Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: a Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi
Trang 1Phân tích trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015
A MỞ ĐẦU
Tiếp tục hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật phục vụ cho công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội được coi là một trong những nhiệm
vụ cấp bách của nhà nước ta hiện nay, tiến tới xây dựng một nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân vì dân Muốn thực hiện nhiệm vụ đó chúng ta phải phát huy dân chủ, giữ vững kỉ cương, tăng cường pháp chế.Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, định hướng đó đòi hỏi thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội
Trong pháp luật hính sự, các tình tiết có vai trò quan trọng trong việc xác định và
xử lí tội phạm Nếu thiếu đi những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến định tội danh không đúng, không phù hợp Trong số đó, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt Đây cũng là nội dung quan trọng trong việc sửa đổi
bộ luật hình sự năm 2015 Với những lí do nêu trên, cả về lí luận và thực tiến áp dụng pháp luật, tác giả chọn đề tài: “Phân tích trường hợp miễn trách nhiệm hình
sự theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015” làm đề tài tiểu luận của mình Bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2B NỘI DUNG
I Những vấn đề lí luận chung
1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự.
a Khái niệm
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi
mà cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu do đã thực hiện hành vi phạm tội, được thực hiện ở bản án kết tội có hiệu lực của Tòa án, hình phạt, các biện pháp cưỡng chế hình sự khác do Bộ luật hình sự quy định và mang án tích
b Đặc điểm
Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý khi cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội
Thứ hai, chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội
Thứ ba, trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân của người phạm tội trước nhà nước
Thứ tư, trách nhiệm hình sự được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự
Thứ năm, trách nhiệm hình sự được phản ánh trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Tòa án
2 Miễn trách nhiệm hình sự
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã phạm Khác với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình
sự, hành vi của người phạm tội trong trường hợp này đã bị coi là tội phạm, nhưng
do có điều kiện nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự mà người phạm tội được miễn, không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi
Trang 3Căn cứ Điều 29 BLHS 2015 về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:
1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi có quyết định đại xá
2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn
cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận
3 Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự quy định hai loại điều kiện miễn trách nhiễm hình sự: Bao gồm các điều kiện chắc chắn miễn trách nhiệm hình sự ( khoản 1 Điều 2 BLHS 2015) và Các điều kiện được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự khi kể hợp với những điều kiện khác ( khoản 2,3 Điều 29 BLHS 2015)
II Phân tích trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015
Căn cứ Khoản 2 Điều 29 BLHS 2015 về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:
Trang 42 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn
cứ sau đây:
a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận
Đây là trường hợp không đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự Ngoài căn
cứ được quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự thì đòi hỏi phải có sự đánh giá một cách toàn diện tất cả các tình tiết của vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng về trường hợp nào được miễn, trường hợp nào không được miễn
Cụ thể, có các trường hợp sau:
Thứ nhất, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
Nếu như trước đây, căn cứ theo qui định của Bộ luật hình sự 1999 thì đây chính là trường hợp người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên qui định này hoàn toàn không phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng, việc đương nhiên được miễn trách nhiệm phải dựa vào một căn cứ, qui định
rõ ràng, được cụ thể hóa bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật vì có như vậy mới ràng buộc được nghĩa vụ tuân thủ của các chủ thể liên quan cũng như bảo vệ được quyền của người phạm tội Nhưng xuất phát từ căn cứ áp dụng là dựa trên sự chuyển biến của tình hình thì chắc chắn một điều rằng là chúng ta không thể dự liệu được một cách chính xác, tình hình có sự chuyển biến là sự thay đổi, vận động của cả một hệ thống các yếu tố, lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, pháp luật … hoặc sự chuyển biến có thể biểu hiện ở một lĩnh vực, khía cạnh nào
đó của đời sống xã hội mà làm cho người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Như vậy có thể thấy, Bộ luật hình sự 1999 đã luật hóa căn cứ này thành quyền đương nhiên được hưởng miễn trách nhiệm hình sự nhưng hoàn toàn không
có một văn bản, qui định để chi tiết, cụ thể hóa sự chuyển biến của tình hình là như thế nào để xác định việc áp dụng cho 2người phạm tội Bên cạnh đó, vì là sự chuyển biến nên chắc chắn sẽ có sự thay đổi liên tục, biến hóa theo từng thời điểm,
Trang 5trình độ nhận thức, đánh giá nên không thể áp khung một vật thể chuyển động để
áp dụng cho một trường hợp
Chính vì vậy mà trong Bộ luật hình sự hiện hành, việc các nhà làm luật đã điều chỉnh căn cứ này từ đương nhiên được hưởng thành có thể được hưởng Sự có thể
ở đây phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là các yếu tố của tình hình đời sống xã hội
và hơn hết là sự tùy nghi áp dụng căn cứ trên cơ sở nhận thức, nhìn nhận chủ quan của các cá nhân, tổ chức trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tội phạm
Do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, về lý luận cũng như thực tiễn tuy có một số trường hợp khó xác định nhưng không khó bằng trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng rất ít áp dụng trường hợp này để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội Cũng có ý kiến cho rằng, khi phạm tội họ là người nguy hiểm cho xã hội nhưng sau đó họ biết ăn năn hối cải, nỗ lực phấn đấu để trở thành người tốt, có ích cho xã hội và xã hội rất cần họ thì nên coi là do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa để miễn trách nhiệm hình sự cho họ Như vậy, có thể hiểu sự chuyển biến ở đây là do cá nhân của người phạm
tội Tuy nhiên, cũng có luồng quan điểm cho rằng“chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” phải được hiểu rằng bản
thân người phạm tội không có sự biến đổi nào, khi phạm tội họ là người như thế nào thì vẫn như vậy nhưng do tình hình kinh tế, xã hội, hoàn cảnh cụ thể thay đổi nên họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Nguyên nhân làm cho họ không còn nguy hiểm cho xã hội nữa chính là do tình hình thay đổi chứ không phải do nỗ lực của bản thân họ
Mặc dù trong thực tiễn, những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa rất ít xảy ra nhưng trên thực tế không phải là không có
Cũng được coi là do chuyển biến tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa trong trường hợp người phạm tội phải thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt mà thiếu họ thì nhiệm vụ đó khó hoàn thành, nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã miễn trách nhiệm hình sự cho họ để họ nhận nhiệm vụ đặc biệt đó
Thứ hai, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa.
