1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CVv482S202019008

8 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 599,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI NĂM 2018-2019 Nguyễn Xuân Hoàng*, Phạm Thị Tâm Trường Đại học Y Dược Cần Thơ *

Trang 1

TÌNH HÌNH BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU

TRỊ TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG NAI

NĂM 2018-2019

Nguyễn Xuân Hoàng*, Phạm Thị Tâm

Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

*Email: bshoangntk@gmail.com

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chấn thương sọ não(CTSN) là một chấn thương thường gặp ở khoa cấp cứu, là nguyên

nhân chính gây tử vong ở người bệnh chấn thương do tai nạn [11] Việc sơ cấp cứu trước viện, bao gồm

xử trí và vận chuyển, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống còn của người bệnh, nhất là chấn thương sọ não nặng Mục

tiêu nghiên cứu: tìm hiểu một số đặc điểm bệnh nhân CTSN, tình hình sơ cứu và kết quả điều trị bệnh nhân

chấn thương sọ não Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 bệnh nhân CTSN tại Khoa Cấp Cứu Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai từ 01/4/2018 đến 31/03/2019 Kết quả: Nam

chiếm 74%, tuổi ≤60 tuổi chiếm 89,5%, với 38,5% có nồng độ Ethanol máu 0,5 mg/dL Nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn giao thông (71,5%) Tỉ lệ được sơ cứu 41%, được đưa vào viện trước 1 giờ 57,5%

Tỉ lệ CTSN nhẹ 72,2%, trung bình 17%, nặng 8,8% Tỉ lệ CTSN mức trung bình và nặng chiếm tỉ lệ cao ở nhóm có sử dụng bia rượu so với nhóm không sử dụng có ý ngĩa thống kê với p=0.0001 Kết quả điều trị tốt 82,5%, để lại di chứng 13%, tử vong 4,5% Kết quả điều trị tốt chiếm tỉ lệ cao có ý nghĩa thống kê ở

bệnh nhân vào viện trong vòng 1 giờ và được sơ cứu trước khi vào viện so với nhóm chứng Kết luận: Tăng

cường truyền thông cho người dân về việc giảm sử dụng rượu bia và kiến thức sơ cứu trước nhập viện đối với bệnh nhân CTSN là rất cần thiết

Từ khóa: Chấn thương sọ não, tai nạn giao thông, sơ cứu

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF HEAD INJURY PATIENTS HOSPITALIZED TO EMERGENCY DEPARTMENT AT DONG NAI GENERAL HOSPITAL

IN 2018- 2019

Nguyen Xuan Hoang, Pham Thi Tam Can Tho University of Medicine and Pharmacy Background: Head injury is one of common trauma at emergency room which is the main cause

of death in injury First-aid care, including pre-hospital management and pre-hospital transportation, has

the potential to affect the survival rate of cranial trauma patients, especially severe brain injury Objecties:

To describe characteristics, first aid management and treatment results in patients with traumatic brain

injury Materials and methods: This was a cross sectional study conducted on 400 patients admitted to emergency room at Dong Nai General hospital from 01/4/2018 to 31/03/2019 Results: Male accounted

for 74%, age of ≤60 accounted for 89.5% and 38.5% with blood Ethanol concentration of 0.5mg/dL The main reason was due to traffic accidents (71.5%) First aid rate was 41%, and being admitted to the hospital before 1 hour was 57.5% The degree of cranial injury: mild 72.2%, average 17%, severe 8.8% Moderate and severe accounted for a high proportion in the group using alcohol compared to the unused group with statistically significant (p = 0.0001) Treatment results without sequelae was 82.5%, leaving sequelae 13%, death 4.5% Proportion of results of good treatment results in patients who were hospitalized within 1 hour and received first aid before hospitalization was high compared to patients who had been hospitalized after

1 hour and were not statistically significant Conclusion: Increasing communication for people about

reducing alcohol consumption and first aid knowledge for CTSN patients is essential

Keywords: head injury, traffic accident, first aid

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 2

Chấn thương sọ não là một chấn thương thường gặp ở khoa cấp cứu, là nguyên nhân chính

để lại những di chứng nặng nề và gây tử vong ở các bệnh chấn thương[11] Nguyên nhân thường gặp nhất là do tai nạn giao thông (TNGT) Ở Châu Á, tử vong do tai nạn giao thông ở vào nhóm

10 nguyên nhân phổ biến nhất Ở Ấn Độ có 40.612 người chết do tai nạn giao thông năm 2007[12] [14] Mỗi năm có 1,5 tới 8 triệu người Mỹ bị chấn thương sọ não, trong đó khoảng 52.000 người

tử vong và 10.000 người mang di chứng suốt đời Một nghiên cứu mới nhất của đơn vị hồi sức thần kinh tại Philadelphia (Mỹ) thấy rằng cứ mỗi 15 giây tại Mỹ có một ca chấn thương sọ não Tại Việt Nam, hàng ngày các khoa Cấp cứu tiếp nhận người bệnh chấn thương sọ não với số lượng lớn Trong đó, chấn thương sọ não mức độ vừa và nặng chiếm một tỷ lệ đáng kể và có diễn biến phức tạp[3] Tại bệnh viện Việt Đức, mỗi năm điều trị 15.000 bệnh nhân và hơn 1.200 trường hợp

tử vong do chấn thương sọ não[4] Các trường hợp chấn thương sọ não này còn để lại nhiều di chứng về mặt tâm thần và thể chất cho người bệnh, cũng như gây nên gánh nặng về chi phí cho gia đình và xã hội[11], [13] Việc cấp cứu trước viện, bao gồm xử trí và vận chuyển có khả năng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống còn của người bệnh chấn thương sọ não, nhất là chấn thương sọ não nặng[3] Vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu về nguyên nhân, mức độ các loại tổn thương, cũng như quá trình sơ cứu, vận chuyển, và cách xử trí đối với người bệnh chấn thương sọ não, để

từ đó đưa ra những biện pháp dự phòng và cấp cứu thích hợp Do đó chúng tôi thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu tình hình bệnh nhân chấn thương sọ não đến khám và điều trị tại khoa Cấp cứu Bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2018-2019” với các mục tiêu :

- Mô tả đặc điểm của bệnh nhân CTSN tại khoa Cấp Cứu Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai

- Tìm hiểu tình hình sơ cứu, kết quả điều trị và tìm hiểu một số yếu tố liên quan kết quả điều trị bệnh nhân chấn thương sọ não

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các bệnh nhân chấn thương sọ não đến cấp cứu và điều trị tại khoa Cấp Cứu Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai

- Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ 01/4/2018 đến 31/03/2019

- Địa điểm nghiên cứu: khoa Cấp Cứu Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

- Cỡ mẫu nghiên cứu: 400 người bệnh chấn thương sọ não

- Phương pháp chọn mẫu: theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

- Nội dung nghiên cứu: Đặc điểm của bệnh nhân CTSN gồm tuổi, giới, nguyên nhân bị CNSN, sử dung rượu bia và mức độ CNSN, thời gian đến bệnh viện và tình hình được sơ cứu trước khi đến bệnh viện Kết quả điều trị phân thành 3 nhóm: tốt không di chứng, không tốt có di chứng và tử vong

- Số liệu được làm sạch, nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Sử dụng test Fisher exact và χ2 test ở mức ý nghĩa thống kê 5% so sánh tỉ lệ kết quả tốt theo các đặc điểm của bệnh nhân CTSN

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của bệnh nhân CTSN

Bảng 1 Tuổi và giới tính

Trang 3

Độ tuổi

Tổng

≤ 30 tuổi 31 - 60 tuổi >60 tuổi

Giới tính

Tổng

Nhận xét: Nam chiếm 74%, nữ 26% Tuổi < 60 chiếm 89,4%

Bảng 2 Nghề nghiệp

Nhận xét: Nghề nghiệp chủ yếu là công nhân và lao động tự do chiếm 69.3%

Bảng 3 Địa điểm và thời gian bị CTSN

Địa điểm

Total

Thành thị Nông thôn Thời

gian

Nhận xét: CTSN xảy ra ở thành thị (55.5%) nhiều hơn nông thôn (44.5%) và xảy ra ban đêm (55.2%) nhiều hơn ban ngày (44.8%)

Bảng 4 Nguyên nhân bị CTSN

Nhận xét: Nguyên nhân chính gây CTSN là TNGT

Bảng 5 Nồng độ ethanol máu ≥0.5mg/dl

Trang 4

Tổng 400 100

Nhận xét: Số người có ethanol máu từ 0.5mg/dl là 38.5%

Bảng 6 Mức độ CTSN

Nhận xét: Chấn thương sọ não mức độ nhẹ chiếm 74,2%, mức độ trung bình 17%, nặng 8,8%

Bảng 7 Mức độ CTSN theo tình trạng sử dụng rượu bia

Mức độ CTSN

χ 2

= 20,7 p=0,0001

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân bị CTSN ở mức trung bình và nặng ở nhóm có sử dụng bia rượu bia lần lượt là 25,3% và 13% cao hơn nhóm không sử dụng (11,8% và 6,1%) sự khác biệt này có

ý ngĩa thống kê với χ2= 20,7 và p = 0,0001

3.2 Tình hình sơ cứu và kết quả điều trị bệnh nhân bị CTSN

Bảng 8 Thời gian từ khi bị CTSN đến khi vào bệnh viện Đồng Nai

Nhận xét: Thời gian từ khi bệnh nhân bị chấn thương sọ não đến khi vào viện phần lớn là trong vòng 1 giờ (57.5%), khoảng thời gian từ 1 – 4 giờ (39%), đến sau 4 giờ là rất ít

Bảng 9 Số người bị CTSN được sơ cứu

Nhận xét: Số bệnh nhân được sơ cứu chỉ 41%

Trang 5

Bảng 10 Các phương pháp điều trị

Nhận xét: Các bệnh nhân CTSN vào bệnh viện Đồng Nai được điều trị bằng phương pháp nội khoa là chủ yếu (43.8%), chỉ một số ít cần can thiệp phẫu thuật (6.0%), hoặc chuyển viện (7.3%) Có 3% số bệnh nhân CTSN tử vong tại khoa cấp cứu

Bảng 11 Kết quả điều trị

Nhận xét: Như vậy kết quả điều trị tốt chiếm 82.5 %, còn di chứng, tử vong là 17.5%

Bảng 12 Kết quả điều trị theo thời gian đến bệnh viện, được sơ cứu và mức độ CTSN

Các yếu tố liên quan Kết quả tốt Kết quả không tốt Fisher/ χ 2 ;

giá trị p

Thời gian đến

bệnh viện

Fisher =11 p= 0,008

Được sơ cứu

χ 2= 59,3; p=0,0001

Mức độ CTSN

χ 2= 153,9; p=0,0001

Nhận xét: Tỉ lệ kết quả điều trị tốt ở các bệnh nhân bị CTSN đến bệnh viện sớm trước 1 giờ là 87%, từ 1 – 4 giờ là 77,6%, từ 5 – 24 giờ là 33,3% và >24 giờ là 72,7% Sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê với Fisher =11 và p = 0,008 Tỉ lệ kết quả điều trị tốt ở bệnh nhân bị CTSN được sơ cứu là 74,4%, ở bệnh nhân không được sơ cứu là 64,1% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với χ2= 59,3 và p = 0,0001 Tỷ lệ kết quả điều trị tốt ở CTSN nhẹ là 94,3%, nhóm CTSN

trung bình là 66,2%, và ở nhóm nặng là 14,3% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với χ2= 153,9

và p=0,0001

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm của bệnh nhân CTSN

Trang 6

Tỷ lệ nam giới bị CTSN là 74%, cao gấp gần 3 lần nữ 26% Kết quả này của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu khác Theo tác giả nghiên cứu trước đây nam giới chiếm đa số [1],[5],[6],[10] CTSN có nguyên nhân chủ yếu từ các vụ tai nạn giao thông, té ngã, hành động bạo lực và các chấn thương trong sinh hoạt Kiểu chấn thương này xảy ra ở nam gấp 3 lần so với

nữ Một phần do nam giới thường không cẩn thận, nóng tính và không kiềm chế tốt bằng nữ giới, mặt khác công việc nặng thường do nam giới đảm nhận Trong các mối quan hệ xã hội, nam cũng thường xuyên tham dự các cuộc liên hoan, nhậu, sau đó tham gia giao thông nên dễ dẫn đến tai nạn Cuối cùng, tỷ lệ nam giới dễ sa vào các cuộc bạo lực, ẩu đả nhiều hơn nữ

Nhóm tuổi từ 30 trở xuống gặp chấn thương sọ não nhiều nhất (45,3%), nhóm tuổi trên 60

ít gặp nhất (10,5%) Như vậy, độ tuổi từ 60 trở xuống chiếm đại đa số các trường hợp (89,5%) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu khác [5],[6], [7], [9], [14] Đối tượng chủ yếu gặp chấn thương sọ não trong độ tuổi lao động Theo chúng tôi, người bệnh CTSN chủ yếu từ 60 tuổi trở xuống, bởi đây chính là những đối tượng trong độ tuổi lao động Họ là lực lượng lao động chính của xã hội, trực tiếp tham gia lao động, sản xuất ra các sản phẩm cho xã hội, là thành phần chủ yếu tham gia lưu thông trên đường, nên nguy cơ bị tai nạn thương tích cao, dẫn đến CTSN cao

Nơi ở của bệnh nhân chấn thương sọ não là tương đương giữa thành thị và nông thôn (50,5% và 49,5%), nghề nghiệp gặp nhiều nhất là công nhân (40,8%) và lao động tự do (28,5%), các nghề khác gặp nằm trong khoảng 5 – 8% Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả khác biệt với các tác giả khác.Theo tác giả Nguyễn Hữu Thuấn [9] nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng, thì nghề nghiệp hay gặp chấn thương nhất là nông dân (52,1%) Tác giả Nguyễn Văn Hùng[6] nghiên cứu tại Đăk Lăk, nông dân chiếm 68,2%, nơi ở thành thị 31,5%, nông thôn 68,5% Tác giả Trần Đình Trí[10] cũng nghiên cứu tại Đăk Lăk, thì nghề nghiệp hay gặp nhất cũng là nông dân (72,3%), nông thôn (68,7%), thành thị (31,3%) Theo chúng tôi, sở dĩ có sự khác biệt này là do có sự khác nhau về vị trí địa lý, mô hình kinh tế - xã hội giữa các địa bàn nghiên cứu

Số người bệnh có nồng độ Ethanol máu từ 0,5mg/dl là 38,5%, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lương Mai Anh (36,5%)[1], Huỳnh Văn Hùng[5] (34,5%) Điều này hy vọng sẽ giảm khi luật phòng chống tác hại của rượu bia vừa mới được quốc hội thông qua sẽ có hiệu lực

từ 01/01/2020

Nguyên nhân gây ra CTSN chủ yếu là do tai nạn giao thông (71,5%), kết quả này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Việt Thu[8] TNGT (66,2%), Lê Tấn Nẫm, Nguyễn Minh Tâm[7] TNGT đang là vấn nạn của quốc gia, theo số liệu ban an toàn giao thông quốc gia năm

2019 có khoảng 8.248 người chết do TNGT, nhưng theo số liệu của WHO và Bộ y tế con số này khoảng 15.000 – 20.000 người mỗi năm Đây là con số rất lớn, đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ vĩ mô đến vi mô, để hạn chế tình trạng TNGT hiện nay

4.2 Tình hình sơ cứu và kết quả điều trị

Tỉ lệ bệnh nhân CTSN được đưa đến bệnh viện được sơ cứu trước viện chiếm 41%, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả của tác giả Nguyễn Hữu Thuấn[9] (24,9%); Huỳnh Văn Hùng[5] (25,2%), nhưng thấp hơn tác giả Nguyễn Văn Hùng[6] (67,3%) Tỷ lệ người bệnh được sơ cứu trước viện chưa cao nên cần thiết tăng cường công tác tuyên truyền, huấn luyện để có các đội sơ cứu tại chổ, và người dân cũng nắm được một số nguyên tắc cơ bản để sơ cứu kịp thời khi có thương tích

Chấn thương sọ não phần lớn là mức độ nhẹ 74,2%, vừa 17%, nặng 8,8% Kết quả của chúng tối cũng tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Thuấn[9]: nhẹ 62,8%, trung bình 21,3%, nặng 15,9% Tác giả Huỳnh Văn Hùng[5]: nhẹ 66%; trung bình 26,8%; nặng 7,2%

Trang 7

Thời gian từ khi bị chấn thương sọ não đến khi vào viện phần lớn trong vòng 1 giờ (57,5%), khoảng thời gian từ 1 – 4 giờ (39%), rất ít bệnh nhân đến sau 4 giờ Kết quả này cũng không khác biệt nhiều so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hùng[6], Trần Đình Trí[10] Do địa bàn tỉnh Đồng Nai có nhiều phương tiện và điều kiện giao thông thuận lợi nên người bệnh được đưa đến bệnh viện trong “khoảng thời gian vàng” là trước 4 giờ sau khi bị chấn thương sọ não Điều này mang lại kết quả tốt trong điều trị về sau theo như các khuyến cáo của hội chuyên môn

Người bệnh CTSN chủ yếu được điều trị bằng phương pháp nội khoa, chiểm tỷ lệ cao nhất (43,8%), người bệnh được thực hiện CT Scanner so não, làm xét nghiệm, chẩn đoán và lưu lại theo dõi, một số điều trị ngoại trú (16,3%) Chỉ có 6% cần can thiệp phẫu thuật, hoặc chuyển viện Có 3% số bệnh nhân CTSN tử vong tại khoa cấp cứu Theo tác giả Nguyễn Hữu Thuấn[13] Điều trị phẫu thuật: 10,5%

Kết quả điều trị tốt chiếm 82,5%, kết quả không tốt (còn di chứng, tử vong) 17,5% Kết quả của chúng tôi tương đương với các tác giả Nguyễn Hữu Thuấn[9] khỏi 76,8%; di chứng 12,3%, tử vong 1,4%, Nguyễn Văn Hùng[6] tốt/khá: 84%, Trần Đình Trí[10] tốt 93,1%, xấu 6,9%

Dù tỷ lệ kết quả không tốt chỉ chưa tới 1/5 nhưng phần lớn người bệnh là người còn đang trong độ tuổi lao động nên khi họ không hồi phục hoàn toàn thì sẽ là một gánh nặng của gia đình và xã hội,

do đó nếu có giải pháp để hạn chế được vấn đề này thì sẽ giúp an sinh xã hội được tốt hơn

Tỷ lệ bệnh nhân bị CTSN ở mức trung bình và nặng ở nhóm có sử dụng bia rượu cao hơn

ở nhóm không sử dụng, và sự khác biệt này có ý ngĩa thống kê với ( χ2= 20,7, p=0,0001 Tác hại của việc uống rượu bia thêm 1 lần nữa được khẳng định, hy vọng sau khi luật phòng chống tác hại của rượu bia có hiệu lực, với các vi phạm được xử lý nghiêm khắc và chặt chẽ hơn sẽ hạn chế và làm giảm tình hình tai nạn hiện nay

Các bệnh nhân bị CTSN có kết quả điều trị tốt phần lớn đến bệnh viện sớm, trước 1 giờ là 60,6%, từ 1 – 4 giờ chiếm 36,7%, trong khi nhóm kết quả điều trị không tốt số bệnh nhân vào viện trước 1 giờ chỉ 42,9% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với Fisher =11, p=0,008 Sự liên kết này là chặt chẽ Như vậy, các bệnh nhân bị CTSN nếu được đưa đến bệnh viện sớm thì kết quả điều trị vẫn tốt hơn

Trong các bệnh nhân bị CTSN được sơ cứu, ở nhóm kết quả điều trị tốt được sơ cứu trong vòng 30 phút đầu chiếm số đông (59,8%), và ngược lại, ở nhóm có kết quả không tốt thì được sơ cứu sau 30 phút chiếm số đông (64,3%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với ( χ2= 7,3, p = 0,007)

Tỷ lệ bệnh nhân được sơ cứu có kết quả tốt (74,4%) lớn hơn kết quả không tốt (25,6%), trong khi ở nhóm không được sơ cứu thì tỷ lệ kết quả tốt giảm xuống (64,1%), và kết quả không tốt tăng lên (35,9%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với (χ2 = 59,3, p = 0,0001) Như vậy có thể thấy sơ cứu góp phần quan trọng làm hạn chế mức độ chấn thương, giúp tình trạng bệnh không nặng thêm, đưa đến kết quả điều trị tốt hơn Điều này giúp mang lại lợi ích cho người bệnh, góp phần làm giảm gánh nặng cho nhân viên y tế và cho xã hội

V KẾT LUẬN

Chấn thương sọ não gặp ở nam nhiều hơn nữ, đa số ở độ tuổi lao động, xảy ra ở thành thị nhiều hơn nông thôn, ban đêm nhiều hơn ban ngày, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông và

đa số CTSN mức độ nhẹ (74,2%) Tỉ lệ có ethanol máu từ 0,5 mg/dL là 38,5% Sử dụng rượu bia làm tăng mức độ chấn thương sọ não với p=0,0001 Bệnh nhân được sơ cứu trước khi vào viện chiếm tỉ lệ 41 % và 57,5% vào viện trước 1 giờ Kết quả tốt chiếm tỉ lệ cao (82,5%) và tử vong 4,5% Được sơ cứu và vào viện trước 1 giờ thì điều trị kết quả tốt Tăng cường truyền thông cho người dân về việc giảm sử dụng rượu bia và kiến thức sơ cứu trước viện đối với bệnh nhân CTSN

là rất cần thiết

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lương Mai Anh (2014), Báo cáo nghiên cứu nồng độ cồn trong máu và nồng độ cồn trong huyết thanh của bệnh nhân tai nạn giao thông tại bệnh viện Việt Đức Cục ” báo cáo của Quản lý môi trường y tế

2 Ban an toàn giao thông quốc gia 2018, báo cáo số liệu 2018

3 Lê Phước Đại (2017), Đặc điểm Cấp cứu trước viện Chấn thương sọ não nặng tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy Hội nghị khoa học thường niên hội hồi sức cấp cứu TP Hồ Chí Minh năm

2017

4 Đồng Văn Hệ (2012), Chấn thương sọ não, Y học thực hành, 100, 123-125

5 Huỳnh Văn Hùng, (2012), Nghiên cứu tình hình thương tích do tai nạn giao thông đường bộ đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Cà Mau, luận án CK2, Cần Thơ

6 Nguyễn Văn Hùng, (2012), “Nghiên cứu tình hình tai nạn thương tích của bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Đăk Lăk năm 2011” luận văn ck2 Đại học y Huế, Huế

7 Hoàng Trọng Ái Quốc, (2017), nghiên cứu đặc điểm lâm sàng chấn thương sọ não mức độ vừa và nặng ở khoa cấp cứu bệnh viện trung ương Huế, Tạp chí Y Dược học Trường Đại học Y Dược Huế - Tập 7, số 2 - tháng 4/2017

8 Nguyễn Việt Thu (2012) , Nghiên cứu tình hình thương tích do tai nạn vào khám và cấp cứu tại bệnh viện Đa Khoa khu vực Tháp Mười 2011-2012, luận văn chuyên khoa 2, Cần Thơ

9 Thu Nguyễn Hữu Thuấn, (2011), Nghiên cứu tình hình bệnh nhân tai nạn giao thông đến khám và điều trị tại bệnh viện Đa khoa Sóc Trăng 2010, luận văn chuyên khoa 2, Cần Thơ

10 Trần Đình Trí, (2012), “Nghiên cứu tình hình bệnh nhân bi tai nạn giao thông đường bộ được cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Đăk Lăk năm 2011” Luận văn bác sĩ chuyên khoa 2 ngành quản lý y tế Đại học y Huế, Huế

11 Andrew I R Maas, Nino Stocchet and Ross Bullock (2008), “Moderate and severe traumatic brain injury in adults”, The Lancet Neurology, vol.7(8), pp 728-741

12 Prasanthi Puvanachandra and Adnan A Hyder (2009), “The burden of traumatic brain injury in asia: a call for research”, Pak J Neurol Sci., vol.4(1), pp 27-32

13 Roozenbeek B., Maas A I and Menon D K (2013), “Changing patterns in the epidemiology of traumatic brain injury”, Nat Rev Neurol., vol.9(4), pp 231-6

14 Shekhar C et al (2015), “An epidemiological study of traumatic brain injury cases in a trauma centre of New Delhi (India)”, J Emerg Trauma Shock, vol.8(3), pp 131-9

(Ngày nhận bài: 05/09/2019 - Ngày duyệt đăng bài: 04/10/2019)

Ngày đăng: 13/04/2022, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4. Nguyên nhân bị CTSN - CVv482S202019008
Bảng 4. Nguyên nhân bị CTSN (Trang 3)
Bảng 7. Mức độ CTSN theo tình trạng sử dụng rượu bia Mức độ CTSN  - CVv482S202019008
Bảng 7. Mức độ CTSN theo tình trạng sử dụng rượu bia Mức độ CTSN (Trang 4)
3.2. Tình hình sơ cứu và kết quả điều trị bệnh nhân bị CTSN - CVv482S202019008
3.2. Tình hình sơ cứu và kết quả điều trị bệnh nhân bị CTSN (Trang 4)
Bảng 10. Các phương pháp điều trị - CVv482S202019008
Bảng 10. Các phương pháp điều trị (Trang 5)
Bảng 11. Kết quả điều trị - CVv482S202019008
Bảng 11. Kết quả điều trị (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm