Các dân tộc thiểu số củaViệt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồngthời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
a Khái quát về lý luận
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người,
là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói vàngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc.Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc Các dân tộc thiểu số củaViệt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồngthời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc,đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí, thông tin thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phúthêm cho nền văn hoá của người thiểu số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh
tế và vị thế của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh
em Có thể nói rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộngđồng song ngữ” - tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngônngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học.Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vàokhả năng tiếng Việt của học sinh Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số khi tới trường, lớp mầmnon đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt
Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi họcphát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ V.ILênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Do
đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngônngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ Muốn nói được, muốngiao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hìnhthành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan trọngbởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm ;công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội
b Khái quát về thực tiễn:
Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp vàthu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ dàng songđối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáo dục cầnphải có những biện pháp phù hợp
Đặc biệt ở trường mầm non Sơn Hà, chúng tôi các cháu 100% là dân tộc thái
Trang 2chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ
ra khỏi lớp học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụngthường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng Việt giaotiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữriêng của dân tộc mình Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc Giáo Dục trẻ khôngthể đạt được kết quả như mong muốn
Thông qua các hội thi các cấp cho thấy trẻ dân tộc thiểu số trong nhà trường đạtkết quả rất thấp so với mặt bằng chung
Với nội dung chỉ chú trọng tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị vàolớp 1 như hiện nay theo tôi là muộn và chưa đủ so với yêu cầu thực tế trong công tác giáodục của nhà trường Bởi trong quá trình học ở các lớp dưới trẻ chưa thành thạo tiếng việtnên việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết những yêu cầu hay những cuộctrò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích cực, chủ động của trẻ Trẻ nói không rõràng về ngôn ngữ và kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ còn khó khăn
Thực tế tại nhà trường trẻ từ 0 – 2 tuổi đi học đạt khoảng 16 - 20%, còn lại 3 tuổitrẻ ra lớp đạt 100% Bắt đầu đi học cũng là lúc trẻ bắt đầu học ngôn ngữ thứ hai Loạingôn ngữ giúp trẻ giao tiếp, tiếp nhận tri thức, bày tỏ những quan điểm của riêng mình,song song cùng học ngôn ngữ là trẻ học tri thức, vì vậy có phát triển ngôn ngữ tiếng Việtmạch lạc càng sớm thì trẻ mới tiếp nhận tri thức một cách tốt nhất và đảm bảo nhất
Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầucấp thiết đặt cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệnsứng tầm với quy mô phát triển của huyện quan sơn Tôi nhận thấy cần có những biện pháp
bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ 4 - 5 tuổi
Với lý do trên tôi chọn đề tài " Một số biện pháp tăng cường phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 4 – 5 tuổi ở lớp mẫu giáo nhỡ trường mầm non Sơn Hà"
Đây cũng là một sáng kiến tôi đưa ra còn mới với nhà trường song tôi mong rằng sẽ được
áp dụng trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
1.2.Mục đích nghiên cứu
Tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thực trạng của việc
Tăng cường phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 4 – 5 tuổi và áp dụng các giảipháp để nâng cao vốn tiếng Việt cho trẻ 4 – 5 tuổi dân tộc thiểu số tại nhà trường Qua đóvận dụng những kiến thức có sẵn và qua học hỏi để nghiên cứu và áp dụng các giải phápvào chăm sóc giáo dục phù hợp giúp trẻ phát triển một cách hài hoà và bắt kịp với chấtlượng giáo dục chung trong chương trình giáo dục mầm non
Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻ đượcphát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngay khi trẻ bước chânvào trường Mầm non và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ của mình với những người
Trang 3xunh quanh một cách tốt nhất Tôi mong rằng trẻ thành thạo tiếng Việt sớm hơn và từ đótrẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ ràng và đầy đủ nhất và đó sẽ là một lý do để nhà trườngnâng cao chất lượng giáo dục đây cũng là một nền móng tốt cho trẻ phát triển một cáchtoàn diện.
1.3 Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu trẻ 4 – 5 tuổi ở lớp mẫu giáo nhỡ trường mầm non Sơn Hà
1.4 Phương pháp ngiên cứu:
- phương pháp kiểm tra đánh giá
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trực tiễn
- Phương pháp thực hành trãi nghiệm
1.5 Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
Đây là sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện và áp dụng lần đầu
Bằng một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổidân tộc thiểu số tai trường Mầm non Sơn Hà như: Cung cấp tiếng việt cho trẻ mọi lúcmọi nơi, trẻ học tiếng Việt đảm bảo theo một trình tự nhất định từ dễ đến khó, từ đơngiản đến phức tạp Có ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài dạy, vào các hoạt độngngoài giờ nhằm phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ Hình thành sự tự tin cho trẻ vì khitrẻ tự tin trẻ dễ dàng học hỏi, dễ dàng bày tỏ những suy nghĩ, chia sẻ hiểu biết của mìnhbằng tiếng việt với cô và bạn bè Lựa nội dung giáo dục phù hợp với đối tượng với điềukiện thực tế của trẻ của nhà trường và lớp học
Nhằm nâng cao chất lượng ngôn ngữ trong giao tiếp, trong diễn đạt tiếng việt củatrẻ một cách tốt nhất
Giúp trẻ tự tin, mạnh dạn thể hiện hiểu biết của mình bằng cách sử dụng ngôn ngữtiếng việt một cách thành thạo sớm nhất
2.NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại,phát triển của xã hội loài người Là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sởcủa mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy
Đối với trẻ em dân tộc ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũng đặc biệt quantrọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là công cụ để trẻgiao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh thông quangôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu nhữngđặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và
Trang 4hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đãđược hình thành
Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất vàcần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộc thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngônngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp với xã hội Do đó bắt buộc trẻ phải họcngôn ngữ thứ hai khi bước vào ngưỡng cửa trường mầm non với một hình thức giống vớitiếng mẹ đẻ, nhưng với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn Trẻ họcngôn ngữ tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủngôn ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau màngười nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến người nghe;đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên hoặc truyền bá trithức
2.2 Thực trạng vấn đề
a Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến.
Trường nằm trong trung tâm Xã Sơn Hà là một xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn củaHuyện Quan Sơn, trong đó dân tộc chiếm chủ yếu trên 90% Tập quán sinh hoạt còntương đối lạc hậu Nhân dân sinh sống chủ yếu là nghề nông nghiệp Là xã đặc biệt khókhăn trên địa bàn nên thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp Hộ đói nghèo vẫn còncao địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong xã chưa thông thạo tiếng phổ thông,
cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được quan tâm đầu tư song vẫn chưa đáp ứng đượcyêu cầu sinh hoạt của người dân
Nhà trường có 3 điểm bản : Bản Hạ, bản Lầu, Bản Xum
Ảnh : Trường mầm non Sơn Hà ( Khu Hạ)
Trang 5Ảnh : Điểm trường khu Lầu , Khu Xum
* Đặc điểm tình hình lớp học
- Tổng số học sinh: 18 cháu ( Trong đó Nam: 13 ; Nữ: 5)
- Tổng số giáo viên: 2 cô (Trình độ chuyên môn: Đại học )
- Lớp thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non
- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ cho côngtác giáo dục
b.Thực trạng của đề tài:
* Thuận lợi:
Bản thân là giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn với năng lực chuyênmôn vững vàng, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ Có khả năng tiếp thu những kinh nghiệm vàvận dụng vào giảng dạy một cách linh hoạt, có nhiều ý tưởng, luôn mong muốn có nhữnggiải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường đó là một thuận lợi lớntrong việc thực hiện đề tài
Lớp học rộng rãi, thoáng mát đảm bảo cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ, lớphọc có ti vi, đàn ocgan, nhà trường có máy trình chiếu có thể kết nối với máy tính xáchtay, lớp được trang bị các tài liệu, sách truyện để làm tài liệu dạy
Bản thân đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Trang 6Trẻ trong lớp có cùng độ tuổi, sĩ số học sinh đảm bảo phù hợp với điều kiện củalớp và nhà trường, tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và trò chuyện
Trẻ nghe và hiểu một số yêu cầu của cô: Đứng lên, ngồi
xuống, đi ra ngoài, vào lớp, đi vệ sinh, 9 50 % 9 50%
Trẻ biết một số từ đơn giản trong giao tiếp diễn đạt
những yêu cầu, mong muốn của bản thân như chào hỏi,
mời cô và các bạn ăn cơm, xin đi vệ sinh, xin cô uống
Trang 7Với đặc thù trường có 100% trẻ học là dân tộc thiểu số, Tiếng Việt không phảitiếng mẹ đẻ nên việc học tập và trao đổi trò chuyện với cô và bạn bè còn nhiều hạn chế.
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệu dànhriêng giáo viên dạy vùng Dân tộc Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang bị kiếnthức về đối tượng học sinh
Đa số phụ huynh chưa thành thạo tiếng Việt, việc chao đổi trò chuyện với trẻbằng tiếng phổ thông tại gia đình trẻ chưa có chú trọng
40% trẻ trong lớp học qua lớp nhà trẻ song tỉ lệ chuyên cần chưa cao, giáo viênchưa chú trọng vào việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ
2.3 các giải pháp thực hiện
Để khắc phục những khó khăn trên tôi đã thực hiện như sau:
- Bản thân đã căn cứ vào nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ trong chương trìnhGDMN Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăng cường tiếngcho trẻ em dân tộc Tôi luôn chú ý đến khă nằng nghe nói tiếng việt đối với trẻ nhóm lớpmình phụ trách
Ảnh : Giờ tăng cường Tiếng Việt tại các góc
- Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 – 5 tuổi
Trang 8- Có các giải pháp hướng dẫn trẻ học tiếng Việt một cách linh hoạt, phù hợp vớikhả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương và khả năng nhậnthức của trẻ trong lớp.
- Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet, dựgiờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm
- Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy tiếng phổthông cho trẻ
Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành tiếng Việt một cách tốt nhất tôikiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nộidung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫpdẫn giúp trẻ học tiếng việt có hiệu quả vì vậy tôi đưa ra các biện pháp sau:
* Biện pháp1: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mầm non trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứhai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp thu kiếnthức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật khó đối vớitrẻ Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng nghe hiểu lời nóicủa cô
Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt Yêu cầuđối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không hiểunghĩa Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ vật, bằngngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễdàng và hiểu một cách chính xác vấn đề
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗiđược vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con gì”đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả lời, và
cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối tượng tôithường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi
Trang 9Ảnh : Quan sát và đàm thoại một số on vật ở góc chơi
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễ hiểukết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ: Ví dụ: Khitrẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện nói “ Cháu chàocô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn, quần áo, bát đĩa, tên đồdùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ phải thực hiện ví dụ: con hát nào,con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vậtthật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ ngắn gọn, dễhiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ
Trang 10Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ
‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng
tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một
số câu từ trong những đoạn video, clip đó
Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị cấutrúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay từ nhữngngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữtiếng Việt Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biếtnhững điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳdiệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học
Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùngtrẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung cô cần truyền đạt
Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nóingọng
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ, ca dao,đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính xác và
có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn đề tài này cần phải chútrọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả phù hợp với nộidung và đối tượng vùng miền
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúptrẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép Cáchoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sửdụng tiếng Việt Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tậptiếng Việt cho trẻ em Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm nhữngtrò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạytrẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Trang 11Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to Để 3 cái hộp rỗngvào Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác Cô nói với Trẻ: “Con
Trang 12tưởng tượng xem, đây là biển nhé Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền đi Con hítsâu vào rồi thổi mạnh đi!” Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và khuyến khích trẻthực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi:
“Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô chotrẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xétcách chơi của các bạn cùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ chonhững con thuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhấtnhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”, “thuyền
đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô và các bạn
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc,đường, bột, hạt cườm…) Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như nhau
để âm thanh trùng nhau chính xác Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác biệt vớiđôi khác Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ Cô lắc “Hộp” bất kì, còn trẻ cần tìmtrong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế Cô tăng dần số lượng hộp Cô nghĩ
ra những tên gọi lí thú cho những dụng cụ đó: Tiếng ồn, quả bom, lúc lắc, lạo sạo… trẻđược chơi cả lớp và yêu cô yêu cầu cá nhân lên chọn “Hộp” cả lớp cùng nhắc giúp bạnvới sự gợi ý của cô Cô nói các con chú ý xem chiếc “Hộp” này có tiếng kêu thế nào ? aigiỏi lên tìm hộp có tiếng kêu giống hộp của cô nào Trẻ sẽ phải lắc các hộp để tìm cùngvới sự chỉ dẫn của các bạn “ Hộp này, hộp kia, đúng rồi, sai rồi, tìm đi, lắc hộp đi…” đó
là những từ được nhắc nhiều trong trò chơi, trẻ cổ vũ, chỉ dẫn cho bạn, đây cũng là cáchtrẻ được học những từ mới mà không cần cô chỉ dẫn song vẫn đạt yêu cầu… trẻ em rấtthích điều đó
- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi không trong suốt để không nhìnthấy được những vật dụng bên trong túi Cho vào đó những đồ vật hình oval và hình tròn(trứng, quả bóng nhỏ, bóng lục lạc, cái hộp…) Trước khi cô cho những vật trên vào bao,hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật đó Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiếtqua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt thần kì đó Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóngxem nào!” (hoặc vật khác) Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Cóthể chơi bóng như thế nào nhỉ?”
- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để giáoviên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng của mình vàgiúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ nêu tên tất cả những đồvật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên cô, tên các đồ dùng đồ chơi
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và mởrộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác thường chẳnghạn: hoa nở ơr sân trường, trời mưa rất to, bạn Lan có váy mới…
Trang 13* Biện pháp2: Trực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới(ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và tựnhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng Phương pháp này được ápdụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau Với phương pháp này, người họcđược sử dụng tích cực các giác quan và vận động của cơ thể trong suốt quá trình tham giavào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới Các kỹ năng nghe - quan sát - phảnhồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập Phươngpháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động