Trang 6Đây là quy định mới mà Bộ luật hình sự năm 1999 chưa có Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa là người mắc một trong các bệnh mà y học coi đó là bệnh hiểm nghèo như bị Ung thư, teo não, HIV ở giai đoạn AIDS, nhiễm vi rút kháng thuốc như NDM-1, Lao phổi ở giai đoạn cuối, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não… ( Nghị định 134/2016 đã quy định cụ thể các bệnh hiểm nghèo)
Tuy nhiên, không phải trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo nào cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự, mà phải có thêm điều kiện là: không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa như phải nằm liệt giường có người chăm sóc, tức là họ không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa thì mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự Còn đối với người tuy mắc bệnh hiểm nghèo nhưng họ vẫn còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội thì không được miễn trách nhiệm hình sự
Thứ ba, trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận
Tự thú là tự khai ra hành vi phạm tội của mình với các nhà chức trách Việc người phạm tội tự khai ra hành vi phạm tội của mình với các nhà chức trách là biểu hiện của sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình nên đáng được khoan hồng, nhưng mức độ khoan hồng tới đâu thì lại phải căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả
đã xảy ra; thái độ khai báo; sự góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm
Như vậy, người tự thú có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ những điều kiện sau:
Tội phạm mà người tự thú đã thực hiện chưa bị phát hiện, tức là chưa ai biết
có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm
Trang 7 Người tự thú phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác, không giấu giếm bất cứ một tình tiết nào của vụ án, giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm như: chỉ nơi ở của người đồng phạm khác hoặc dẫn cơ quan điều tra đi bắt người đồng phạm đang bỏ trốn, thu thập các dấu vết của tội phạm, thu hồi tang vật, Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì không được coi là tự thú để làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
Cùng với việc tự thú, người tự thú phải cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: trả lại tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe dọa tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những nguồn nguy hiểm mà họ đã tạo ra cho người khác hoặc những lợi ích khác
Ngoài việc tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện
và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm thì họ còn phải lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận thì mới có thể được miễn trách nhiệm hình sự Các điều kiện quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 29 BLHS là những điều kiện cần và đủ để các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét có miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội hay không, nếu thiếu một trong những điều kiện trên thì không được xem xét miễn trách nhiệm hình sự
III Đề xuất, kiến nghị
Chế định miễn trách nhiệm hình sự khi áp dụng vào thực tiễn còn bộc lộ những vướng mắc như: Hiểu thế nào là sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; thế nào là chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; người phạm tội mắc
Trang 8bệnh hiểm nghèo ở giai đoạn nào được xem là không còn nguy hiểm cho xã hội Việc lập công như thế nào được xác định là lập công lớn Cống hiến như thế nào là cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội công nhận Hiện nay còn có những cách hiểu và áp dụng khác nhau
TANDTC cần có văn bản hướng dẫn để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách chính xác, thống nhất giúp cho những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…) nhận thức đầy đủ về căn cứ, điều kiện
áp dụng cho từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở đó ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chính xác, không
bỏ lọt tội phạm, tránh làm oai sai, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 9C KẾT LUẬN
Như vậy, thông qua bài phân tích trên, ta hoàn toàn có thể thấy thành tựu lập pháp của nước ta trong việc miễn trách nhiệm hình sự đối với tội phạm Bên cạnh
những ưu điểm vượt trội ,chế định miễn trách nhiệm hình sự vẫn còn tồn tại một số thiếu sót, hạn chế Trong điều kiện nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần có những phương pháp hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự cũng như các quy định của Bộ luật hình sự như sửa đổi, bổ sung các điều khoản sao cho phù hợp với tình hình thực tại của đất nước, tăng cường tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết của người dân, trình độ của hệ thống cơ quan xét xử Từ đó, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nước nhà, xây dựng nhà nước ta ngày một vững mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam ( phần chung),trường Đại học Kiểm sát
Hà Nội TS Mai Đắc Biên chủ biên, nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
2 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nhà xuất bản lao động
3. https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/noi-dung-va-dieu-kien-ap-dung-mien-trach-nhiem-hinh-su-duoc-quy-dinh-tai-dieu-29-blhs-nam-2015
4. https://hocluat.vn/cac-dac-diem-cua-trach-nhiem-hinh-su/#:~:text=Tr
%C3%A1ch%20nhi%E1%BB%87m%20h%C3%ACnh%20s%E1%BB
%B1%20l%C3%A0%20tr%C3%A1ch%20nhi%E1%BB%87m%20c
%C3%A1%20nh%C3%A2n%20c%E1%BB%A7a,h%C3%A0m%20ch
%E1%BB%A9a%20hai%20n%E1%BB%99i%20dung.&text=M%E1%BB
%99t%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20khi%20ph%E1%BA%A1m%20t
%E1%BB%99i,TN%20v%E1%BB%81%20vi%E1%BB%87c%20ph
%E1%BA%A1m%20t%E1%BB%99i
5. https://kiemsat.vn/diem-moi-ve-mien-trach-nhiem-hinh-su-theo-dieu-29-blhs-2015-47064.html
6. Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ)