1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo vệ môi trường tổng thể và quản lý chất thải trong công nghiệp hoá chất '

81 526 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ môi trường tổng thể và quản lý chất thải trong công nghiệp hóa chất
Trường học Học Viện Môi Trường Và Tài Nguyên
Chuyên ngành Quản lý môi trường
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 485,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dùng công nghệ xử lý hóa - lý là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hóa học để làm thay đổi tính chất của chất thải, nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năng nguy hại của chúng đ

Trang 1

ĐỀ TÀI

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỔNG THỂ VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG CÔNG NGHIỆP

HOÁ CHẤT

Tiếp theo“Thông tin KT&CN Công nghiệp Hóa chất”

Chuyên đề Phục vụ lãnh đạo số 3/2008

Trang 2

HÀ NỘI- 2008

MỤC LỤC Trang

III CÁC BIỆN PHÁP TIÊU HUỶ CHẤT THẢI 9

III.1 Xác định chất thải cần tiêu huỷ và các thủ tục pháp lý

Trang 3

III.3 Tiêu huỷ bằng cách chôn lấp chất thải 13

IV TẬN DỤNG CÁC CHẤT THẢI TỪ SẢN PHẨM 14

IV.3 Thu hồi các kim loại màu từ bã thải rắn của công

Phần III: CƠ HỘI SẢN XUÂT- BVMT TỔNG THỂ VÀ

I HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ

I.1 Hiệu quả sử dụng năng lượng, vật liệu và vấn đề môi

Trang 4

I.2 Hiệu quả sử dụng năng lượng, vật liệu và vấn đề BVMT

II TÌNH HÌNH BVMT SẢN XUẤT TẠI CÁC DOANH

NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY HÓA CHẤT VIỆT NAM 33

II.1 Thực hiện chiến lược phát triển bền vững tại Tổng Công

II.2 Hướng tới hiệu quả sản xuất và BVMT tại các đơn vị

II.2.1 BVMT tại Công ty Supephốt phát và Hóa chất Lâm Thao 35

II.2.2 Sản xuất đi đôi với bảo vệ môi trường tại ngành sản xuất

II.2.3 Nâng cấp công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất là định

hướng phát triển của Công ty Phân Đạm và Hoá chất Hà Bắc 39

II.2.4 Phát triển trên cơ sở nâng cấp thiết bị và TKNL tại Công

ty Cao su Sao Vàng 41

Trang 5

II.2.5 BVMT trong khai thác khoáng sản, đảm bảo sản xuất bền

vững tại VINAAPACO 44

II.2.6 Cải tiến công nghệ để ổn định và nâng cao chất lượng sản

phẩm kết hợp BVMT tại Công ty CP Ac quy Tia Sáng 47

II.2.7 Nâng cấp thiết bị và đầu tư công nghệ để giữ vững vị trí

hàng đầu về sản xuất săm lốp cao su tại Công ty cổ phần Công

nghiệp Cao su miền Nam 48

Trang 6

Phần II QUẢN LÝ CHẤT THẢI TRONG CNHC

I GIỚI THIỆU CHUNG

Chức năng chung của CNHC là chuyển những chất đầu vào ít có giá trị kinh tế thành những sản phẩm mong muốn Sự chuyển đổi này xảy ra với hiệu suất càng gần 100% thì càng tốt Tuy nhiên trong thực tế, luôn tồn tại một tỷ lệ nào đó những sản phẩm không mong đợi Đó là những chất được gọi là “chất tồn dư” hoặc “cặn thải” và thông thường bị thải đi sau quá trình dưới dạng chất thải

Bên cạnh chức năng trên, CNHC trong thời đại hiện nay cũng cần tìm cách làm giảm thiểu các tác động của những chất thải vào môi trường bằng công nghệ khả thi trong thực tế Chính chức năng này cũng là nhiệm vụ thứ hai, rất quan trọng của CNHC Để làm được nhiệm vụ này CNHC cần đưa vấn đề quản lý chất thải thành một phần bắt buộc trong hoạt động của mình Khái niệm quản lý chất thải bao gồm:

1) Giảm số và lượng những chất tồn dư, cặn thải;

2) Tái sinh những chất thải để giảm việc huỷ bỏ những chất thải;

3) Loại bỏ chất thải bằng cách xử lý huỷ bỏ

Trang 7

Kết quả quản lý chất thải là tránh và giảm được số và lượng chất thải trong sản xuất và tiêu huỷ chúng một cách an toàn

Bên cạnh các chất thải của quá trình sản xuất, trong quá trình tiêu thụ và

sử dụng sản phẩm, các sản phẩm sẽ trở thành chất thải Các chất này được gọi là những chất thải sản phẩm (để tránh nhầm lẫn với các chất thải sản xuất) Việc tái sinh những chất thải sản phẩm cũng đang rất được quan tâm và ở nhiều nước, đây cũng là một chức năng quản lý chất thải của CNHC

II QUẢN LÝ CHẤT THẢI LÀ GÌ

Hàng năm trong sản xuất công nghiệp và tiêu dùng trên thế giới có một lượng chất thải khổng lồ (hàng tỷ tấn) được thải ra Riêng ở Đức, hàng năm trong toàn ngành công nghiệp nước này phát sinh ra đến gần 220 triệu tấn chất thải công nghiệp, trong đó có hơn 6 triệu tấn chất thải đặc biệt (chiếm khoảng 3%) có thể gây rủi ro và các sự cố môi trường Riêng CNHC của Đức hàng năm có thể sinh ra trên 5 triệu tấn chất thải với hơn 1,6 triệu tấn chất thải độc hại (chiếm 32%) Ở Mỹ, con số này lớn hơn vài lần

Nói chung những chất thải công nghiệp rất đa dạng về thành phần hoá

học tùy theo đặc điểm về hoạt động kinh tế của từng nước

Một quy trình sản xuất hoá học luôn có các chất tồn dư (chưa phản ứng) Tuy những chất tồn dư này có thể được quay vòng hoặc tái sinh Trong trường hợp nếu không quay vòng hoặc quay vòng không thích hợp hoặc

Trang 8

vì các lý do khác, thì trong quá trình sản xuất, chất tồn dư cũng sẽ trở thành chất thải Có những trường hợp, quá trình xử lý một chất thải này lại có thể phát sinh một chất thải khác (ví dụ nước thải sinh ra trong khi rửa khí thải hoặc việc xử lý nước thải dẫn tới sự tạo thành bùn thải, v.v ) nên việc quản lý chất thải phải được coi là một quá trình liên tục, xuyên suốt quá trình sản xuất

Hiện nay, trên thế giới người ta quan niệm quản lý chất thải gồm 2 lĩnh vực sau:

II.1 Quản lý chất thải sản xuất định hướng

Những chất tồn dư và chất thải có thể xuất hiện không chỉ trong khu vực sản xuất tập trung, mà còn ở những khu vực liên quan khác Vì vậy rất cần phải được mở rộng diện quản lý chất thải ra ngoài khu vực sản xuất Việc huỷ bỏ các chất thải, thậm chí cả trong các điều kiện thích hợp nhất, cũng vẫn có nhiều nhược điểm về mặt sinh thái và kinh tế, đồng thời trong nhiều trường hợp lại tốn kém hơn so với áp dụng các biện pháp BVMT tổng thể

Như vậy việc quản lý chất thải trong sản xuất phải được hoạch định hoá

và công nghệ, kỹ thuật đưa vào áp dụng phải đáp ứng các mục tiêu cụ thể Việc quản lý chất thải sản xuất bao gồm có 3 yếu tố sau:

1) Phân tích thành phần các chất thải và quá trình phát sinh chất thải về chủng loại và số lượng trong dây chuyền sản xuất Việc này cho phép xác định và đưa ra các biện pháp tránh thải hoặc giảm thải thích hợp

Trang 9

2) Có những giải pháp mới với kỹ thuật, công nghệ thích hợp để huỷ bỏ chất thải hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường

3) Kiểm soát tình hình chung của sản xuất-BVMT tổng thể

Ngày nay các nguyên tắc cơ bản để tránh thải, giảm thải phải được đề cập kết hợp ngay trong quy trình mới,chuẩn bị được áp dụng với nội dung sao cho tránh hoặc giảm lượng các chất tồn dư và chất thải phát sinh Những quy trình đang tồn tại (đang còn được áp dụng) cũng được nghiên cứu và định hình lại xem chúng còn thích hợp nữa hay không Đây cũng chính là nguyên tắc của sản xuất BVMT tổng thể

Một phương thức khác để thực hiện nguyên tắc này là sử dụng lại các chất tồn dư hoặc chất thải của quá trình Việc xem xét nên sử dụng hay nên tiêu huỷ chất thải phụ thuộc từng trường hợp cụ thể và khi đó cũng cần phân tích cả các ảnh hưởng sinh thái và kinh tế của sự lựa chọn này

Một vấn đề cần nói đến là sự tái sinh những vật liệu (đã qua sử dụng, thải) có khi lại có thể gây hại tới môi trường nhiều hơn sự lợi ích mà quá trình tái sinh mang lại Đó là chưa kể nhiều quá trình tái sinh lại phát sinh những chất thải vẫn cần phải huỷ bỏ tiếp sau đó Hơn nữa một quá trình tái sinh không thể lặp đi lặp lại mãi, vì vậy để áp dụng các quá trình tái sinh cần xem xét kỹ lưỡng trên quan điểm kinh tế và thị trường Đây chính là vấn đề cần thiết để làm sáng tỏ một điều là liệu có cần tái sinh vật liệu đó không và vật liệu đó có được các nhà sản xuất hoặc người tiêu thụ chấp nhận không Một số vấn đề nữa có thể nảy sinh khi vật liệu

Trang 10

tái sinh thường có chất lượng thấp hơn so với các vật liệu gốc Nếu vật liệu tái sinh không có thị trường (không tiêu thụ được) thì thậm chí việc tái sinh được tiến hành rất tốt vẫn có thể xem như thất bại Việc quyết định giữa sử dụng và tiêu huỷ chất thải cũng cần được xem xét kỹ, nhất

là về mặt cân bằng sinh thái trên cơ sở lấy ý kiến thăm dò một cách khoa học và khách quan Trong khi xem xét, phải tính đến cả việc tận dụng năng lượng và phải xếp ngang hàng việc tận dụng năng lượng với việc tái sinh vật chất

Dù có tìm cách giảm bớt chất tồn dư và tăng cường tái sinh chất thải thì cũng không thể triệt tiêu hoàn toàn lượng chất thải, nên phương pháp tiêu huỷ chất thải một cách hợp lý vẫn là một vấn đề cơ bản trong quản

lý chất thải của bất kỳ ngành sản xuất nào Chắc chắn việc tiêu huỷ sẽ theo hình thức đốt hoặc chôn lấp, và ngày nay các hoạt động này trên cơ

sở áp dụng các công nghệ cao, đạt được tiêu chuẩn an toàn với những lợi ích sinh thái nổi bật sẽ được phổ biến rộng rãi với mục đích giảm phát thải các yếu tố nguy hại của các ngành sản xuất vào môi trường đến mức thấp nhất Mọi biện pháp được áp dụng trong quản lý chất thải cũng luôn gắn liền với việc phân tích số lượng, cấu tạo và những tính chất của chất thải cũng như phân tích những dòng chất thải theo dự án liên quan Ngoài ra năng lượng nhiệt từ các dòng chất thải thứ cấp (như xỉ và tro nóng sinh ra khi tiêu huỷ chất thải bằng cách đốt) cũng cần được tính toán tận dụng triệt để

II.2 Quản lý chất thải sản phẩm định hướng

Trang 11

Khi sản phẩm của CNHC được tiêu thụ, chúng sẽ chuyển hoá dần thành chất thải Chuỗi trách nhiệm từ người sản xuất hoá chất sang người sản xuất sản phẩm cuối dòng đến người tiêu thụ cũng cần phải được thực hiện liên tục, đồng thời phải luôn quan tâm đến cái gì sẽ xảy ra với vật liệu sau khi sử dụng Các biện pháp kỹ thuật sử dụng phải thích hợp với mỗi một kiểu chất thải nhất định

Tái sinh chất thải từ sản phẩm có thể bao gồm nhiều quá trình khác nhau như thu hồi các vật liệu trên cơ sở phá huỷ cấu trúc hoá học của chất thải hoặc chỉ đơn thuần thu hồi vật liệu mà không làm sự thay đổi cấu trúc hoá học của chất thải

Các vật liệu từ chất thải sản phẩm sau khi đã được tái sinh chắc chắn sẽ chiếm một thị phần nào đó trong thị trường và góp phần tiết kiệm những loại nguyên liệu gốc đắt tiền Tuy lợi ích kinh tế không phải là lý do duy nhất để tiến hành các quá trình tái sinh vật liệu thải, nhưng trong điều kiện thị trường cụ thể, người ta không thể không tính toán đến các lợi ích này Cũng vì thế mà những yêu cầu kỹ thuật để tái sinh các chất thải sản phẩm cũng cần phải được xem xét kỹ càng Các chất thải sản phẩm của CNHC gồm nhiều loại, nhưng tiêu biểu và tập trung nhất vẫn là các loại sản phẩm chất dẻo Đứng trước vấn đề này, có một số câu hỏi luôn được đặt ra là phế thải chất dẻo nên được tái chế như thế nào? cái được và không được khi áp dụng phương pháp tái chế ra sao?, v.v… Khi tái chế không tránh khỏi việc thay đổi cấu trúc phân tử chất dẻo và dẫn đến sự suy giảm độ bền cơ học của nó, nên phải cân nhắc xem có đáng để tái

Trang 12

chế và dùng chất dẻo tái sinh không Đa số các chất dẻo là những vật liệu rẻ tiền nên người ta cũng thường tính đến cả khả năng đốt loại phế thải này (có thể kết hợp thu năng lượng) hoặc chôn lấp thay vì áp dụng các kỹ thuật tái chế để thu hồi những vật liệu không đáng giá

Vấn đề xử lý chất thải như thế nào (tái chế, thiêu hủy, chôn lấp) hoàn toàn phụ thuộc vào đặc trưng của chất thải, nhu cầu sản phẩm và khả năng xử lý ban đầu Riêng trong xử lý ban đầu người ta cũng dùng nhiều biện pháp khác nhau:

