thực hiện các yêu cầu như thế nào Nhờ có mô hình này mà người ta có thể xác định được các chỉ số

thông minh (IQ = Intelligent Quotient), hoặc các chỉ số về thái độ v.v

Bên cạnh đó, trong quản lý giáo dục, rất nhiều các nhóm phương pháp khác được ứng dụng để kiểm tra - đánh giá như : vấn đáp, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan, phiếu thăm dò ý kiến, v.v mà mỗi nhóm phương pháp này lại có nhiều các phương pháp khác nhau với các kỹ thuật thực hiện đa dạng Trong hoạt động kiểm tra - đánh giá, các nhà khoa học rất chú trọng đến việc

Trang 15

lượng hóa các tiêu chuẩn, tiêu chí Nhưng trong quản lý giáo dục, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và đào tạo nghệ thuật thì có những lĩnh vực quá tinh tế, chỉ có thể kiểm tra - đánh giá mang tính chất định tính chứ không thể định lượng được Ví dụ: trong công tác đào tạo của ngành âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, v.v khi đánh giá chất lượng nghệ thuật hoặc kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên thì rất khó có thể chi tiết hóa hoặc lượng hóa tất cả các vấn đề có liên quan, bởi vì trong nghệ thuật có rất nhiều vấn đề rất tinh tế chỉ có thể cảm nhận được bằng cảm tính chứ khó có thể lượng hóa được 1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của công tác quản lý đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

1.2.3.1 Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng:

Trước hết là làm cho tư tưởng cơ bản của Chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương, chính sách trở thành hệ tư tưởng

và quan điểm chủ đạo duy nhất của toàn bộ công tác giáo dục - đào tạo ở lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Nguyên tắc này coi việc giáo dục thế giới quan khoa học, nhân sinh quan, đạo đức và quan niệm thẩm mỹ là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, cần chăm lo xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh trong nhà trường để thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, làm tham mưu tốt cho các cấp uỷ Đảng về phát triển và quản lý giáo dục; đồng thời chăm lo xây dựng các tổ chức chính quyền, các đoàn thể vững mạnh

1.2.3.2 Bảo đảm tính khoa học, tính kế hoạch và tính thực tiễn:

Giáo dục là một khoa học Vì vậy, quản lý giáo dục cần phải bảo đảm tính khoa học, nhà quản

lý phải nắm được cơ sở khoa học của công tác quản lý giáo dục Khoa học giáo dục và quản lý giáo dục phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau : Điều khiển học, Luật học, Xã hội học, Kinh tế học, Giáo dục học, Tâm lý học v.v

Vì vậy, tính khoa học trong quản lý giáo dục trước hết đòi hỏi quan điểm tổng hợp, quan điểm

hệ thống, quan điểm vận động (phát triển) Tính khoa học trong quản lý giáo dục đòi hỏi tính cụ thể

1.2.3.3 Nguyên tắc "tính pháp chế" :

Nguyên tắc này nhằm điều hành và quản lý bằng pháp luật cả về mặt tổ chức lẫn hoạt động quản lý Nó yêu cầu phải chấp hành nghiêm túc những yêu cầu của pháp luật

Trang 16

Quản lý Nhà nước về giáo dục không chỉ đòi hỏi việc thực hiện mọi luật pháp của Nhà nước mà còn phải biết vận dụng kết hợp những quy phạm pháp luật với những yếu tố đặc thù của giáo dục để xây dựng và thực hiện một hệ thống quy phạm giáo dục

1.2.3.4 Nguyên tắc "tính hiệu quả" :

Chất lượng và hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào hiệu quả tổ chức, quản lý giáo dục Muốn đạt được hiệu quả cao, nhà quản lý giáo dục phải nắm bắt được những thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật, vận dụng các phương pháp khoa học, sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến vào công tác quản lý Hiệu quả quản lý giáo dục phải được tính đến trên cơ sở thực hiện các mục tiêu với những

phí tổn nhất định về các nguồn lực cho phép (nhân lực, vật lực, tài lực)

1.2.3.5 Nguyên tắc "kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ"

Giáo dục được quản lý theo ngành dọc để bảo đảm tính thống nhất, tính khoa học, tính chuyên

môn của các hoạt động giáo dục Mặt khác, đời sống hàng ngày của nhà trường (đặc biệt là các

trường văn hóa nghệ thuật) gắn bó với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương mà chỉ có

chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội ở địa phương mới có thể giải quyết một cách thích hợp, kịp thời và có hiệu quả

1.3.1 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng giao lưu và hội nhập với thế giới của nước

ta hiện nay đã tác động mạnh mẽ đến nền văn hóa Việt Nam, làm cho văn hóa nghệ thuật phát triển nhanh hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn và cũng phức tạp hơn Bên cạnh những mặt phát triển tích cực, lành mạnh, cũng đã xuất hiện những hiện tượng tiêu cực trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật mà nghị quyết hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu ra, như: Hiện tượng thương mại hóa văn hóa nghệ thuật; Hiện tượng lai căng, chạy theo thị hiếu văn hóa của phương Tây, xa rời những truyền thống

văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; Những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc (nhất là văn hóa

của các dân tộc thiểu số) không được phát huy và phát triển; v.v

1.3.2.1 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự

phát triển kinh tế - xã hội

Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ

và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện

Trang 17

Văn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện, chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương, v.v biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển

1.3.2.2 Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội theo chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa

giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả

trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc

Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần

cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo

Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thụ có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ

1.3.2.3 Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân

tộc Việt Nam

Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng Các giá trị

và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em

1.3.2.4 Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó

đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới

sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa

1.3.2.5 Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng

lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng

(1) Trích trong văn kiện hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam - Khóa VIII - NXB Chính trị Quốc

Trang 18

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn,

phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian Trong công cuộc đó, "xây" đi đôi với "chống", lấy "xây" làm

chính Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thụ những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng

văn hóa để thực hiện "diễn biến hòa bình"

1.4.1 Tính khách quan của nhu cầu đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật

Từ những quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, dễ dàng nhận ra tính khách quan của nhu cầu đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật

Thứ nhất, xã hội càng phát triển, nhu cầu về hoạt động và hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của

nhân dân ngày càng cao, phong phú, đa dạng Vì vậy, cần phải có một đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật đông đảo và có chất lượng để đưa văn hóa nghệ thuật đến với quần chúng nhân dân, nhằm đáp ứng nhu cầu ấy

Thứ hai, đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công cuộc cách

mạng này đang cần đến một đội ngũ lao động "phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong

phú về tâm hồn, trong sáng về đạo đức"(1) Cùng với giáo dục, y tế, văn hóa là lĩnh vực trực tiếp góp phần vào việc đào tạo một đội ngũ lao động với những phẩm chất ấy

Thứ ba, trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập với thế

giới, văn hóa Việt Nam ngày càng phát triển, nhưng cũng phải trải qua nhiều chặng đường cam go, phức tạp Trong tiến trình đi lên, để gánh vác được sứ mệnh của mình, ngành văn hóa cần phải có một đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật có đầy đủ bản lĩnh, phẩm chất và tài năng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa

1.4.2 Trách nhiệm của các trường văn hóa nghệ thuật

Xuất phát từ nhu cầu khách quan của việc đào tạo đội ngũ làm công tác văn hóa nghệ thuật, trách nhiệm của ngành văn hóa nói chung, của các trường văn hóa nghệ thuật nói riêng như sau:

chất lượng, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền văn hóa ngày càng cao của xã hội, xây dựng những giá trị văn hóa mới, phát huy và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của

gia - Hà Nội - 1998 - Trang 55  58

( 1 ) Đảng Cộng sản Việt Nam - Nghị quyết hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành trung ương Đảng, khoá VII - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1992

Trang 19

dân tộc, góp phần trực tiếp vào việc ngăn chặn những hiện tượng không lành mạnh trong đời sống xã hội

 Nhanh chóng phát triển đội ngũ giáo viên có tài năng, có bản lĩnh và phẩm chất chính trị, tư tưởng để đào tạo đội ngũ văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng

Trang 20

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.5.1 Ba giai đoạn hình thành và phát triển :

1.5.1.1 Giai đoạn trường nghiệp vụ Văn hóa - Thông tin thành phố Hồ Chí Minh (1975 -

chuyên ngành văn hóa thông tin (thư viện, bảo tồn - bảo tàng, quản lý văn hóa quần chúng, v.v )

nhằm từng bước hình thành đội ngũ các loại cán bộ văn hóa thông tin cơ sở, có kiến thức nghề nghiệp và phẩm chất chính trị có thể vừa làm tham mưu, vừa tổ chức hướng dẫn phong trào văn hóa quần chúng và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Để khẳng định vị trí và chức năng của đơn vị, ngày 25/12/1978, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức ra quyết định thành lập

mỏng, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu; hơn nữa, mới chỉ là một trường nghiệp vụ, v.v ) nhưng nhà trường đã góp phần tích cực vào việc ổn định đời sống văn hóa tinh thần cho nhân

dân, bước đầu xây dựng một mạng lưới cán bộ văn hóa quần chúng ở cơ sở

1.5.1.2 Giai đoạn trường Trung Học Văn Hóa Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh (1981 -

Trang 21

Năm 1985, nhằm đáp ứng các yêu cầu mới, trường được chuyển về số 5 Nam Quốc Cang, Q.I, TP.Hồ Chí Minh, với cơ sở vật chất được đầu tư tốt hơn, cơ cấu tổ chức được mở rộng hơn Định hướng đào tạo chuyên sâu bắt đầu được khẳng định rõ nét Trong giai đoạn này, trường đã xác định

và thực hiện khá tốt 2 nhiệm vụ trọng tâm :

Đào tạo và bồi dưỡng lực lượng cán bộ ngành văn hóa thông tin có trình độ trung cấp phục vụ

cho ngành văn hóa thông tin và các cơ quan hữu quan (thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, hướng

dẫn viên văn hóa du lịch, v.v )

Đào tạo và bồi dưỡng lực lượng diễn viên nghệ thuật, nhạc công, v.v có trình độ trung cấp

phục vụ cho các đơn vị (Đoàn ca múa nhạc, cải lương, nhà văn hóa, các đội nhóm tuyên truyền

văn nghệ xung kích, v.v )

1.5.1.3 Giai đoạn trường CĐ VHNT TP.HCM (1996 đến nay)

Cùng với sự phát triển vững mạnh về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, những nỗ lực to lớn vượt bậc của trường cũng đã được xã hội thừa nhận Theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21/8/1996, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định nâng cấp Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh Gắn liền với sự nâng cấp, chức năng và nhiệm vụ của trường được mở rộng

và nặng nề hơn

Về chức năng - nhiệm vụ :

Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh có trách nhiệm đào tạo tổng hợp và chuyên sâu nhiều bộ môn: văn hóa, thông tin, nghệ thuật - thuộc các lĩnh vực ngành nghề: âm nhạc,

mỹ thuật, sân khấu, thư viện, bảo tàng, kinh doanh xuất bản phẩm, văn hóa quần chúng (quản lý

công tác văn hóa ở cơ sở, câu lạc bộ, nhà văn hóa ), văn hóa và du lịch, v.v nhằm mục đích trực

tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và quản lý công tác văn hóa hoạt động trong ngành văn hóa thông tin và ở các đoàn thể, ban, ngành, kể cả lực lượng nghệ sĩ trẻ bổ sung cho các đoàn nghệ thuật, các tụ điểm văn nghệ

Về phạm vi hoạt động :

Ngoài nhiệm vụ trực tiếp đào tạo và bồi dưỡng lực lượng làm công tác văn hóa nghệ thuật cho thành phố Hồ Chí Minh, trường còn góp phần cùng các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành Văn hóa thông tin tiến hành phổ cập kiến thức, kỹ năng hoạt động về văn hóa, thông tin, nghệ thuật cho đông đảo các loại đối tượng khác nhau với nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng đa dạng Bên cạnh

đó, trường cũng từng bước phấn đấu trở thành một trung tâm hoạt động hoặc liên kết hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật và thông tin, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác với các địa phương, đơn vị bạn trong và ngoài nước về đào tạo và giao lưu văn hóa nghệ thuật 1.5.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ Chí Minh hiện nay:

Trang 22

1.5.2.1 Cơ cấu nhân sự:

1.5.2.1.1 Số lượng nhân sự :

Tính đến tháng 6/2004, tổng cộng toàn trường có 86 cán bộ, công chức, giảng viên, nhân viên

hợp đồng, trong số đó có 54 giảng viên (kể cả các cán bộ quản lý kiêm nhiệm) Trong lực lượng

giảng viên có :

03 tiến sĩ (5,56%)

04 thạc sĩ (7,41%)

43 cử nhân (79,63%, trong số này có 01 người được Nhà nước phong danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú)

04 người tốt nghiệp bậc cao đẳng, trung học (7,41%)

1.5.2.2 Cơ cấu tổ chức:

Trường có 4 phòng chức năng, 5 khoa chuyên môn và 4 bộ môn (đào tạo các môn kiến thức cơ

sở, cơ bản như: triết học, kinh tế chính trị học, tiếng việt thực hành, cơ sở văn hóa việt nam v.v chung cho tất cả các lớp của các khoa)

1.5.2.2.1 Các phòng chức năng

Phòng Đào Tạo

Phòng Khoa học và Đối ngoại

Phòng Tổ chức và Công tác sinh viên

Phòng Hành chính - Kế toán

1.5.2.2.2 Các khoa chuyên môn :

Khoa âm nhạc đào tạo các chuyên ngành: thanh nhạc, organ, piano, guitare, trống jazz, sư phạm

Bộ môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (triết học, kinh tế chính trị học, chủ

nghĩa xã hội khoa học, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tương tưởng Hồ Chí Minh)

Bộ môn kiến thức cơ sở, cơ bản (tiếng việt thực hành, cơ sở văn hóa việt nam, đại cương pháp

luật Việt Nam, v.v )

Bộ môn kiến thức sư phạm (Giáo dục học, tâm lý học, phương pháp giảng dạy bộ môn, v.v )

Trang 23

Bộ môn tin học và ngoại ngữ

Ngoài ra, Trường còn có các Trung tâm (Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học ) chủ yếu đào tạo theo phương thực xã hội hóa

Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ được giao, Trường Cao Đẳng Văn Hóa Nghệ Thuật TP Hồ

Chí Minh đã tiến hành đào tạo bậc cao đẳng (cả hệ chính quy và hệ không chính quy) và trung học,

với 18 chuyên ngành thuộc lĩnh vực Văn hóa – Thông tin – Nghệ thuật, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và nghiên cứu khoa học phục vụ cho yêu cầu phát triển đời sống văn hóa – xã hội của TP Hồ Chí Minh, thông qua các mặt hoạt động quan hệ hợp tác với các địa phương, đơn vị trong và ngoài nước về đào tạo và giao lưu văn hóa

1.6.1 Công tác đào tạo hệ chính quy

1.6.1.1 Bậc cao đẳng: có 15 chuyên ngành

Khoa âm nhạc có 2 chuyên ngành: Thanh nhạc; Sư phạm âm nhạc

Khoa mỹ thuật có 5 chuyên ngành: Hội họa; Sư phạm mỹ thuật; Đồ họa vi tính; Thiết kế thời

trang; Nhiếp ảnh

Khoa sân khấu có 2 chuyên ngành: Đạo diễn; Diễn viên kịch nói

Khoa thông tin có 3 chuyên ngành: Kinh doanh xuất bản phẩm; thông tin - thư viện, thông tin -

quảng cáo

Khoa văn hóa và du lịch có 3 chuyên ngành: Bảo tồn - Bảo tàng; Quản lý văn hóa, Hướng dẫn

viên văn hóa du lịch

1.6.1.2 Bậc trung học chuyên nghiệp:

Có 5 chuyên ngành, trong đó:

Khoa âm nhạc có 2 chuyên ngành: Thanh nhạc; Nhạc cụ (Organ - Guitare - Trống)

Khoa mỹ thuật có 2 chuyên ngành: Hội họa; Điêu khắc

Khoa sân khấu có 1 chuyên ngành: Diễn viên kịch nói

Tổng số sinh viên, học sinh hệ theo học chính quy giai đoạn 2000 - 2004 như sau:

Trang 24

1.6.2 Đào tạo hệ không chính quy :

Bên cạnh công tác đào tạo hệ chính quy, trường tiến hành công tác đào tạo hệ không chính quy trên cơ sở liên kết đào tạo với với các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

và một số tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang), ở Tây Nguyên

(Đăc Lăc), vùng duyên hải Trung bộ (Khánh Hòa) Số lượng sinh viên hệ không chính quy giai

đoạn 2000 - 2003 là 1036 người, với các chuyên ngành sau:

1 Cao đẳng Thông tin - Thư viện K.6-KCQ

(khóa 2000 – 2003) 33 Học tại trường

2 Cao đẳng sư phạm âm nhạc K.6-KCQ (khóa 2000 – 2003) 50 Phối hợp với Sở Giáo dục Đào tạo TP Hồ Chí Minh

3 Cao đẳng sư phạm mỹ thuật K.6-KCQ (khóa 2000 – 2003) 23 Học tại trường

4 Cao đẳng sư phạm âm nhạc K.6T (khóa 2000 – 2003) 47 Liên kết với Trường Văn hóa Nghệ thuật Tỉnh Trà Vinh

5 Cao đẳng sư phạm âm nhạc K.8T (khóa 2002 – 2005) 80 Liên kết với Trường Văn hóa Nghệ

thuật Tỉnh Trà Vinh

6 Cao đẳng sư phạm mỹ thuật K.8T (khóa 2002 – 2005) 80

7 Cao đẳng văn hóa du lịch K.6A (khóa 2000 – 2003) 112 Liên kết với Trường Trung học Kinh tế Kỹ thuật An Giang

8 Cao đẳng sư phạm âm nhạc K.7S (khóa 2001 – 2004) 68

Liên kết với Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Sóc Trăng

9 Cao đẳng sư phạm mỹ thuật K.7S (khóa 2001

11 Cao đẳng sư phạm mỹ thuật K.8D (khóa 2001 – 2004) 78

12 Cao đẳng văn hóa du lịch K.7N (khóa 2001 – 2004) 68

Liên kết với Trường Trung học Văn hóa Nghệ thuật Tỉnh Khánh Hòa

13 Cao đẳng văn hóa du lịch K.8N (khóa 2002 – 2005) 70

14 Cao đẳng văn hóa du lịch K.9N (khóa 2003 – 2006) 81

15 Lớp Đại học Xã hội học - Văn hóa (khóa 1998 – 2002) 75 Liên kết với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1.6.3 Đánh giá chung:

Trang 25

Số lượng sinh viên của trường tuy không nhiều như ở một số trường cao đẳng, đại học khác (kể

cả trường Đại học văn hóa Hà Nội hay Trường Cao đẳng Văn hóa TP Hồ Chí Minh), có lý do của

Trước hết, địa bàn tuyển sinh theo phân bố của Bộ Giáo dục và Đào tạo dành cho Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh là rất hạn chế, chủ yếu là tuyển các thí sinh có hộ khẩu

ngành văn hóa, trường phải thực hiện công tác đào tạo các ngành nghệ thuật, với tính chất đặc thù

của công tác bồi dưỡng tài năng (những người theo học phải có năng khiếu nghệ thuật), không thể

tuyển sinh đại trà Bên cạnh đó, khi dạy và học lĩnh vực nghệ thuật thường chỉ có một thầy dạy 2 

3 sinh viên Tuyển nhiều sinh viên nghệ thuật rất dễ đưa đến tình hình thiếu giảng viên trầm trọng,

những năm qua, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh đã đạt được một số thành tựu và cũng có một số hạn chế nhất định

1.6.3.1 Một số thành tựu:

Thứ nhất, trường đã hoàn thành nhiệm vụ và chức năng đã được giao Đã đào tạo được một

đội ngũ những người làm công tác văn hóa, quản lý văn hóa và nghệ thuật cho các cơ sở, các đơn vị trong và ngoài ngành văn hóa thông tin Từ đó, trường đã dần dần khẳng định và nâng cao được vai trò, vị trí của mình trong đời sống văn hóa tinh thần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt với các chuyên ngành quản lý văn hóa, sư phạm âm nhạc và sư phạm mỹ thuật, trường đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ và nhân viên hoạt động văn hóa thiết thực, giải quyết tình trạng khan hiếm những người chuyên tâm hoạt động văn hóa và thiếu giáo viên giảng dạy các môn này ở các trường học Vì thế, theo tinh thần thông tư liên bộ số 15/TTLB, ngày 21/8/1996, của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Văn hóa và Thông tin, Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, đã phối hợp với Sở Văn Hóa và Thông Tin và Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và phương pháp sư phạm âm nhạc và sư phạm mỹ thuật cho một loạt giáo

được hiệu quả tích cực theo hai chiều: Trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giảng viên thâm nhập thực tế, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn; đồng thời xã hội cũng nhận thức sâu sắc hơn vai trò của văn hóa nghệ thuật và khẳng định vị thế của trường; tạo cho mối quan hệ giữa trường với các đơn vị ngày càng chặt chẽ hơn; uy tín của trường ngày càng tăng

1.6.3.2 Một số hạn chế:

Trước hết, chất lượng đào tạo và bồi dưỡng chưa cao Tuy đây là tình hình chung của nền giáo dục nước ta hiện nay, song từ phía chủ quan của từng địa phương, từng trường mà ở đây là Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh cũng cần phải thừa nhận điều này

Trang 26

Chất lượng đào tạo và bồi dưỡng của trường chưa cao có thể thấy qua nhiều khía cạnh

- Kết quả học tập của sinh viên ngày càng khá hơn, tuy nhiên số sinh viên giỏi, xuất sắc không nhiều

- Là một đơn vị có điều kiện đào tạo những sinh viên làm công tác nghệ thuật (Biểu diễn, sáng

tác) bài bản, hệ thống Nhưng số sinh viên của trường có mặt tại các cuộc thi do ngành văn hóa

nghệ thuật tổ chức không nhiều và kết quả không cao (số đoạt giải khá ít)

- Sức hút (đầu tư) của trường đối với xã hội chưa mạnh, chưa rộng

Tiếp theo, phải kể đến, vị thế của trường chưa được khẳng định Với bề dày một phần tư thế kỷ hoạt động, nhưng ảnh hưởng của trường đối với các tỉnh, thành ở miền Nam nói riêng, cả nước nói chung, hình như chưa tương xứng với tầm của trường Ngay tiếng nói của trường trong đời sống văn hóa tinh thần của thành phố Hồ Chí Minh không thật nổi trội trong quan hệ so sánh với một số trường cao đẳng, đại học và đơn vị hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật có mặt ở địa bàn

qua, có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ hướng hoạt động quản lý

Để có cơ sở đánh giá tình hình quản lý hoạt động đào tạo của trường, thiết nghĩ cần đề cập đến những khó khăn và thuận lợi của trường trong quá trình triển khai hoạt động này

1.7.1 Một số thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý của trường CĐ VHNT TP.HCM 1.7.1.1 Một số thuận lợi:

Trước hết là sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức Đảng và Nhà nước ta từ TW đến thành phố Điều này có thể thấy qua sự ra đời khá sớm và sự nâng cấp nhanh để thành Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật như hôm nay Thực ra, thuận lợi này bắt nguồn từ vai trò của thành phố Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Với tư cách là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đầu tư về mọi mặt Sự ra đời và phát triển của trường CĐ VHNT TP.HCM thể hiện sự quan tâm ấy

Thứ đến, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có sức hút rất lớn, nhất là trong lĩnh vục kinh tế và

văn hóa Riêng về lĩnh vực văn hóa, thành phố Hồ Chí Minh là nơi văn hóa phát triển nhanh, mạnh

và rất sôi động, đồng thời là nơi giao lưu, đón nhận nhanh, nhạy và rộng rãi văn hóa thế giới Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi thử thách, nảy sinh những tài năng văn hóa nghệ thuật Vì thế, các trường đào tạo nghệ thuật đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có trường CĐ VHNT

TP.HCM luôn luôn có sức thu hút thí sinh theo nguyên tắc "đất lành chim đậu"

1.7.1.2 Một số khó khăn:

Trang 27

Thứ nhất, khó khăn đầu tiên và lớn nhất của trường là cùng một lúc phải đảm nhiệm đào tạo

và bồi dưỡng theo hai khối : khối văn hóa và khối nghệ thuật (biểu diễn, sáng tác) Chức năng kép

này làm cho trường gặp không ít khó khăn về việc tổ chức đội ngũ giảng viên, về việc xây dựng cơ

sở vật chất, trang thiết bị, về tổ chức hệ thống giáo trình, giáo án, v.v chẳng hạn, các nghệ sĩ ưu tú thường có khuynh hướng tham gia hoạt động ở các đoàn nghệ thuật hoặc giảng dạy ở các Nhạc viện, các trường đại học mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, tức những đơn vị thiên về chức năng nghệ thuật Vì thế, có hàng chục nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân giảng dạy ở những đơn vị này, trong khi chỉ có một nghệ sĩ ưu tú giảng dạy ở trường CĐ VHNT TP.HCM

Thứ hai, hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh có một loạt trường cao đẳng và đại học thuộc

lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của trung ương và địa phương Từ đây nảy sinh một thực tế: có sự cạnh

tranh trong đào tạo giữa các đơn vị này với nhau Thông thường, trường nào "có giá" , có nhiều nghệ sĩ có danh tiếng hơn hoặc "đầu ra" thuận lợi hơn cho người học (sinh viên, học viên) sẽ có sức

hút mạnh hơn, hấp dẫn người học hơn Về phương diện này, dù không nói ra, trường CĐ VHNT

TP.HCM không có "sức hấp dẫn" như nhiều trường khác

Thứ ba, đời sống văn hóa tinh thần của thành phố Hồ Chí Minh hết sức đa dạng, phong phú,

sôi động và rất phức tạp Trong bối cảnh ấy, với tư cách là một đơn vị đào tạo văn hóa nghệ thuật của riêng thành phố Hồ Chí Minh, trường CĐ VHNT TP.HCM không dễ gì đáp ứng đầy đủ về văn hóa nghệ thuật của công chúng và đảm nhiệm tốt nhất công việc do ngành giao cho

1.7.2 Một số kết quả trong công tác quản lý hoạt động đào tạo của trường CĐ VHNT

- Mỗi cán bộ, giảng viên, công nhân viên đều xuất phát từ chung một mục đích: phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, tạo chỗ đứng vững chắc trong quá trình phát triển

- Ban giám hiệu tích cực chỉ đạo các phòng chức năng cùng với các khoa xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, đầy đủ cho từng lớp, từng khoá học, v.v

- Thông qua hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của các khoa, bộ môn, mỗi giảng viên; trên cơ sở mở rộng liên kết đào tạo với các trung tâm, các trường của các địa phương, bước đầu trường đã gắn hoạt động đào tạo và bồi dưỡng của đơn vị với việc giải quyết những vấn đề văn hóa nghệ thuật đặt ra ở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, ở xã hội nói chung Từ đây, vị thế của trường dần được khẳng định

Trang 28

1.7.3 Một số vấn đề đặt ra về phương diện quản lý đối với trường CĐ VHNT TP.HCM

Trong những năm gần đây, tuy Trường có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý đào tạo nhưng trên thực tế, công tác quản lý đào tạo của Trường vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, nổi cộm nhất là một số vấn đề sau đây:

1.7.3.1 Vấn đề về cơ chế quản lý :

Theo ý kiến của bà Lê Tú Cẩm (nguyên Phó Giám đốc Sở Văn Hóa và Thông Tin TP Hồ Chí Minh, nguyên Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh) thì hiện nay (tính đến thời điểm cuối tháng 12/2003), vẫn chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng về công tác quản lý trong mối quan hệ giữa trường CĐ VHNT TP.HCM với Sở Văn Hóa và Thông Tin TP Hồ Chí Minh và với Ủy Ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh

Căn cứ theo quyết định số 564/TTg, ngày 21/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ thì Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh trực thuộc sự quản lý của Ủy Ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh và chịu sự quản lý ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo Sau đó, Ủy Ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh đã giao cho Sở Văn Hóa và Thông Tin TP Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý trường CĐ VHNT TP.HCM Thế nhưng cho đến nay, trường và Sở Văn Hóa và Thông Tin vẫn chưa xây dựng được quy chế quản lý riêng cho phù hợp với tính chất, chức năng, nhiệm vụ hoạt động v.v của một

cơ sở đào tạo nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, mà vẫn quản lý Trường theo như cách quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp khác trực thuộc Sở Văn Hóa và Thông Tin Điều này khiến cho các hoạt động của trường thường bị chậm trễ, ách tắc

1.7.3.2 Vấn đề nhân sự

Về đội ngũ cán bộ quản lý :

Ban giám hiệu :

Trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2003, trường CĐ VHNT TP.HCM có đến ba lần thay đổi hiệu trưởng vì nhiều nguyên nhân khác nhau Số lượng các phó hiệu trưởng cũng thay đổi theo

Năm 1999, Trường có một hiệu trưởng (ông Nguyễn Đức Hữu), hai phó hiệu trưởng (ông

Hoàng Đức Tín và ông Huỳnh Quốc Thắng)

Từ năm 1999 đến năm 2002, Trường có một hiệu trưởng (bà Lê Tú Cẩm, Phó Giám đốc Sở

Văn Hóa và Thông Tin TP Hồ Chí Minh kiêm nhiệm), bốn phó hiệu trưởng (Ông Huỳnh Quốc

Trường có một hiệu trưởng (ông Huỳnh Quốc Thắng), và hai phó hiệu trưởng (ông Lương Bửu

Hoàng, ông Lê Ngọc Hóa)

Việc thay đổi nhân sự Ban giám hiệu liên tục như vậy đưa đến hệ quả là các hoạt động của nhà trường không thể giữ được sự ổn định trong một thời gian cần thiết để có thể phát triển

Về các phòng chức năng:

Trang 29

Đến thời điểm tháng 6/2004, trong số bốn phòng chức năng của Trường, có hai phòng không

có trưởng phòng (Phòng Khoa học & Đối ngoại và Phòng Hành chính - Kế toán)

Với lực lượng thiếu thốn như đã nêu, cộng thêm với việc một số cán bộ quản lý được bổ nhiệm xuất thân là giảng viên, chưa hề được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, khiến cho hoạt động quản lý của các phòng chức năng chưa được đồng đều, thống nhất và hoạt động lúng túng, kém hiệu quả

Về các đơn vị đào tạo

Các khoa:

Đầu năm 2004, Trường đã thay đổi, sáp nhập Khoa Văn hóa Du lịch và Khoa Nghiệp vụ văn hóa thành Khoa Văn hóa và Du lịch Giải thể Khoa Kiến thức đại cương và thành lập 4 Bộ môn Như vậy, trong năm 2004, Trường có 5 khoa chuyên môn (Khoa Âm nhạc, Khoa Mỹ thuật, Khoa Sân khấu, Khoa Văn hóa và Du lịch, Khoa Thông tin), trong số đó có Khoa sân khấu chưa có Trưởng khoa

Hầu hết các khoa, phòng chưa xây dựng được các văn bản hướng dẫn quy trình tác nghiệp cụ thể Từ đó dẫn đến việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên chưa thật sự khoa học

Tổ bộ môn:

Mặc dù chủ trương, định hướng của Ban giám hiệu là xây dựng trường CĐ VHNT TP.HCM theo mô hình Trường 3 cấp: Trường - Khoa - Tổ bộ môn, thế nhưng cho đến nay, chưa có khoa nào thành lập được tổ bộ môn chuyên môn

Hiện nay, Nhà trường đã giải thể Khoa kiến thức đại cương và thành lập 4 Bộ môn (với khái niệm Bộ môn tương đương với cấp Khoa), đó là :

Bộ môn Triết học Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Bộ môn kiến thức cơ sở cơ bản

Bộ môn Tin học - Ngoại ngữ

Bộ môn nghiệp vụ sư phạm

Thực chất các Bộ môn này chỉ là nhóm các tổ bộ môn có nội dung gần với nhau mà có thể gọi

theo cách khác là các liên tổ bộ môn của các học phần thuộc khối kiến thức đại cương, trước đây được tổ chức gộp chung vào thành Khoa kiến thức đại cương

Lực lượng giảng viên - Số tiết giảng thực hiện

Số lượng giảng viên:

Tính đến tháng 6/2004, trường có tổng cộng 54 giảng viên Trong đó có : 03 tiến sĩ (5,56%),

04 thạc sĩ (7,41%), 43 cử nhân (79,63%), 04 người tốt nghiệp bậc cao đẳng, trung học (7,41%) Với số lượng giảng viên cơ hữu như vậy, so với số lượng 1800 sinh viên, học sinh hiện đang

Trang 30

đào tạo (năm 2004), tính trung bình có 33 SV-HS/01 giảng viên, cao hơn gấp 2 lần so với định mức

hữu (kể cả số cán bộ quản lý kiêm nhiệm) của trường mới chỉ đạt 50% so với yêu cầu Tất yếu, nhà

trường thường xuyên phải thỉnh giảng hơn 100 giảng viên ngoài trường hỗ trợ công tác giảng dạy, khiến cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo của nhà trường luôn luôn bị động

Số tiết giảng dạy:

Theo kế hoạch đào tạo năm học 2003 - 2004, toàn trường phải thực hiện 55.478 tiết học cho

tiết/năm Tổng số tiết học do lực lượng giảng viên cơ hữu của Trường đảm nhận là 27.118 tiết

(chiếm tỷ lệ 48,88%) Phần còn lại (chiếm tỷ lệ 51,12%) phải nhờ vào lực lượng giảng viên thỉnh

giảng (chưa tính toàn bộ chương trình Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất phải dựa hoàn

các khoa Mỹ thuật, Âm nhạc - có khả năng đảm nhận được hơn 50% số tiết giảng Lực lượng giảng viên cơ hữu của các khoa: Thông tin, Văn hóa và Du lịch - chỉ đảm nhận được khoảng hơn 30% số

1.000 tiết/người/năm học, tức là gần bằng với tổng số tiết học cả năm của một lớp Điều đó phản

ánh tính không khoa học của chương trình đào tạo các lớp thuộc Khoa sân khấu

Việc thiếu lực lượng giảng viên cơ hữu dẫn đến hậu quả là các khoa, bộ môn thường xuyên bị lúng túng, bị động, chậm trễ trong công tác thực hiện kế hoạch đào tạo

1.7.3.3 Công tác tuyển sinh:

Công tác tuyển sinh của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh trong những năm gần đây được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ, tuân thủ đầy đủ các quy chế, quy định

về công tác tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Nhìn chung, các kỳ thi tuyển sinh những năm gần đây của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh được chuẩn bị chu đáo từ khâu nhận hồ sơ cho đến khâu tổ chức thi Các quy trình công tác tổ chức thi được thực hiện chặt chẽ, đúng quy chế và bảo đảm an toàn, chính xác Lãnh đạo nhà trường sớm đề ra kế hoạch cho công tác tuyển sinh, tích cực, sâu sát, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề phát sinh trong suốt thời gian chuẩn bị và tổ chức thi Công tác tập huấn cán bộ coi thi được đặc biệt coi trọng Tài liệu hướng dẫn công tác coi thi được thực hiện chi tiết, chặt chẽ Các loại biểu mẫu biên bản xử lý vi phạm quy chế được chuẩn bị kỹ lưỡng, dự kiến tối đa các tình huống, khả năng tiêu cực có thể xảy

ra và chuẩn bị sẵn các phương án, biện pháp xử lý Các cán bộ coi thi và thí sinh được phổ biến quy chế, nội quy phòng thi một cách đầy đủ, nghiêm túc, đồng thời kết hợp với các biện pháp tuyên truyền trực quan tại các phòng thi nên ít xảy ra tình trạng vi phạm quy chế thi

Số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào trường ngày càng tăng, cụ thể như sau:

Ngày đăng: 18/02/2014, 22:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức quản lý - nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đào tạo của trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật thành phố hồ chí minh
Hình th ức quản lý (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w