Nghiên cứu xác định mức độ phát thải một số chất ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng tại tỉnh An Giang, Tạp chí xây dựng Việt Nam; 07.. Về bản chất, đốt hở rơm r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-o0o -
PHẠM THỊ HỒNG PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ PHÁT THẢI CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỐT RƠM RẠ VÀ KHẢ NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ – NGHIÊN CỨU THÍ ĐIỂM
TẠI ĐỒNG BẰNG TÂY NAM BỘ
Ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã số : 9520320
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Hà nội – 2022
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường
họp tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Vào hồi …… giờ, ngày … tháng … năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường ĐHBK Hà Nội
2 Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN
I Tạp chí Quốc tế (ISI)
1 Pham-Thi Hong Phuong, Trung Dung Nghiem, Pham – T Mai Thao, Thanh Dien Nguyen
(2022), Emission factors of selected air pollutants from rice straw open burning in the Mekong Delta
of Vietnam, Atmospheric Pollution Research (ISI, IF: 4,352, Q1), https://doi.org/10.1016/j.apr.2022.101353
2 Pham-Thi Hong Phuong, Trung Dung Nghiem, Pham – T Mai Thao, Chau Thuy Pham, Tham
T Trinh, Thanh Dien Nguyen (2021) Impact of rice straw open burning on local air quality in the Mekong Delta of Vietnam, Atmospheric Pollution Research, (ISI, IF: 4,352, Q1),
https://doi.org/10.1016/j.apr.2021.101225
3 Chau Thuy Pham, Bich Thuy Ly, Trung Dung Nghiem, Thi Hong Phuong Pham, Ning Tang,
Kazuichi Hayakawa, Akira Toriba (2021), Emission factors of selected air pollutants from rice straw burning in Hanoi, Vietnam, Air Quality, Atmosphere & Health (ISI, IF: 3,763, Q2),
https://doi.org/10.1007/s11869-021-01050-6
II Tạp chí quốc gia
4 Pham-Thi Hong Phuong, Trung Dung Nghiem, Pham-Thi Mai Thao, Trinh Thi Tham (2022)
Emissions factors of air pollutants from rice straw burning – hood experiments, VNU Journal of
Science: Earth and Environmental, 38 (02): 2588-1124
5 Phạm Thị Hồng Phương, Nghiêm Trung Dũng, Phạm Thị Mai Thảo (2020) Tổng quan phương
pháp xác định hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt hở rơm rạ, Tạp chí KH
& CN – Đại học Thái Nguyên, 225(09):17-25;
6 Nguyễn Chiến Thắng, Phạm Thị Mai Thảo, Phạm Thị Hồng Phương (2018) Nghiên cứu đánh
giá hiện trạng phát sinh và đề xuất giải pháp nâng cao tỉ lệ sử dụng rơm rạ tại tỉnh An Giang, Tạp
chí xây dựng Việt Nam; 07 2018: 171 – 174
7 Hồ Hương Thảo, Phạm Thị Mai Thảo, Phạm Thị Hồng Phương (2018) Nghiên cứu xác định
mức độ phát thải một số chất ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng tại tỉnh
An Giang, Tạp chí xây dựng Việt Nam; 07 2018: 188 – 190
III Hội thảo quốc tế
8 Pham Thi Hong Phuong, Nghiem Trung Dung, Pham Thi Mai Thao, Nguyen Thanh Dien, Trinh
Thi Tham (2021), Emission characteristics of Polycyclic Aromatic Hydrocarbons from rice straw open burning in the Mekong Delta of Vietnam, Proceedings International Conference: The
International Conference on Environment, Resources and Earth Sciences (ICERES), (ISBN: 604-73-8627-7)
978-9 Hong-Phuong T Pham, Trung-Dung Nghiem, Mai-Thao T Pham (2021), Characterization of
selected air pollutants from rice straw open burning in the Mekong Delta of Vietnam, Proceedings
of the Kyoto University International ONLINE Symposium 2021 on Education and Research in Global Environmental Studies in Asia
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Đốt rơm rạ tại đồng ruộng (hay còn gọi là đốt hở) được coi là hình thức phổ biến nhằm làm sạch đồng ruộng sau thu hoạch, chuẩn bị cho
vụ gieo trồng tiếp theo tại hầu hết các nước châu Á [1] Việc đốt hở rơm rạ đóng góp một phần đáng kể vào ô nhiễm không khí quy mô địa phương, quốc gia thậm chí trên toàn cầu, góp phần gia tăng hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng đến sức khỏe con người [2-4] Về bản chất, đốt
hở rơm rạ được coi là quá trình đốt cháy thực vật ở nhiệt độ thấp, do
đó sẽ phát sinh một lượng lớn các chất độc hại gây ô nhiễm không khí
là sản phẩm của quá trình đốt cháy không hoàn toàn, như bụi (PM), cacbon đen (BC), cacbon hữu cơ (OC), cacbon monoxit (CO) Thêm vào đó, một số oxit nitơ (NOx) và oxit lưu huỳnh (SOx) cũng được phát thải cùng với các khí nhà kính quan trọng như CH4, N2O và CO2, mặc
dù CO2 trong trường hợp này được coi là sản phẩm trung tính Ngoài
ra các hợp chất hữu cơ như: VOCs, các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, polychlorinated dibenzo-p-dioxin và dibenzofurans (PCDD/PCDFs, ở đây gọi tắt là dioxin), polychlorinated biphenyls (PCBs), và các hydrocacbon thơm đa vòng (PAHs) cũng được phát thải ra từ quá trình đốt rơm rạ [5] Đặc biệt, quá trình đốt rơm rạ cũng thải ra một lượng đáng kể các hợp chất chứa clo với thời gian tồn tại trong khí quyển khá lớn (từ một vài ngày đến vài năm), có thể ảnh hưởng đến nồng độ ozon ở tầng đối lưu và phá hủy ozon ở tầng bình lưu
Đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng đang có xu hướng gia tăng đáng kể do tính tiện lợi của nó so với các cách thức xử lý khác như: làm giá thế trồng nấm, thức ăn cho gia súc, vật liệu thủ công (làm giá đỡ lót hoa quả, đồ dễ vỡ) Việc đót rơm rạ diễn ra khá phổ biến đặc biệt là các nước châu Á (chiếm hơn 70% sản lượng rơm rạ phát sinh) Vào những năm 90 tỷ lệ đốt rơm rạ chỉ khoảng 17% đối với tất cả sinh khối bị đốt cháy ở Thái Lan và Philipin [6] Tuy nhiên tỷ lệ này đã gia tăng đáng
kể vào năm 2009, cụ thể tại Thái Lan là 48% và Philipin là 95% [7]
Tỷ lệ đốt lộ thiên được xác định lần lượt là 15% và 25% tổng phụ phẩm nông nghiệp tại Ấn Độ và Nam Á vào năm 2009 [7], 23% tại Trung Quốc vào năm 2008 [8] Như vậy tỷ lệ đốt hở rơm rạ sau thu hoạch tại Ấn Độ và Trung Quốc không phải là vấn đề lớn so với Thái Lan và Philipin nhưng vì Ấn Độ và Trung Quốc là các quốc gia đứng
Trang 5đầu trên thế giới về sản lượng nông nghiệp, nên xét trên bình diện chung tổng phát thải từ hoạt động đốt hở rơm rạ vào không khí của các quốc gia này là không nhỏ Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của FAO 2018 cho thấy lượng sản xuất lúa gạo đứng thứ năm trên thế giới trong đó tỷ lệ đốt rơm rạ là cao nhất trên thế giới, từ 80-90% [9] thậm chí lên tới 98% [10]
Quá trình đốt rơm rạ đã đóng góp đáng kể các chất ô nhiễm vào khí quyển làm gia tăng mức độ nghiêm trọng về vấn đề ô nhiễm không khí, tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, góp phần gia tăng hiệu ứng nhà kính và mưa axit [4, 11, 12] Điển hình như đốt rơm rạ thải ra một lượng lớn bụi PM2,5 với lượng đóng góp được xác định tương ứng
là 880 nghìn tấn ở Trung Quốc [13] 144 nghìn tấn Ấn Độ, 108 nghìn tấn ở Thái Lan và 105 nghìn tấn ở Philipines [7] Ngoài ra, tại Thái Lan, việc đốt rơm rạ đã đóng góp 0,032-0,13% tổng lượng phát thải quốc gia [1] Tại Đài Loan việc đốt hở rơm rạ đã phát thải từ 5-33,5% PAHs vào khí quyển [14] Tại Việt Nam, lượng PM2,5 phát sinh vào khí quyển từ quá trình đốt rơm rạ là 150 nghìn tấn với kịch bản toàn
bộ lượng rơm rạ trong cả nước được đốt theo phương thức đốt đống
và 180 nghìn tấn với kịch bản phương thức đốt rải, tương đương mức
độ đóng góp là 14-18% tổng lượng khí thải từ các nguồn khác nhau (số liệu tính toán cho năm 2015) [15] Kết quả kiểm kê phát thải cho năm 2018 tại đồng bằng sông Hồng, Việt Nam cho thấy lượng chất thải phát sinh từ việc đốt rơm rạ là 3,84 triệu tấn CO2, 29,5 nghìn tấn
CO và 31 nghìn tấn CH4 [16]
Cho tới nay, các nghiên cứu kiểm kê phát thải hoặc xác định hệ số phát thải, chủ yếu được thực hiện tại miền Bắc, Việt Nam [15-17] Trong khi đó, các nghiên cứu về đốt rơm rạ tại miền Tây Nam Bộ rất
ít mặc dù đây được coi là vựa lúa của cả nước với tỷ lệ đốt rơm sau thu hoạch rất cao (chiếm tới 80-90% lượng rơm rạ được tạo ra) [9] Ngoài ra, sự khác biệt đáng kể về khí hậu giữa miền Bắc và miền Nam của Việt Nam dẫn đến một số yếu tố khác nhau như lịch thời vụ và thời gian đốt Trong khi ở miền Bắc có mùa đông lạnh thì miền Tây Nam Bộ nắng nóng quanh năm Nếu như miền Bắc chỉ có hai vụ lúa/năm thì ở Miền Tây Nam Bộ một năm có từ ba vụ lúa/ năm thậm chí bảy vụ lúa cho hai năm Hơn nữa, diện tích trồng lúa và cách thức thực hiện đốt rơm rạ giữa hai vùng cũng không giống nhau Ở miền Bắc, rơm rạ chất thành từng đống nhỏ rồi đốt còn ở miền Tây Nam Bộ
Trang 6thì rơm rạ được phơi khô tự nhiên, rải trên ruộng rồi đốt Trong khi
đó, các nghiên cứu về phát thải từ quá trình đốt rơm rạ tại miền Tây Nam Bộ còn rất hạn chế
Vì vậy, đề tài “Đánh giá mức độ phát thải của hoạt động đốt rơm
rạ và khả năng tác động của chúng đến chất lượng không khí – nghiên cứu thí điểm tại đồng bằng Tây Nam Bộ” đã được thực hiện
tại 4 tỉnh của khu vực này, gồm: An Giang, Vĩnh Long (tỉnh đặc trưng cho việc thu hoạch 2 vụ lúa/năm) và Hậu Giang, Cần Thơ (tỉnh đặc trưng cho việc thu hoạch 3 vụ lúa/năm)
2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát thải các chất ô nhiễm không
khí do hoạt động đốt hở rơm rạ, trong đó, tập trung các nhóm chất sau: (i) Bụi, gồm: TSP, PM10, PM2.5; (ii)Hydrocacbon thơm đa vòng, giáp cạnh (PAHs), gồm 16 chất: naphthalene, acenaphthylene, acenaphthene, fluorene, phenanthrene, anthracene, fluoranthene,
pyrene,benzo[a]anthracene,chrysene,benzo[b]fluoranthene,benzo[k]f luoranthene,benzo[a]pyrene,indeno[1,2,3c,d]pyrene,dibenzo[a,h]ant hracene và benzo[g,h,i]perylene; (iii) Các hợp chất hữu cơ bay hơi
(VOCs), gồm 10 chất: benzen, toluen, ethylbenzen, m+p-xylen, methylen chloride, chloroform, n-pentan, n-hexan, clohexan và aceton; (iv) Một số khí nhà kính và các chất ô nhiễm dạng khí: CO2,
SO2, NO2
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Bốn tỉnh miền Tây Nam Bộ,
bao gồm: An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ; Về thời gian: Thời gian sau thu hoạch lúa vụ Đông Xuân, năm 2018 và 2019
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
o Luận án đã xây dựng được một bộ hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí đặc trưng cho quá trình đốt hở rơm rạ tại khu vực đồng bằng
Trang 7Tây Nam Bộ, gồm 4 nhóm chính: (1) Bụi (TSP, PM10, PM2,5); (2) 16 PAHs trên bụi; (3) 10 VOCs và (4) một số chất khác (CO2, SO2 và
NO2), trên cơ sở đó đã xác định được mức độ phát thải các chất ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt hở rơm rạ và khả năng tác động của chúng tại khu vực nghiên cứu
o Luận án đã xác định được một số yếu tố đánh dấu, dưới dạng các
tỷ lệ chẩn đoán, để nhận dạng nguồn đốt rơm rạ với các dạng nguồn khác
Ý nghĩa thực tiễn:
o Các kết quả về bộ hệ số phát thải thu được là nguồn dữ liệu quan trọng cho việc nghiên cứu kiểm kê phát thải, giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời góp phần giúp các nhà quản lý có những quyết định cần thiết trong việc nâng cao giải pháp bảo vệ môi trường và sức khỏe con người
5 Đóng góp của luận án
- Đã xây dựng được một bộ hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí đặc trưng cho quá trình đốt hở rơm rạ tại khu vực đồng bằng Tây Nam Bộ Bộ hệ số phát thải bao gồm 4 nhóm chất là những tác nhân chính gây ô nhiễm không khí và có độc tính, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người: (1) Bụi với các dải kích thước khác nhau (TSP, PM10,
PM2,5); (2) 16 PAHs trên bụi; (3) 10 VOCs và (4) Một số chất khác (CO2, SO2 và NO2) Bộ hệ số phát thải thu được có thể được áp dụng cho các nghiên cứu, hoạt động kiểm kê phát thải nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động này lên mức cao hơn (Tier 2) theo hướng dẫn của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu Từ đó, luận
án đã xác định được mức độ phát thải các chất ô nhiễm không khí từ hoạt động đốt hở rơm rạ ngoài đồng ruộng tại vùng Tây Nam Bộ
- Đánh giá được khả năng tác động của hoạt động đốt rơm rạ đến chất lượng không khí tại khu vực nghiên cứu
- Đã xác định được một số yếu tố đánh dấu (marker), dưới dạng các
tỷ lệ chẩn đoán B[a]A/(Fth, Pyr, B[a]A, Chr, B[k]F, B[b]F, B[a]P, I[1,2,3-cd]P và B[ghi]P), Fth/(Fth+Pyr) và B[a]A/(B[a]A+Chr), để nhận dạng nguồn đốt rơm rạ Đây là một phương pháp rất hữu hiệu để phân biệt nguồn đốt rơm rạ với các dạng nguồn khác
5 Nội dung nghiên cứu: Các nội dung chính của luận án gồm:
- Xác định đặc điểm và đặc tính hóa học của các chất phát sinh từ hoạt động đốt rơm rạ;
Trang 8- Xây dựng bộ hệ số phát thải từ hoạt động đốt rơm rạ trên đồng ruộng tại miền Tây Nam Bộ;
- Kiểm kê phát thải từ hoạt động đốt rơm rạ tại vùng đồng bằng Tây Nam Bộ;
- Đánh giá khả năng tác động của hoạt động đốt hở rơm rạ đến chất lượng không khí tại miền Tây Nam Bộ
- Xác lập được một số yếu tố đánh dấu để phân biệt nguồn đốt rơm rạ với các dạng nguồn khác
6 Cấu trúc của luận án
Luận án được cấu trúc bao gồm các nội dung chính như sau: Mở đầu; Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu; Chương 2 Phương pháp nghiên cứu; Chương 3 Kết quả và thảo luận; Kết luận và kiến nghị
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đốt rơm rạ và vấn đề ô nhiễm không khí
Đốt rơm rạ là thói quen phổ biến của phần lớn người nông dân nhằm làm sạch đồng ruộng, tiết kiệm chi phí chuẩn bị cho vụ thu hoạch tiếp theo Gần 90% sản lượng lúa gạo toàn cầu tập trung ở châu Á với sản lượng cao nhất theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam và Thái Lan
Việt Nam là quốc gia xếp thứ năm trong số các quốc gia sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới theo số liệu FAO 2018 Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2014, Việt Nam đã xác định tỷ lệ đốt lên đến 98% trong vụ đông xuân Hiện nay, ở Việt Nam có hai hình thức đốt rơm rạ bao gồm đốt đống (thường diễn ra tại miền Bắc) và đốt rải (thường thấy ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long)
Đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng là một quá trình đốt cháy không kiểm soát thường được chia thành ba giai đoạn cơ bản là: Đánh lửa (quá trình gia nhiệt), cháy có ngọn lửa (cháy bùng phát) và cháy âm ỉ Tác động của hoạt động đốt rơm rạ đến chất lượng không khí: (i) quy
mô địa phương; (ii) quy mô khu vực và (iii) quy mô toàn cầu
1.2 Hệ số phát thải
Hệ số phát thải (Emmision Factor, EF) là một đại lượng thể hiện mối liên hệ giữa lượng chất ô nhiễm phát thải từ một nguồn với các hoạt động phát thải ra các chất đó và thường được thể hiện dưới dạng khối lượng chất ô nhiễm trên một đơn vị khối lượng, thể tích, quãng đường hoặc thời gian của hoạt động phát thải ra nó Các phương pháp xác định hệ số phát thải bao gồm: (1)Phương pháp xác định tại phòng thí
Trang 9nghiệm (Laboratory measurement methods); (2) Phương pháp cân bằng cacbon (Carbon mass balance method); (3) Phương pháp mô hình phân tán (Dispersion modeling); (4) Phương pháp sử dụng chất đánh dấu khí quyển (Atmospheric tracer technique); (5) Phương pháp profin thẳng đứng (Vertical profiling method) và (6) Phương pháp sử dụng công nghệ LIDAR (LIDAR technology, Laser Imaging Detection and Ranging- Cảm biến hình ảnh bằng lase) Trong các phương pháp trên thì phương pháp xác định tại phòng thí nghiệm đang được áp dụng phổ biến hơn cả Tuy nhiên đối với phương pháp này khó có thể mô tả chính xác về điều kiện đốt và xác định được các yếu
tố ảnh hưởng Để mô tả chính xác quá trình cháy, điều kiện và phương thức đốt, phương pháp cân bằng cácbon khả thi hơn cả Phương pháp này tính toán lượng cacbon thải ra từ quá trình đốt hở rơm rạ bao gồm:
CO2, CO, CH4, NMHC và hạt bụi chứa cacbon, dựa trên sự khác biệt
về cácbon đo được trước và sau khi đốt Sau đó, hệ số phát thải của các chất khác được xác định bằng cách sử dụng tỷ lệ đóng góp ròng của chất quan tâm so với chất tham chiếu, CO2 hoặc CO, được đo đồng thời trong khói thải Reid và cộng sự (2004) đã khuyến nghị sử dụng
CO2 làm chất tham chiếu cho quá trình tính toán nếu hiệu suất đốt cháy hiệu chỉnh MCE (MCE = CO2/CO+CO2) có giá trị lớn hơn 0,9 (đám cháy có ngọn lửa) và sử dụng CO làm chất tham chiếu nếu MCE có giá trị nhỏ hơn 0,9 ( đám cháy âm ỉ)
1.3 Kiểm kê phát thải
Hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau thực hiện kiểm
kê phát thải như tiếp cận từ trên xuống hoặc tiếp cận từ dưới lên Trong
đó phương pháp tiếp cận dựa vào hệ số phát thải được cho là có độ chính xác hơn cả Kết quả xác định bộ hệ số phát thải sẽ là đầu vào cho việc tính toán kiểm kê phát thải từ quá trình đốt hở rơm rạ
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
Trang 10Luận án đã thực hiện xây
dựng bộ hệ số phát thải các
chất ô nhiễm từ quá trình
đốt hở rơm rạ theo phương
thức đốt rải được thực hiện
tại miền Tây Nam Bộ bằng
phương pháp cân bằng
cácbon và tỷ lệ phát thải
Phương pháp này tính toán
lượng cacbon thải ra từ quá
trình đốt hở rơm rạ bao
gồm: CO2, CO, CH4,
NMHC và hạt bụi chứa
cacbon, dựa trên sự khác
biệt về cácbon đo được
trước và sau khi đốt Sau
đó, hệ số phát thải của các
chất khác được xác định
bằng cách sử dụng tỷ lệ
đóng góp ròng của chất
quan tâm so với chất tham
chiếu, CO2 hoặc CO, được đo
đồng thời trong khói thải
Reid và cộng sự (2004) đã
khuyến nghị sử dụng CO2 làmchất tham chiếu cho quá trình tính toán nếu hiệu suất đốt cháy hiệu chỉnh MCE (MCE = CO2/CO+CO2) có giá trị lớn hơn 0,9 (đám cháy có ngọn lửa) và sử dụng CO làm chất tham chiếu nếu MCE có giá trị nhỏ hơn 0,9 ( đám cháy âm ỉ).Các giai đoạn của quá trình nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ khung được trình bày trong Hình 2.1
2.2 Khảo sát xác định vị trí và thời gian quan trắc
2.2.1 Vị trí quan trăc
Nghiên cứu thực hiện tại 4 tỉnh đại diện của đồng bằng sông Cửu Long bao gồm An Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ
2.2.2 Thời gian quan trắc
Vụ đông xuân năm 2018 và năm 2019 vì đây là vụ được khảo sát là có
tỷ lệ đốt cao nhất so với 2 vụ còn lại
Hình 2.1 Quy trình thực hiện
nghiên cứu
Trang 12Hình 2.6 Sơ đồ phương pháp và thiết bị quan trắc tại hiện trường
OFP = MIR × [VOCs] (μg/m3 ) (2.19)
Trong đó: OFP: tiềm năng hình thành ozon (μg/m3 O3); MIR: tỉ lệ gia tăng phản ứng tối đa, đặc trưng cho từng chất (g O3/gVOC); [VOCs]: nồng độ VOCs đo được (μg/m3)
Trang 13Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Hệ số phát thải của các chất ô nhiễm không khí
Bảng 3.3 Hệ số phát thải của PM và so sánh với các nghiên cứu khác
54,6±35,4 [68]
3.1.3 Hệ số phát thải của PAHs trên bụi
EF của PAHs đơn lẻ và tổng 16 PAHs trên PM10 và TSP của nghiên cứu này đồng nhất với các báo cáo của các nghiên cứu trước đây Theo phân loại của Cục bảo vệ môi trường của Mỹ 16 PAHs trong nghiên cúu này được sắp xếp theo số vòng benzen như sau: PAH có 2
Trang 14vòng benzen gồm: Nap; PAHs 3 vòng gồm: Acy, Ace, Flu, Phe, Ant; PAHs 4 vòng gồm: Pth, Pyr, B[a]A, Chr, PAHs 5 vòng gồm: B[b]F, B[k]F, B[a]P, D[ah]A và PAHs 6 vòng gồm: Ind, B[ghi]P Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ PAHs 4 vòng chiếm ưu thế (74%) trong khi đó PAHs 2 vòng và 6 vòng chiếm tỷ lệ thấp nhất (1%) trên cả TSP
và PM10 PAHs có 5 vòng benzen chiếm 20% lớn hơn tỷ lệ của PAHs
3 vòng (4%) Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Yadav và cộng sự (2018), S Kaur và cộng sự (2021) với tỷ lệ PAHs 4 vòng > 5 vòng > 3 vòng > 6 vòng > 2 vòng
Bảng 3.4 Hệ số phát thải của PAH trên bụi và so sánh với các nghiên
0,05 d
Flu 0,02± 0,00 0,02 ± 0,00 0,703 ± 0,375
a ; 3,4 ± 2,9 b ND Phe 0,16± 0,04 0,17 ± 0,03 1,833 ± 0,531
a , 6,95 c
0,02 ± 0,05 d
Ant 0,08± 0,02 0,08 ± 0,02 0,316 ± 0,091a;
1,75 c
0,01 ± 0,01 d
Fth 6,58± 1,49 6,66 ± 1,28 0,487 ± 0,085
a ; 2,47 c
0,49 ± 0,75 d
Pyr 1,12± 0,25 1,13 ± 0,22 0,337 ± 0,022
a ; 2,2 b ; 2,43 c
0,26 ± 0,27 d
B[a]A 0,70± 0,16 0,71 ± 0,14 0,119 ± 0,076
a ; 1,2 ± 1,2 b ; 0,68 c
0,11 ± 0,14 d
Chry 0,91± 0,21 0,92 ± 0,18 0,136 ± 0,088
a ; 1,0 ± 0,6 b ; 0,67 c
0,15 ± 0,17 d
B[b]F 1,26± 0,28 1,34 ± 0,26 0,117 ± 0,084
a ; 0,7 ± 0,4 b ; 0,51 c
0,12 ± 0,11 d
B[k]F 0,20± 0,04 0,20 ± 0,04 0,076 ± 0,081
a ; 0,2 ± 0,1 b ; 1,31 c
0,05 ± 0,04 d