1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số suy nghĩ về ngành công nghiệp phân bón

30 390 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Suy Nghĩ Về Ngành Công Nghiệp Phân Bón
Tác giả Nguyễn Huy Phiêu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Huy Phiêu
Trường học Viện Hoá học Công nghiệp
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 271,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiến trình hòa nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các ngành sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành sản xuất phân bón, đã trực tiếp bị tác động với sức

Trang 1

ĐỀ TÀI

Một số suy nghĩ về ngành công nghiệp phân bón

TS NGUYỄN HUY PHIÊU Viện Hoá học Công nghiệp

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 3

II VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI 4

III TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ PHÂN BÓN Ở NƯỚC TA 11

IV MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP 17

V VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 23

VI MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 26

TÀI LIỆU NGUỒN 30

Trang 3

Trong tiến trình hòa nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các ngành sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành sản xuất phân bón, đã trực tiếp bị tác động với sức ép ngày càng lớn

Từ chỗ được trợ giá vận chuyển và bảo hộ bằng thuế quan đối với một

số sản phẩm phân bón vào những năm trước, bắt đầu từ năm 2001 sự bảo hộ bằng thuế quan giảm dần và các sản phẩm phân bón phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay trên thị trường trong nước

Tình hình thời tiết không thuận lợi ở nhiều địa phương cùng với sự thay đổi cơ cấu cây trồng và thị trường phân bón ngày càng phức tạp nên việc sản xuất và tiêu thụ phân bón trong nước gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên việc đầu tư chiều sâu và phát triển sản xuất phân bón trong nước vẫn là sự lựa chọn duy nhất

Để góp phần làm rõ thêm bức tranh tổng thể của ngành sản xuất phân bón Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chúng tôi xin trình bày một số suy nghĩ về vấn đề này:

Trang 4

II VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI Đánh giá chung về sản xuất phân bón

Trong tương lai gần kỹ thuật chuyển gien chưa thể là phương sách cứu cánh để giải quyết vấn đề lương thực cho nhân loại Vì vậy muốn duy trì năng suất cây trồng để đảm bảo an ninh lương thực vẫn phải sử dụng phân bón hoá học cùng với các loại phân hữu cơ khác, tính ra mỗi người dân phải đạt 35 kg N/năm

Dự đoán cho tới năm 2015 ngô, lúa và lúa mì vẫn là các loại cây trồng

sử dụng nhiều phân bón, sản lượng phân bón của thế giới sẽ tăng khoảng 18 triệu tấn (chất dinh dưỡng) so với năm 2000, đạt khoảng 152.2 triệu tấn, mức độ tăng trưởng 0,9%

Mức độ tăng trưởng mạnh ở Nam và Đông Á (7,7 triệu tấn) và Mỹ La Tinh (3,3 triệu tấn), mức trung bình là ở vùng Hạ Sahara (châu Phi)

Mức tiêu thụ phân bón ở Tây Âu giảm cho tới năm 2006, sau đó sản xuất sẽ ổn định

Về sản xuất phân đạm, trước đây phát triển mạnh chủ yếu ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản Do giá khí thiên nhiên đắt người ta đã phải nhập khẩu amoniac để sản xuất phân đạm, sau đó đã dịch chuyển quá trình này tới các nước có nhiều khí thiên nhiên ở Caribê, Cận Đông và ở một

số nước có mức tiêu thụ lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Pakistan 2/3 mức tăng trưởng này là ở châu Á Phần đóng góp của Tây

Âu đã giảm từ 20% xuống còn 11%

Trang 5

Các nhà máy sản xuất amoniac thường được kết hợp với nhà máy sản xuất urê để tận dụng CO2 khi điều chế amoniac Chi phí về nguyên liệu chiếm từ 2/3 tới 3/4 toàn bộ chi phí cho sản xuất amoniac Yếu tố nguyên liệu cũng chiếm hơn 80% toàn bộ chi phí đầu vào đối với sản xuất urê

Trung Quốc và Ấn Độ đã đặt mục tiêu hàng đầu là phải tự cung cấp đủ phân bón Những thay đổi của họ trong lĩnh vực này có tác động trực tiếp tới giá cả phân bón quốc tế

Về phân lân, hai thập kỷ qua trên thế giới, đã phát triển mạnh việc sản xuất phân lân tại các nước có nguồn photphat thiên nhiên, đặc biệt lâ ở Bắc Phi, Mỹ, các nước Cận Đông, Tây và Nam Phi Do vậy, người ta

đã tiết kiệm được công vận chuyển phân bón đậm đặc, giá trị cao hơn nhiều so với quặng photphat Trước đây 91% sản lượng axit photphoric

do Bắc Mỹ, Tây Âu, Liên Xô (cũ), Nhật Bản sản xuất, hiện nay 83% sản lượng này lại do các nước có nguồn quặng photphat sản xuất

Mức tiêu thụ phân lân tăng trong 30 năm qua chủ yếu là các loại phân sản xuất từ axit photphoric trích ly (MAP, DAP)

Dưới đây là số liệu về cơ cấu sản phẩm phân lân của Trung Quốc - một

nước có nền nông nghiệp tương tự với nước ta (số liệu năm 2000):

Loại phân lân Sản lượng

Phân lân truyền thống x 1000T P 2 O 5 3.672

Trang 6

Loại công suất Tấn P2O5/năm Nước sản xuất

Công suất cao 230.000 - 367.000 CHLB Đức, Mỹ

Trang 7

Công suất thấp 20.000 - 30.000 Colombia

35.000 - 38.000 Nhật

Từ photpho vàng người ta sẽ sản xuất được axit photphoric (nhiệt) và các sản phẩm khác:

Trang 8

Nguyên liệu cho sản xuất phân lân

Tổng trữ lượng quặng photphat của thế giới khoảng 84 tỷ tấn, trong đó khoảng 50 tỷ tấn khai thác mang hiệu quả kinh tế, riêng Ma rốc chiếm

60 tỷ tấn, với chi phí khai thác dưới 36 USD/T nước này có thể khai thác trong vòng 28 năm, nếu với chi phí lên tới 90 USD/T thì có thể khai thác 1000 năm

Lưu huỳnh cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật nhưng phần lớn được sử dụng để sản xuất axit sunphuric phục vụ sản xuất phân lân Khoảng 85% lưu huỳnh nguyên tố được lấy từ các nguồn hyđrocacbon dưới dạng một sản phẩm phụ của lọc dầu, xử lý khí thiên nhiên với giá rất thấp Muốn sản xuất 1 tấn P2O5 Cần gần 1 tấn lưu

Trang 9

huỳnh, nên giá lưu huỳnh sẽ là một phần quan trọng trong chi phi sản xuất axit photphoric

Nguyên liệu cho sản xuất phân kali

Phần lớn trữ lượng kali tham gia vào lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó khoảng 70% được xuất khẩu ở dạng nguyên khai, chỉ 10-12% dưới dạng phân bón hỗn hợp Canađa và Liên xô (cũ) chiếm 2/3 mức xuất khẩu kali của thế giới

Ở Thái Lan có hai vùng trũng có muối kali là Corat và Sekhonakhon Trũng Sekhonakhon kéo dài sang cả đồng bằng Viếng Chăn của Lào Tổng diện tích chứa muối là khoảng 50.000 km2, trong đó trũng Corat khoảng 33.000 km2, trũng thứ hai rộng chừng 17.000 km2, trong đó Thái Lan chiếm khoảng 14.000 km2, còn ở Lào khoảng 3.000 km2

Theo đánh giá ban đầu, trữ lượng muối kali ở Thái Lan có khoảng 270

tỷ tấn Còn ở Lào theo kết quả công tác tìm kiếm đánh giá năm 1985 – 1986 của các nhà địa chất Việt Nam và Lào tại vùng Đông Xiêng

Đi (ngoại ô Viêng Chăn) có trữ lượng 1.617 triệu tấn quặng, hàm lượng trung bình 12,34% KCl, tính ra tinh quặng là 199 triệu tấn

Tại vùng Bản Natàn cách Viêng Chăn 35 km về phía Đông Bắc trữ lượng ước tính là 2,54 tỷ tấn KCl Hàm lượng KCl trong quặng ở đây đạt 21,58%

Trang 10

Số liệu về mức sử dụng phân bón trên thế giới cho thấy lượng phân bón tính trên một ha bình quân vẫn còn thấp, song từng nước và khu vực riêng có thể lại khá cao (tính theo chất dinh dưỡng):

Tên nước Lượng bón

Trang 11

(Số liệu trên chưa tính đến cây lâm nghiệp, mỗi ha rừng cũng cần 20kg N/năm)

III TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ PHÂN BÓN Ở NƯỚC

Trang 12

Vấn đề giảm sức tiêu thụ phân bón có nhiều nguyên nhân, như tình hình lũ lụt liên tiếp ở đồng bằng Sông Cửu Long, nông sản xuất khẩu bị rớt giá v.v

Những nguyên nhân nêu trên là một thực tế khách quan, song dưới góc

độ nghiên cứu một cách tổng hợp, chúng tôi xin nêu một số nguyên nhân khác để lý giải và có thể tìm những giải pháp thích hợp để thoát ra khỏi tình trạng này, nhằm góp phần nâng mức tăng trưởng chung của ngành

Trang 13

Trước hết vấn đề được nêu là mức bón phân ở nước ta đã đến ngưỡng chưa? Theo số liệu của các nhà khoa học nông nghiệp, mức bón phân của nông dân nước ta còn rất mất cân đối, nhất là ở các tỉnh phía Bắc:

Ở Hà Tây, trên đất phù sa sông Hồng với cơ cấu mùa vụ - lúa xuân, lúa

hè, mầu đông, năm 2001 mức bón như sau:

Lúa xuân Lúa hè Mầu đông

Phân chuồng (T/ha) 10/10 10/10 5/5

N (kg/ha) 122,4/126 90,3/88,7 39/50

P2O5 (kg/ha) 55,6/89 77/89 30/90

K2O (kg/ha) 57,2/83,5 69,6/83,5 49/60

Mẫu số - mức bón cân đối cần thiết

Đối với đất phù sa sông Hồng tại Nam Định, năm 2000 - 2001 mức bón như sau:

Loại phân bón Cơ cấu mùa vụ

Trang 14

Lạc xuân Lúa hè

Khoai tây đông

Lúa xuân Lúa hè

Mẫu số: yêu cầu bón cân đối cần thiết

Tại Hải Dương, Hải Phòng cũng thu được số liệu tương tự

Lúa xuân Lúa hè Khoai tây đông

Loại phân bón

Trang 15

Dương Phòng Dương Phòng Dương Phòng

100-P2O5 (kg/ha) 44,3/88,6 0-75/90 35,5/66,5 15/60 46/90

30-60/90

K2O (kg/ha) 49,9/83,1 0/60 49,9/83,1 0/90 66/120

0-30/120

Chi chú: Tử số biểu thị lượng bón thực tê

Mẫu số: yêu cầu bón cân đối cần thiết

Nếu chỉ tính riêng phân lân, so với yêu cầu bón cân đối theo khuyến cáo của các nhà khoa học nông nghiệp, trung bình ở vùng đồng bằng sông Hồng mỗi ha gieo trồng còn thiếu khoảng 34 kg P2O5/ vụ

Với diện tích canh tác của đồng bằng sông Hồng là 857.600 ha, gieo trồng 3 vụ một năm, có thể tính được lượng phân lân còn thiếu khoảng

530 ngàn tấn (tính theo supephotphat đơn), chưa kể đến các tỉnh khác ở

Trang 16

miền Bắc và miền Trung Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, lượng bón phân tương đối cân đối hơn ở đồng bằng sông Hồng Chúng tôi mới chỉ

có số liệu về mức bón phân ở Ô Môn, Cần Thơ ( 1997 - 1999), cũng theo cách tính tương tự cho thấy ở Đồng bằng sông Cửu Long, ít nhất cũng còn thiếu khoảng 200 ngàn tấn tính theo supephotphat đơn

Như vậy, lượng phân lân thiếu hụt (cách tính tối thiểu) chỉ riêng ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cũng tương đương công suất của Nhà máy Supephotphat Lâm Thao Nhà máy DAP chuẩn bị sẽ xây dựng không ảnh hưởng đến cân đối này vì hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 400 ngàn tấn DAP/năm

Theo chúng tôi, số liệu này là có thể chấp nhận được Ở đây chúng tôi chưa so sánh mức bón phân ở Việt Nam so với các nước trong khu vực (ở Việt Nam chỉ bón 170 kg NPK/ha, trong khi ở Thái Lan và Trung Quốc đều bón trên 200 kg NPK/ha)

Nhưng vì sao lượng phân lân còn thiếu so với tính toán mà công suất nhà máy không tăng được Theo chúng tôi có một số nguyên nhân sau:

- Các chủng loại phân bón chưa thật phù hợp với từng cây trồng, chưa phù hợp với quy trình canh tác của nông dân

- Hệ thống dịch vụ, cung ứng phân bón chưa thật thuận tiện, nhất là việc khuyến cáo sử dựng một cách hợp lý phân bón cho nông dân để thu lợi nhuận tối đa

Trang 17

- Hệ thống quản lý chất lượng còn yếu, trong khi thị trường phân bón rất đa dạng, phức tạp, có khi còn lẫn cả hàng kém chất lượng

- Sức mua phân bón của nông dân còn hạn chế do giá nhiều hạng mục đầu vào còn cao và đầu ra của sản phẩm nông nghiệp chưa được ổn định, nhất là khâu chế biến và lưu thông

- Giá thành phân bón có thể còn cao

IV MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP

Để góp phần tháo gỡ khó khăn chúng tôi sẽ đề xuất một số giải pháp sau đây:

Ở nước ta đối với cây lúa, quy trình bón phân của nông dân là bón lót toàn bộ phân lân, một nửa lượng phân đạm, sau đó mới bón đón đòng

và bón thúc bằng một nửa lượng phân đạm còn lại và toàn bộ phân kali Trong những năm vừa qua Công ty Supephotphat và Hóa chất Lâm Thao đã sản xuất thử và tạo mô hình trình diễn ở một số nơi những loại

Trang 18

phân bón hỗn hợp NPK phù hợp với quy trình bón phân của nông dân

và đã thu được kết quả như sau: Tại điểm trình diễn trên đất ven sông không được bồi hàng năm ở xã Cổ Đô và Phong Vân huyện Ba Vì Hà Tây, đối với lúa, bón lót phân NPK 8:8:4 và bón thúc bằng phân NPK 12:2:12 cho kết quả sau:

Đối chứng (Bón phân đơn)

Cổ Đô Phong

Vân Cổ Đô

Phong Vân Cổ đô

Phong Vân

Trang 19

Số TT Loại phân

Năng suất thu được tạ/ha

Hiệu quả (kg ngô hạt/kg NPK)

Kết quả khảo nghiệm sử dụng phân bón NPK 10 : 5 : 5 cho cây dâu tại

4 xã ở Vĩnh Phúc cho thấy: cây dâu được bón phân NPK 10 : 5 : 5 lá to

và dày hơn, mầu sắc lá xanh bền giữa các lứa hái, năng suất lá dâu bình quân đạt 26,2 kg/sào lứa hái (tăng 18%) so với đối chứng bón phân đơn riêng rẽ, chất lượng lá dâu tăng, giảm tỷ lệ tằm chết, năng suất kén cao hơn 1,4 kg/ vòng trứng (tăng 10,3%) so với đối chứng

Như vậy những loại phân bón mới đã đem lại hiệu quả cao hơn loại 5 : 10: 3 nên nếu tổ chức sản xuất rộng rãi những chủng loại phân bón kiểu

Trang 20

như thế sẽ bán được nhiều hàng hơn, kể cả những loại phân PK dùng riêng nhằm chống rét cho mạ xuân Ngoài ra, còn có thể sản xuất các loại phân supe tecmô dạng hạt để tránh hiện tượng giảm lượng lân hòa tan trong nước, như vậy sẽ tăng lượng tiêu thụ phân lân nung chảy Sản xuất tổ hợp dinh dưỡng phục vụ cải tạo hồ nuôi tôm và cung cấp dinh dưỡng cho việc nuôi cá ruộng (vừa là nguồn thức ăn cho cá vừa là phân bón lúa)

Để giảm giá thành sản phẩm phân bón NPK các cơ sở sản xuất phân bón có thể nghiên cứu các hướng sau:

- Tận dụng nhiệt dư thừa của các quá trình sản xuất để giảm năng lượng cho quá trình sấy sản phẩm NPK

Sử dụng urê và lưu huỳnh thay cho amôn sunphat (SA) Vì giá amôn sunphat đắt hơn giá urê + lưu huỳnh nguyên tố Ngoài ra, theo số liệu của các nhà khoa học kỹ thuật nông nghiệp Khi dùng phân bón bổ sung lưu huỳnh nguyên tố cho lạc, đậu tương, ngô người ta có thể đạt năng suất cao hơn khi dùng phân bón chứa ion SO2- 4 Đối với lạc trên đâtt bạc màu Sóc Sơn, bón KCl và S nguyên tố với lượng tương đương

60 kg K2SO4 sẽ tăng năng suất 2,3 tạ/ha lạc củ so với bón K2SO4, còn trên đất phù sa ở Ba Vì năng suất tăng 2,3 tạ/ha Hàm lượng protein trong nhân lạc tăng trung bình 1,41 – 198%

Đối với đậu tương trên đất phù sa không được bồi hàng năm khi bón 34kg S/ha năng suất tăng 1,2 – 4,52 tạ/ ha trên nền NPK (thí nghiệm

Trang 21

3 vụ) Hàm lượng protein và dầu đều tăng, đặc biệt hàm lượng axit min khi bón S tăng gần 62%

Một hướng mới trong sản xuất là sản xuất những dạng phân bón mới có hiệu quả cao hơn

Urê bọc lưu huỳnh Hiện nay nhu cầu của các cây công nghiệp như cà phê, mía đều cần lưu huỳnh, nên người ta thường phải dùng phân đạm amôn sunphat Giá 1 tấn urê bọc lưu huỳnh thường gấp 1.8 - 2 lần giá urê thường Trong khuôn khổ đề tài KHCN cấp Bộ, Viện Hóa học Công nghiệp đã hoàn thành giai đoạn nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và có thể sản xuất thử để có sản phẩm chào hàng và dùng thử

Sản xuất phân bón chứa chất hữu cơ và chất kích thích sinh trưởng cây trồng cũng đã được áp dụng ở nhiều nước Chất hữu cơ sẽ tạo ra các

"tay nối" hữu cơ với Fe, Al các phức và chelate để cố định tạm thời các ion dinh dưỡng, tránh bay hơi, hòa tan quá nhanh hoặc cố định chất dinh dưỡng làm cây không hấp thụ được

Ngoài vấn đề đa dạng hóa các chủng loại phân bón, các nhà máy phân bón cũng cần sản xuất thêm các sản phẩm hóa chất khác dể dùng cho chính mình và phục vụ cho các ngành khác, nhất là cho công nghiệp dầu khí để tăng thêm giá trị hàng hóa Chẳng hạn, trước mắt có thể sử dụng Na2SiF6 làm chất khoáng hóa cho lò nung xi măng để giảm nhiệt

độ nung, sau đó sẽ sản xuất criolit dùng cho công nghiệp điện phân nhôm

Trang 22

Trong sản xuất phân đạm, ngoài 8 loại xúc tác cơ bản, chỉ riêng hóa chất cho bộ phận tách CO2 xử lý nước tuần hoàn và khử khoáng đã cần 1,14 USD/ T amomac và 0,36 USD/T urê Ngoài ra còn phải mua hóa chất chống vón cục, kết tảng cho urê và các hóa chất xử lý môi trường v.v

Tại Công ty Supephotphat và Hóa chất Lâm Thao chúng ta có thể sản xuất phèn nhôm chất lượng cao (không còn axit tự do) như công nghệ của Viện Hóa học Công nghiệp đã áp dụng tại Nhà máy Hóa chất Tân Bình

Riêng về các hóa chất phục vụ công nghiệp dầu khí, hiện nay ngành hóa chất mới chỉ cung cấp được rất ít sản phẩm như CaCl, bột graphit, canxi cacbonat, natri silicat, còn rất nhiều sản phẩm khác như (NH4)2SiF6 NH4F, NAF, để làm giảm độ hấp phụ chất hoạt động bề mặt (NH4)2S2O8 Na2S2O3 chất khơi mào của phản ứng copolime hóa acrilamid với metylen - biacrilamid NH4Cl, FeCl3, K2HPO4, KH2PO4,

Na2HPO4, NaH2PO4 chất ức chế chống ăn mòn và tạo muối, K4P2O7 3H2O, K2SiO3, Ca2P2O7, CuSO4.7H2O, ZnSO4 làm phụ gia với chất keo

tụ khi tách dòng của nước mạch, ZnCl và Fe3O4 chất ức chế ăn mòn vi sinh vật và hấp phụ H2S trong mạch v.v đều đang có nhu cầu và các sản phẩm này nhiều nhà máy phân bón và hóa chất của ta đều có thể sản xuất được

2 Về công tác tiếp thị Các chuyên gia của FAO đã dùng thuật ngữ

“tiếp thị tích cực" Đây là một biện pháp nhờ đó các đại lý phân phối

Ngày đăng: 18/02/2014, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w