- Phân loại và xử lý cơ học là khâu ban đầu không thể thiếu trong quy trình xử lý chất thải Biện pháp này sẽ làm tăng hiệu quả xử lý ở các bước tiếp theo Các công nghệ dùng để phân loại, xử lý cơ học chất thải bao gồm: lựa chọn, cắt, nghiền, sàng, tuyển từ, tuyển nổi, v.v Ví dụ, các loại chất thải có kích thước lớn và thành phần khác nhau phải được phân loại ngay khi tiếp nhận Các chất thải rắn chứa các chất độc hại cần phải được tách để xử lý riêng Sau công đoạn lựa chọn là công đoạn chuyển chất thải có kích thước lớn về dạng mảnh (hạt) nhỏ hơn (bằng cách băm, nghiền nhỏ) đến kích thước nhất định trước khi xử lý tiếp tục (kể cả thiêu hủy)

- Dùng công nghệ xử lý hóa - lý là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hóa học để làm thay đổi tính chất của chất thải, nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năng nguy hại của chúng đối với môi trường Công nghệ này rất phổ biến khi áp dụng biện pháp thu hồi và tái chế chất thải, đặc biệt là các loại chất thải có chứa các chất độc hại (như dầu mỡ, kim loại

Trang 13

nặng, dung môi, v.v ) Công nghệ xử lý hóa - lý cũng được áp dụng trong quá trình tái chế

và thu hồi vật liệu Thường quá trình này chỉ thực sự mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường đối với những nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại để có thể thu hồi sản phẩm dùng được từ chất thải Một số biện pháp hóa - lý thông dụng trong xử lý chất thải như sau:

+ Chiết: là quá trình tách các cấu tử ra khỏi hỗn hợp nhờ một hệ dung môi

có khả năng hòa tan chọn lọc một số chất trong hỗn hợp đó Trong xử lý chất thải, quá trình chiết thường được ứng dụng để tách hoặc thu hồi các chất hữu cơ có lẫn trong chất thải dầu mỡ, dung môi, hóa chất bảo vệ thực vật, v.v Sau khi chiết, người ta thường thu hồi lại dung môi bằng cách chưng cất hỗn hợp Sản phẩm chiết còn lại có thể được tái sử dụng hoặc xử

lý bằng cách khác

+ Chưng cất: là quá trình tách hỗn hợp chất lỏng bay hơi thành những

cấu tử riêng biệt dựa vào độ bay hơi khác nhau ở những nhiệt độ sôi khác nhau của mỗi cấu tử chứa trong hỗn hợp đó bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần bay hơi và ngưng tụ Quá trình chưng cất dựa trên cơ sở là các cấu tử của hỗn hợp lỏng có nhiệt độ sôi khác nhau, khi đun nóng, những chất có nhiệt độ sôi thấp hơn sẽ bay hơi trước và được tách riêng ra khỏi hỗn hợp

Trong thực tế xử lý chất thải, quá trình chưng cất thường gắn với quá trình chiết để tăng cường khả năng tách sản phẩm Trong các quá trình

Trang 14

nhiệt phân các chất thải hữu cơ, các phương pháp chiết và chưng cất cũng thường được kết hợp sử dụng

+ Kết tủa, trung hòa: dựa trên phản ứng tạo sản phẩm kết tủa giữa chất

bẩn (tạp chất) và hóa chất để tách chất bẩn ra khỏi dung dịch Quá trình này thường được ứng dụng để tách các kim loại nặng trong chất thải lỏng ở dạng hyđroxyt kết tủa hoặc dạng muối không tan Ví dụ như việc tách Cr, Ni trong nước thải mạ điện nhờ phản ứng giữa Ca(OH)2 với các ion Cr3+ (khử từ Cr VI) và Ni2+ tách các kết tủa Cr(OH)3, Ni(OH)2 có thể thu hồi

+ Oxy hóa - khử: là quá trình sử dụng các tác nhân oxy hóa - khử để tiến

hành phản ứng oxy hóa - khử, chuyển chất thải độc hại thành không độc hại hoặc ít độc hại hơn

Trong thực tế ở Việt Nam, với mục tiêu đề xuất các giải pháp công nghệ

và quản lý phù hợp để thu hồi, tái sử dụng, xử lý hoặc thải bỏ an toàn một số loại hình chất thải công nghiệp nguy hại điển hình tại Tp.Hồ Chí Minh, phục vụ cho công tác quản lý quy hoạch và quản lý chất thải công nghiệp nguy hại và BVMT, một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất thực hiện đề tài xử lý 10 nhóm chất thải công nghiệp nguy hại điển hình.: 1/ dầu nhớt thải (xử lý theo hướng chưng cất đơn giản kết hợp chưng cất phân đoạn nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị cao); 2/ chất thải nhiễm dầu – cặn dầu (xử lý theo hướng chế biến thành nhiên liệu rắn để thu hồi nhiệt); 3/ chất thải hữu cơ tạp – hóa chất bảo vệ thực vật tồn đọng (xử lý theo phương pháp oxy hóa nâng cao ở nhiệt độ thấp); 4/ chất thải bùn

Trang 15

chứa kim loại nặng (xử lý theo phương pháp ổn định đóng rắn – sản xuất gạch ceramic); 5/ bùn thải nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật - cống rãnh, chất lắng kênh rạch (xử lý theo phương pháp sinh học dùng chế phẩm Daramend và sản xuất phân bón; 6/ chất vô cơ tạp - ắc quy thải (xử lý theo hướng thu hồi chì và sản xuất sản phẩm phụ); 7/ đất nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật (xử lý theo hướng khử ô nhiễm bằng nhiệt áp dụng công nghệ ISTD); 8/ chất thải từ ngành sản xuất sơn – vecni (xử lý bằng phương pháp đốt); 9/ vụn kim loại nhiễm hóa chất (xử lý theo hướng tái chế thu hồi kim loại có bộ phận làm sạch trước khi tái chế); 10/ xỉ kẽm

từ ngành mạ (xử lý theo hướng thu hồi kim loại để sản xuất các sản phẩm phụ - bột màu hoặc muối dùng trong sản xuất phân bón)

Ngoài ra tác giả còn đề xuất các giải pháp quản lý các loại hình chất thải công nghiệp nguy hại điển hình phù hợp với điều kiện Thành phố và các khu chế xuất – khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ và vừa, các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trong khu vực

III CÁC BIỆN PHÁP TIÊU HUỶ CHẤT THẢI

III.1 Xác định chất thải cần tiêu huỷ và các thủ tục pháp lý cần thiết

Ngoài việc sử dụng các kết quả nghiên cứu và phân tích để kiểm soát, điều khiển các quá trình sản xuất trong CNHC và nắm bắt đặc điểm của các sản phẩm, người ta còn sử dụng các kết quả này để xác định tính

Trang 16

chất của các chất thải và đưa ra những quy trình tiêu hủy chất thải hợp

lý Những số liệu phân tích đối với các chất thải cần huỷ bỏ được đưa ra

và các thông tin này cũng được sử dụng khi bốc xếp, lưu trữ và lựa chọn phương pháp tiêu huỷ chất thải thích hợp

Tuỳ theo từng trường hợp, việc tiêu huỷ và vận chuyển chất thải chỉ được tiến hành khi được phép của các cơ quan có thẩm quyền Người ta phải lập các hồ sơ với các thông số có liên quan theo đúng quy định trước khi tiến hành thiêu huỷ chất thải

III 2 Tiêu hủy bằng cách đốt chất thải

Những loại chất thải dân dụng hoặc công nghiệp các dạng (rắn, dạng bột nhão và lỏng) phát sinh từ những hoạt động bình thường của con người nhưng không thể được chôn lấp vì các lý do (nhất là chứa các cấu tử gây hại tới môi trường nước ngầm, đất), hoặc là có thể cho phép tận thu được năng lượng nhiệt khi đốt là những đối tượng thích hợp cho quá trình đốt hủy chất thải Yêu cầu nghiêm ngặt là khi đốt các chất thải chỉ bị cháy

mà không được phát nổ

Đốt là quá trình oxy hóa chất thải ở nhiệt độ cao Công nghệ này rất phù hợp để xử lý các chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại hữu cơ như cao su, nhựa, giấy bẩn, da, cặn dầu, dung môi, thuốc bảo vệ thực vật

và các loại bao bì của chúng Đặc biệt là chất thải y tế là đối tượng thường được quy định thiêu hủy Theo các tài liệu kỹ thuật thì khi thiết

kế lò đốt chất thải phải đảm bảo 4 yêu cầu cơ bản: cung cấp đủ oxy cho

Trang 17

quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào buồng đốt một lượng không khí dư; khí dư sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì đủ lâu trong lò đốt để được đốt cháy hoàn toàn (thông thường không ít hơn 4 giây); nhiệt độ phải đủ cao (thông thường cao hơn 1.000o C) và có đủ oxy Công nghệ thiêu đốt có nhiều ưu điểm như khả năng tận dụng nhiệt, xử

lý triệt để khối lượng, sạch sẽ, không tốn đất để chôn lấp nhưng cũng có một số hạn chế như chi phí đầu tư, vận hành, xử lý khí thải lớn và dễ tạo

ra các sản phẩm phụ nguy hiểm (khí thải, bã rắn)

Trước khi đốt, mỗi chất thải cần được nghiên cứu, điều tra kĩ lưỡng về mặt vật lý và hoá học Mục tiêu của việc nghiên cứu, điều tra này là để nắm được các giới hạn phát thải liên quan tới an toàn và vệ sinh công nghiệp cùng các tiêu chuẩn về phòng chống cháy nổ cần thiết Những kết quả nghiên cứu, điều tra này cho phép phân loại các chất thải và đưa

ra các quy trình đốt hủy tối ưu

Hiện nay quá trình thiêu hủy thường được tiến hành trong những thống thiết bị đốt chuyên dụng như các lò quay, lò tầng sôi và các lò nung nhiều buồng hoặc trong lò công nghiệp Hiện tại, một số nơi trên thế giới người ta đang quan tâm đến việc liên kết với các nhà máy xi măng để xử

lý một số loại chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại trong lò nưng xi măng Ở nước ta đã có dự án đốt thử nghiệm tại Nhà máy Xi măng Holcim ở Kiên Giang Tuy nhiên, để triển khai được theo hướng này, cần có thời gian chuẩn bị nhiều mặt, cả về pháp lý, nguồn lực thu

Trang 18

gom vận chuyển cũng như sự đồng thuận của cộng đồng và doanh nghiệp

Để làm sạch khí thải người ta thường dùng các quá trình rửa khí Các khí thải được làm nguội và năng lượng nhiệt của khí thải có thể được tận dụng để sản xuất hơi nước cho các mục đích khác nhau

Tại khu vực sản xuất của hãng BASF, các chất thải dạng rắn, dạng sệt và lỏng dễ cháy được đốt trong các lò đốt kết hợp với hệ thống thu hồi năng lượng (nồi hơi nước quá nhiệt, áp suất cao để cung cấp cho mạng thiết bị của khu sản xuất) Để sử dụng nhiệt của các khí thải nhiệt độ thấp (180-

3000C) người ta lắp đặt các nồi hơi tận dụng nhiệt thải thu hơi nước ở áp suất 5 bar Như vậy năng lượng được tận dụng triệt để Ngoài ra, tại hãng này người ta còn lắp đặt các thiết bị làm sạch khói của các lò Mỗi thiết bị làm sạch khói kể trên bao gồm một bộ lọc tĩnh điện (để lọc bụi)

và một bộ lọc khí ba giai đoạn Những thiết bị này còn được trang bị thêm các chất xúc tác để giảm phát thải NOx và các hợp chất đioxin Các thiết bị của hãng BASF đã đốt hàng trăm nghìn tấn chất thải/ năm và liên tục được nâng cấp để có công suất ngày càng lớn hơn

Hãng Hoechst cũng lắp đặt hệ thống thiết bị đốt chất thải công suất lớn (50 nghìn tấn/năm) Phần trung tâm của hệ thống thiết bị là lò quay Sau

lò quay là buồng đốt phụ để đốt hoàn toàn khói thải ở nhiệt độ cao hơn Quá trình đốt được kiểm soát nhờ những hệ thống điều khiển chính xác Năng lượng được thu hồi dưới dạng hơi nước Tro phát thải được lọc tĩnh

Trang 19

điện Trong bộ rửa khí thải hai bước, các khí gây ô nhiễm như HCl, SO2

được trung hoà

Khí ống khói đã rửa và lọc được cho qua xúc tác để giảm hàm lượng

NOx và những lượng vết còn lại của các hợp chất hữu cơ

Nước thải rửa khí được cho qua thiết bị xử lý nước thải để tách kim loại nặng và các hợp chất đioxin Bùn thải (chỉ cỡ 100 tấn/ năm) chứa những kim loại nặng được ép lọc và đóng bánh, hoặc sẽ được chôn lấp Trong nước thải chỉ còn lại các muối không nguy hiểm như natri clorua và natri sunfat nồng độ thấp, sau khi qua xử lý sinh học sẽ được thải ra môi trường

Hãng Bayer và một số hãng sản xuất hoá chất khác cũng lắp đặt các thiết

bị đốt chất thải theo kỹ thuật tương tự để tận dụng nhiệt và giảm phát thải các chất độc hại vào môi trường

Kết quả đo kiểm hệ thống đốt chất thải tại một số công ty hóa chất châu

Âu cho thấy với công suất của thiết bị đốt đạt trên 6 tấn/giờ thì mức phát thải CO2 và các yếu tố độc hại khác không cao, nhất là nồng độ NOx và

CO phát thải rất thấp (chỉ ở mức phát thải của một chiếc ôtô bình thường)

Bản thân các loại bùn thải phát sinh từ công đoạn xử lý nước thải cũng được nghiên cứu xử lý tiếp Tại hãng BASF và nhiều hãng khác, hàng năm có hàng nghìn tấn bùn (dạng khô), được loại nước (tới cỡ 40% hàm lượng khô), trộn với than cám và tro (những chất trợ lọc thải) sau đó

Trang 20

được dùng làm nhiên liệu đốt lò Nhiệt thu được cũng được sử dụng để phát hơi nước Ngoài việc độn than đá để tăng cường khả năng cháy của bùn, người ta còn dùng thêm nhiên liệu từ ngoài (khí thiên nhiên) để đốt bùn

Các loại tro bụi được thu từ thiết bị lắng tĩnh điện cũng được thu gom, sử dụng Trong tro có thể có các kim loại có giá trị, nên các loại tro này có thể được xử lý trong một số công đoạn của công nghiệp khai khoáng để thu kim loại

Thực ra đến nay vấn đề thiêu hủy chất thải (rác) để thu năng lượng vẫn còn là một chuyên đề gây tranh cãi Phil Davis, một nhà khoa học của tổ chức " Birmingham Friends of the earth " đã công bố bài viết của mình phản đối việc đốt chất thải thu năng lượng trên Internet Theo Phil Davis, các nước cần phải có chiến lược về quản lý chất thải ở cấp quốc gia Chiến lược này dựa trên một quá trình ra quyết định gồm 4 bước: 1/ Nếu có thể, hãy tránh việc sản sinh ra chất thải

2/ Khi không tránh được việc sản sinh ra chất thải, nếu có thể hãy tái chế chúng

3/ Nếu chất thải không thể tái chế được để làm các vật liệu khác thì hãy thu hồi năng lượng chứa trong chúng

4/ Khi các bước trên không thể tíến hành được, khi đó cần xem xét biện pháp tốt nhất để thải bỏ chúng

Trang 21

Ông nêu ra các quan điểm về việc tại sao không nên sử dụng lò thiêu hủy chất thải:

- Một lò thiêu hủy chất thải đòi hỏi vốn đầu tư rất cao; để nó hoạt động hiệu quả, cần phải có một nguồn chất thải ổn định trong một thời gian dài (khoảng 25 năm) Do đó chính nó ( lò thiêu hủy) lại làm hạn chế khả năng phát động các phong trào giảm thải

- Các lò thiêu hủy sản sinh ra tro và xỉ (khoảng 25% trọng lượng chất thải ban đầu), và các chất này vẫn phải chôn lấp Tro này nhìn chung độc hại do chứa các kim loại nặng như chì, cađmi, thủy ngân và có thể đe dọa nguồn nước ngầm

- Lượng năng lượng thu hồi được từ các lò thiêu hủy chất thải có thể chỉ đạt hiệu suất chuyển đổi năng lượng thấp (25%), dẫn đến tổn thất lớn về tài nguyên chưa kể nếu áp dụng biện pháp này, các lò thiêu hủy cần một lượng lớn nhiên liệu, giấy, các chất hữu cơ để duy trì hoạt động Do đó,

nó sẽ cạnh tranh với các chương trình tái chế các nguồn tài nguyên này

- Các thiết bị lọc, rửa khí thải từ các lò đốt không giúp cho chúng ta xử

lý các chất độc mà chỉ chuyển các chất ô nhiễm không khí vào nước ngầm

III.3 Tiêu huỷ bằng cách chôn lấp chất thải

Các khía cạnh kỹ thuật, tổ chức hoạt động chôn lấp và các yêu cầu đối với chất thải cần tiêu huỷ bằng phương pháp chôn lấp chính là những

Trang 22

vấn đề đang được nhiều nước quan tâm và đưa ra với những quy định cụ thể Mục tiêu của các quy định mà các nước đưa ra là nhằm bảo vệ các nguồn nước ngầm Chôn lấp hợp vệ sinh là biện pháp tiêu hủy chất thải được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới Trước đây, nhiều quốc gia tiên tiến như Anh, Nhật Bản cũng dùng biện pháp chôn lấp, kể cả một số loại chất thải hạt nhân, lây nhiễm hoặc độc hại Nhưng trước khi chôn lấp, các chất thải phải được cách ly an toàn bằng các vật liệu phù hợp như chì, bê tông nhiều lớp để chống phóng xạ (nếu có) Theo công nghệ này, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn hoặc sau khi đã được cố định ở dạng viên, sẽ được chôn lấp Phương pháp kỹ thuật thường được sử dụng khi chôn lấp là dùng các lớp cách ly nền (với ít nhất 2 lớp lót chống thấm khi chôn lấp Các lớp cách ly này có thể là tự nhiên (chẳng hạn nền đất sét) hoặc nhân tạo (chẳng hạn như trải tấm chất dẻo không thấm) Hố chôn có hệ thống thu gom nước rò rỉ để xử lý, có

hệ thống thoát khí, có giếng khoan để giám sát khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm

Địa điểm xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn phải cách xa khu dân cư ít nhất trên 5 km, giao thông thuận lợi; nền đất phải ổn định, chống thấm tốt; mực nước ngầm thấp, v.v… Việc xây dựng hố chôn lấp chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn phải theo đúng các quy chuẩn thiết kế về kích thước,

độ dốc, các lớp chống thấm đáy và vách, về xử lý nước rò rỉ, khí gas, v.v… Dịch rỉ tạo thành trên lớp lót chảy theo các máng, được gom lại và

Trang 23

chuyển tới nơi xử lý Các lớp lót được giám sát liên tục và khi phát hiện thấy rò rỉ cần được sửa chữa lại ngay

Để tăng cường hiệu quả sử dụng hố chôn, việc chôn lấp chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn thường kết hợp với việc cố định và đóng rắn chất thải trước khi chôn thông qua việc đưa thêm những chất liệu khác vào chất thải để làm thay đổi tính chất vật lý, tăng sức bền, giảm độ hòa tan của chất thải và giảm độ lan truyền các yếu tố độc hại ra môi trường Biện pháp này cũng thường được áp dụng trong trường hợp của các chất thải không thể sử dụng các biện pháp tái chế hay đốt hủy Vật liệu để đóng rắn phổ biến là xi măng, hoặc có thể trộn thêm vào đó một vài chất vô cơ khác để tăng độ ổn định và độ bền kết cấu Tỷ lệ xi măng phối trộn nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loại chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại dạng rắn cụ thể Thông thường sau khi đóng rắn hoàn toàn, người ta sẽ tiến hành kiểm tra khả năng hòa tan của các thành phần độc hại trong mẫu đã đóng rắn bằng cách phân tích nước dịch lọc để xác định một số chỉ tiêu đặc trưng rồi so sánh với tiêu chuẩn Nếu đạt tiêu chuẩn sẽ được phép chôn ở bãi rác công nghiệp, nếu không đạt thì phải tăng thêm tỷ lệ xi măng (hoặc chất đóng rắn) cho đến khi đạt tiêu chuẩn Ở Việt Nam hiện nay chưa có các tiêu chuẩn này Chúng ta có thể tham khảo tiêu chuẩn chôn lấp của Nhật Bản Theo tiêu chuẩn này, chất thải rắn chỉ cần ngâm và khuấy trộn liên tục 6 giờ trong nước cất, sau đó lọc và phân tích dịch lọc để xác định một số chỉ tiêu đặc trưng cho loại chất thải đó, rồi so sánh với bảng tiêu chuẩn

Trang 24

IV TẬN DỤNG CÁC CHẤT THẢI TỪ SẢN PHẨM

Các loại sản phẩm, đồ đạc, dụng cụ sau thời gian sử dụng sẽ bị hỏng và trở thành chất thải Ngoài các biện pháp xử lý chất thải như đã trình bày phần trên, trong quản lý chất thải, tùy theo đặc tính của chúng mà người

Hiện nay nhiều nước đang đẩy mạnh việc tái chế chất thải Ở châu Âu lượng chất thải tái chế cho những số liệu khá ấn tượng: Phần Lan tái chế khoảng 20% tổng lượng chất thải rắn, Đức 10% và ít nhất là Anh 5% (1 triệu tấn/20 triệu tấn) Trong khi đó, theo đánh giá là có khoảng 50% lượng chất thải rắn ở các nước này có thể tái chế được

Dưới đây là một vài ví dụ về khả năng tái chế các chất thải công nghiệp

IV.1 Tái chế các chất dẻo

Để có thể dễ dàng tái chế, người ta tiến hành thu gom các đồ dùng chất dẻo qua sử dụng (thải) ở dạng càng sạch càng tốt, sau đó phân loại thành các lô theo chất liệu, theo giá trị hoặc tính chất riêng Trong những năm

Trang 25

qua nhiều nhà sản xuất trên thế giới đã đầu tư lắp đặt các cơ sở tái chế chất dẻo để tận dụng vật liệu và giảm chi phí xử lý chất thải

Tái chế chất thải polypropylen (PP):

Hãng Hoechst đã lắp đặt một dây chuyền tái chế PP tại một vài nơi ở Đức Đầu tiên người ta chọn lựa và phân loại những vật liệu thải (ví dụ các bộ phận ôtô, thiết bị), tiếp theo vật liệu được nghiền nhỏ Bột nghiền được trộn với bột PP mới và các phụ gia, sau đó được gia công (đùn ép, đúc khuôn) để chuyển thành các sản phẩm mới theo yêu cầu

Sản phẩm có chứa nguyên liệu đi từ PP tận dụng có chất lượng không thua kém nhiều so với đi từ nguyên liệu gốc và có giá thành rất cạnh tranh

Tái chế chất thải polyvinylclorua (PVC):

Hãng Hoechst là đơn vị đi tiên phong trong việc tận dụng chất thải PVC Một xưởng tái chế chất thải PVC qua sử dụng của hãng này đã được xây dựng ở Gendorf (Đức) với nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu là ba via màng PVC cứng từ những thiết bị thổi màng hoặc các sản phẩm PVC đã qua sử dụng Xưởng có công suất 4 nghìn tấn/ năm Sản phẩm thải được chọn lọc và phân loại theo chất lượng, màu sắc và được nghiền để loại

bỏ các tạp chất (như giấy, gỗ và các chất dẻo khác) Sau đó nhựa PVC thải được rửa sạch và được nghiền lại Sau các bước này, PVC được phối trộn thành nguyên liệu tạo màng PVC Vật liệu này chỉ được dùng làm bao gói phi thực phẩm và những ứng dụng kỹ thuật khác

Trang 26

Tái chế chất thải polyetylenterephtalat (PET):

Hãng Hoechst cũng là đơn vị đã lắp đặt một xưởng tái chế nhựa PET có công suất 70 nghìn tấn nhựa PET thải/ năm tại Wilmington (Delaware) Công nghệ được dùng ở đây không đơn thuần chỉ là thu gom, chọn lọc

và nghiền Để tái chế các chất thải PET, Hoechst còn áp dụng công nghệ

xử lý hóa học Theo đó vật liệu PET thải được cho qua quá trình metanol phân Còn ở Offenbach, hãng này cũng dựng một xưởng tái chế PET (công suất 5 nghìn tấn nhựa PET thải/ năm) theo công nghệ glycol phân

để thu các vật liệu gốc

Tái chế các vật liệu bao bì đựng hoá chất đã qua sử dụng

Trong một dự án pilot ở Verband der Chemischen Industrie (Đức), hãng Hoechst đã lắp đặt một dây chuyền thiết bị để huỷ vỏ thùng đựng hoá chất bằng chất dẻo Sau khi được xử lý sơ bộ, làm sạch, làm khô, kiểm tra, các vỏ thùng được nghiền nhỏ Bột chất dẻo lại được rửa sạch và sấy khô Các tạp chất bằng sắt, thép được tách loại (theo phương pháp từ) Bột chất dẻo khô được đưa đến công đoạn gia công lại thành các thùng đựng hoá chất mới (có thể tính toán pha thêm bột chất dẻo gốc)

Nhiều hãng khác cũng lắp đặt các dây chuyền thiết bị tương tự Ví dụ hãng BASF cũng từng lắp đặt một dây chuyền có công suất xử lý 330 nghìn vỏ thùng hoá chất thải/ năm

Tái chế các chất dẻo thải hỗn tạp theo phương pháp chế biến sâu:

Trang 27

Hãng BASF đã xây dựng một thiết bị công suất 15 nghìn tấn/năm để tái chế hỗn hợp các phế thải chất dẻo hỗn tạp thành nguyên liệu dầu khí

Việc chuyển hoá hỗn hợp chất dẻo thành các nguyên liệu dầu khí được tiến hành theo công nghệ cracking nhiều giai đoạn Giai đoạn chuyển hoá đầu tiên là làm chảy hỗn hợp chất dẻo và và dehalogen hoá Hyđro clorua (HCl) thoát ra được hấp thụ thành axit clohyđric Các sản phẩm hữu cơ dạng khí được nén lại và có thể được sử dụng như những nguyên liệu hoá dầu Các phần lỏng được chuyển hoá sâu hơn bằng cách cấp tới tháp chưng cất để tách naphta, các olefin và các hợp chất vòng thơm Các hợp chất có độ sôi cao và phần cặn bi tum được chuyển hoá tiếp thành khí tổng hợp dùng làm nhiên liệu hoặc chuyển hóa tiếp trong những quá trình sản xuất khác

IV.2 Tái chế các môi chất làm lạnh

Ngay từ năm 1989 hãng Hoechst đã tìm đầu ra cho các hợp chất cloflocacbon (CFC), là các môi chất làm lạnh bị cấm sử dụng vì các lý

do môi trường theo nghị định thư Kyoto (hạn chót vào năm 1994) Các CFC làm hỏng tầng ozôn sẽ được thay thế bằng R134a, là chất ít gây hiệu ứng nhà kính hơn (giảm tới 90% so với các CFC)

Các môi chất làm lạnh thải chứa các CFC được cắt mạch (cracking) bằng nhiệt, đồng thời các axit clohyđric và (HCl) và flohyđric (HF) được thu hồi Những axit này được sử dụng làm nguyên liệu cấp cho những quá trình sản xuất khác

Trang 28

IV.3 Thu hồi các kim loại màu từ bã thải rắn của công nghiệp mạ

Hiện nay các kim loại màu, trong đó có crôm, niken là các vật liệu quý hiếm Do trữ lượng Ni từ các mỏ khai thác của thế giới ngày cạn kiệt nên giá Ni liên tục tăng

Ở nước ta, nguồn cung cấp crôm, niken cho sản xuất trong nước hoàn toàn phải nhập khẩu với giá cao (gần 1 triệu đồng/kg Ni) Nhiều cơ sở

mạ kim loại hàng năm phải bỏ ra lượng lớn ngoại tệ để nhập các vật liệu chứa các kim loại này, trong khi đó có những cơ sở lại tồn đọng một lượng khá lớn chất thải có chứa các kim loại này

Viện Khoa học Vật liệu (thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

đã nghiên cứu công nghệ xử lý và tái sử dụng bã thải rắn trong công nghiệp mạ crôm-niken nhằm tái chế thu hồi Cr, Ni

Kết quả cho thấy từ những chất thải của công nghệ mạ người ta có thể thu được muối niken sunfat chất lượng cao đã đáp ứng được tiêu chuẩn của ngành mạ

Công nghệ thu hồi kim loại màu cũng được áp dụng tại Công ty sản xuất phụ tùng ô-tô xe máy Goshi - Thăng Long, nơi có với dây chuyền mạ vào loại lớn nhất Đông Nam Á với lượng chất thải hàng năm lên đến hàng trăm tấn và hàm lượng Ni có trong chất thải khô lên tới 10-20% (loại chất thải này được xếp vào nhóm các chất thải nguy hại) Như vậy, chỉ riêng lượng bã thải mạ của Công ty Goshi - Thăng Long đã cho phép thu hồi được hàng chục tấn Ni mỗi năm với giá trị lên tới hàng chục tỷ

Trang 29

đồng, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí xử lý chất thải

V XU THẾ QUẢN LÝ CHẤT THẢI

Có thể thấy rõ các kết quả quản lý chất thải ở hai lĩnh vực: đó là giảm bớt các chất thải trong quá trình sản xuất (trên cơ sở áp dụng biện pháp sản xuất- BVMT tổng thể) và xử lý loại bỏ (hoặc tận dụng) chất thải phát sinh từ dây chuyền sản xuất trên cơ sở áp dụng các biện pháp kỹ thuật

xử lý hoặc huỷ bỏ

Trong các trường hợp xử lý hoặc huỷ bỏ, các kỹ thuật đã sử dụng gồm

có biện pháp loại bỏ bằng cách chôn lấp thích hợp hoặc thiêu hủy và thu hồi năng lượng Các hãng sản xuất hoá chất lớn của thế giới như BASF, Bayer, và Hoechst đã áp dụng rất nhiều biện pháp trong quản lý chất thải

và cũng có nhiều thông tin về các vấn đề này Trong những năm qua, các hãng hoá chất lớn trên thế giới đã phải xử lý hàng triệu tấn chất thải, kể

cả các chất thải độc hại Đặc biệt có thể thấy càng ngày người ta càng tăng cường áp dụng phương pháp thiêu hủy chất thải để thu hồi năng lượng và giảm dần lượng chất thải cần chôn lấp

Nhận thức mới nhất hiện nay về quả lý chất thải dựa trên quan điểm kinh

tế và môi trường trong CNHC là áp dụng các biện pháp sản xuất - BVMT tổng thể Để làm được điều này, các nhà sản xuất cần phải có kế hoạch lựa chọn kỹ càng công nghệ sản xuất, thiết kế quy trình và lựa chọn thiết bị tối ưu Đối với các dây chuyền thiết bị sản xuất đang tồn

Trang 30

tại, để thực hiện được giải pháp sản xuất - BVMT tổng thể, nhà sản xuất phải thiết kế lại quy trình và trang bị thêm thiết bị, hướng tới mục tiêu tái

sử dụng các chất tồn dư (hoặc chất thải) nhằm giảm bớt và ngăn ngừa sự phát thải các chất, vừa gây ô nhiễm vừa gây lãng phí lớn Bởi vì “ngăn ngừa sự ô nhiễm chính là cách giải quyết vấn đề ô nhiễm thoả đáng nhất” cũng chính là tiêu chí của nội dung quản lý chất thải hiện nay Tất nhiên việc áp dụng các biện pháp này phải mang tính lâu dài và phải thoả mãn được cả các mục tiêu kinh tế

Ngoài ra cũng cần lưu ý áp dụng các quy trình công nghệ mới để tái chế, tận dụng các chất phế thải từ sản phẩm đã qua sử dụng, cũng như áp dụng các công nghệ huỷ bỏ thích hợp đối với các chất thải sản xuất cần được huỷ bỏ Việc hợp lý hoá trong sản xuất sẽ bảo đảm việc sử dụng tài nguyên đáng tin cậy và kinh tế hơn Sự hài hoà giữa sinh thái và kinh tế

chính là sự hài hoà cần thiết góp phần phát triển của xã hội tương lai

Trang 31

Phần III

CƠ HỘI SẢN XUÂT- BVMT TỔNG THỂ

VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI CỦA CNHC TẠI VIỆT NAM

I HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TRONG CNHC

I.1 Hiệu quả sử dụng năng lượng, vật liệu và vấn đề môi trường trong ngành công nghiệp

Trong thực tế sản xuất của nhiều cơ sở thuộc sản xuất công nghiệp ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, đó là:

1/ Tiết kiệm năng lượng trong doanh nghiệp còn bị bỏ ngỏ

Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Tư vấn quốc gia về sử dụng hiệu quả năng lượng cho thấy khả năng tiết kiệm năng lượng (TKNL) của các ngành công nghiệp ở Việt Nam còn rất lớn Ví dụ như công nghiệp xi măng có thể TKNL tới gần 50%; dệt may 25%; thép và chế biến thực

Trang 32

phẩm 20% Kết quả tính toán và thực tế cho thấy chỉ cần thay bóng đèn sợi đốt bằng bóng đèn huỳnh quang cũng có thể tiết kiệm tới 60-75 % chi phí chiếu sáng Bằng biện pháp tiết kiệm giản đơn này những doanh nghiệp lớn đã có thể tiết kiệm mỗi năm hàng trăm nghìn kWh điện Theo các chuyên gia, các doanh nghiệp nhà nước lâu nay kinh doanh theo cơ chế "lời ăn, lỗ Nhà nước chịu" Tư tưởng "cha chung không ai khóc" đã dẫn tới tình trạng thiếu ý thức tiết kiệm năng lượng; không chịu cải tiến và áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng Bộ Công Thương cũng thừa nhận công nghiệp Việt Nam đã lãng phí quá nhiều năng lượng Cụ thể để có được 1 USD cho GDP thì Việt Nam mất trên 1 kWh điện; trong khi Hàn Quốc mất 0,518 kWh, Malayxia mất 0,740 kWh,

Philipin cũng chỉ cần 0,512 kWh (nguồn: LĐ, 25/7/2008)

Nhiều doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp đã ứng dụng một số sáng kiến, kỹ thuật góp phần TKNL, trong đó có năng lượng điện, tuy nhiên kết quả các giải pháp tiết kiệm thu được còn rất hạn chế

Bên cạnh khả năng TKNL, trên thực tế chúng ta có thể thấy tại các cơ sở sản xuất vẫn tồn tại những nguồn năng lượng như nhiệt năng của đuôi hơi nóng, khí lò nhiệt độ cao, nước làm nguội sản phẩm , nhất là những nguồn nhiệt quy mô nhỏ, không tập trung thường bị bỏ phí Nguyên nhân của sự lãng phí này là do trong quá trình thiết kế công nghệ, các nhà thiết kế đã bỏ qua hoặc do công nghệ thiếu đồng bộ, do không tìm được nhu cầu tiêu thụ hoặc do nhiều nguyên nhân khác

Trang 33

Nước ta đang xây dựng chiến lược phát triển kinh tế mới Trong chiến lược này, Nhà nước cần xem xét phát triển cái gì và như thế nào để TKNL Bên cạnh chiến lược phát triển năng lượng của Nhà nước, mỗi

cơ sở doanh nghiệp cũng cần phát triển các giải pháp về tiết kiệm, trong

đó có TKNL, để đảm bảo sản xuất hiệu quả

2/Sử dụng lãng phí vật liệu, tài nguyên

Đây cũng là vấn đề thường xảy ra đối với các nước có nền công nghệ sản xuất công nghiệp còn thấp như nước ta Trong nhiều quy trình công nghệ sản xuất có sử dụng tài nguyên trong nước, tỷ lệ tài nguyên được

sử dụng hữu ích không cao, nhiều vật liệu đi kèm trong tài nguyên không được chú ý tận dụng tốt, gây lãng phí lớn

Những trường hợp dùng tài nguyên quý hiếm để sản xuất ra sản phẩm ít giá trị (trong khi nếu có công nghệ thích hợp thì có thể cho sản phẩm có giá trị cao hơn) hoặc xuất khẩu nguyên liệu thô (dầu thô, than đá, các loại quặng khoáng, v.v ) cũng đang là một dạng lãng phí tài nguyên ở nước ta

3/ Vấn đề quản lý môi trường công nghiệp vẫn còn nhiều bất cập

Quản lý môi trường công nghiệp, trong đó có vấn đề quản lý chất thải là một trong những công tác quan trọng trong phát triển công nghiệp ở nước ta được giao cho Bộ Khoa học Công nghệ- Môi trường trước đây (nay chuyển chức năng sang Bộ Tài nguyên –Môi trường) và Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) phối hợp thực hiện Riêng Bộ Công

Trang 34

nghiệp (nay là Bộ Công Thương) trong mấy năm gần đây đã triển khai một số đề án về quản lý chất thải Đặc biệt có một số đề án sau:

1 Đề án Tăng cường hoạt động quản lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp

Đề án đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt tại Quyết định số 3523/QĐ-BCN ngày 25/10/2005 với nội dung cụ thể và kế hoạch triển khai đến 2010, nhằm đạt được các yêu cầu là hạn chế ô nhiễm, khắc phục suy thoái môi trường tại địa bàn các đô thị và khu công nghiệp (KCN) Đến năm 2010, thực hiện xong việc lập quy hoạch quản lý chất thải rắn tại các KCN, thu gom, vận chuyển và xử lý 90% chất thải rắn ở KCN, xử lý trên 60% chất thải rắn nguy hại bằng những công nghệ phù hợp

Trong 2 năm 2006 và 2007, Bộ đã giao Công ty CP Thiết kế Công nghiệp Hóa chất thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn công nghiệp và xây dựng các dự án, nhằm đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn công nghiệp” để đánh giá đầy đủ hiện trạng quản lý, phát sinh và xử lý chất thải rắn công nghiệp Dự án đã tiến hành điều tra tình hình quản lý chất thải rắn tại 6 ngành công nghiệp trong đó

có ngành hóa chất, đồng thời, xây dựng các giải pháp thúc đẩy quản lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn nguy hại

Năm 2008, Bộ Công Thương đã giao cho Vụ Khoa học và Công nghệ thực hiện dự án “Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý chất thải rắn

Trang 35

công nghiệp”, nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp các ngành khai thác, chế biến khoáng sản kim loại, hóa chất cơ bản về phân loại, bảo quản, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, thải bỏ các chất thải nguy hại, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp

2 Đề án Hạn chế và giảm dần việc sử dụng hóa chất độc hại, các bao

bì làm từ các loại vật liệu khó phân hủy trong công nghiệp, thay thế bằng các nguyên, vật liệu thân thiện môi trường

Đề án đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt tại Quyết định số 3524/QĐ-BCN ngày 25/10/2005, với nội dung cụ thể và kế hoạch triển khai đến năm 2010 Mục tiêu của đề án là giảm dần việc sử dụng hóa chất độc hại, các bao bì khó phân hủy trong các ngành kinh tế, tiến tới thay thế các hóa chất độc bằng các hóa chất ít độc hơn, sử dụng bao bì làm từ các vật liệu thân thiện hơn, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho con người và gìn giữ môi trường

Trong 2 năm 2006 và 2007, Bộ đã giao Công ty CP Thiết kế Công nghiệp Hóa chất thực hiện dự án “Điều tra đánh giá tình hình quản lý hóa chất độc hại có khả năng thay thế các bao bì khó phân hủy Xây dựng các dự án nhằm hạn chế và giảm dần sử dụng hóa chất độc hại, thay thế bao bì khó phân hủy bằng các nguyên vật liệu thân thiện với môi trường” Bên cạnh đó, thực hiện Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, đã có 45/63 cơ

sở hoàn thành Thực hiện chương trình di dời, có 24/34 cơ sở đã hoàn thành Các cơ sở còn lại chủ yếu thuộc các ngành hóa chất, khai thác,

Trang 36

chế biến khoáng sản với công nghệ lạc hậu, kinh doanh không hiệu quả, đòi hỏi vốn đầu tư lớn để di dời/xử lý tại chỗ, hoặc các thủ tục về chuyển mục đích sử dụng đất, thuê đất nên khó thực hiện đúng tiến độ Ngoài ra Bộ cũng tích cực thực hiện các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường Cụ thể là:

1 Hợp phần Sản xuất sạch hơn (SXSH) trong công nghiệp (CPI): Là một trong 06 Hợp phần của Chương trình phát triển Việt Nam – Đan Mạch về môi trường

2 Hợp phần An toàn hóa chất: Với nội dung chính là hợp tác phát triển thể chế quản lý an toàn ngành Hóa chất Năm 2007, Hợp phần đã phối hợp với chuyên gia an toàn hóa chất Thụy Điển xây dựng và hoàn thiện

Dự thảo Luật Hóa chất, 01 Dự thảo Nghị định và 07 Dự thảo văn bản hướng dẫn kỹ thuật, trong đó Luật Hóa chất đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 12

Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua từ tháng 11/2005, nhưng nhìn chung, đến nay vấn đề bảo vệ môi trường vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc Đặc biệt vấn đề quản lý chất thải ở nhiều khu công nghiệp bị buông lỏng trong thời gian dài và hiện đang ngày càng trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng

Theo một thống kê mới đây, mỗi năm tổng lượng chất thải công nghiệp

ở Việt Nam chiếm 20-25% tổng lượng chất thải cả nước Trong đó, chất thải nguy hại là khoảng 130 nghìn tấn/năm Gần một nửa lượng chất thải

Trang 37

công nghiệp của nước ta tập trung tại các khu công nghiệp thuộc khu vực Đông Nam Bộ (trong đó có Tp Hồ Chí Minh), Hà Nội, và một số địa phương khác Lượng chất thải công nghiệp tại khu vực Tp Hồ Chí Minh là lớn nhất, chiếm đến 31% lượng chất thải công nghiệp của cả nước Hiện nay tại thành phố này có khoảng 30 nghìn xí nghiệp công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sử dụng nhiều hóa chất, hợp chất có đặc tính nguy hiểm (dễ cháy nổ, ăn mòn kim loại, kể cả chất phóng xạ, v.v ) Mỗi ngày các xí nghiệp này thải ra khoảng trên 200 tấn chất thải nguy hại dạng rắn và lỏng gây ô nhiễm môi trường, trong khi đó chỉ có 600 đơn vị (chiếm 2%) đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Tại các địa phương khác, việc quản lý chất thải cũng trong tình trạng tương tự

Đối với chất thải dạng khí, qua điều tra có thể thấy ở nước ta hầu hết các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nằm trong các khu công nghiệp cũ vẫn

sử dụng than và dầu làm nhiên liệu cho quá trình sản xuất Quá trình đốt các nhiên liệu này thải vào không khí một lượng bụi, khí CO, CO2, SO2,

NOx Đây chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí Phần lớn các cơ sở sản xuất đều không có các thiết bị xử lý khí thải hoặc nếu có thì không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả và thường chỉ tập trung vào xử lý bụi

Đối với chất thải dạng lỏng (nước thải), có thể thấy do tính đa dạng của ngành công nghiệp nên thành phần các nước thải cũng rất phức tạp Ngoài các chất ô nhiễm thường gặp như các chất hữu cơ, dầu thải, v.v trong nước thải còn có mặt các chất rất độc hại như các hợp chất xyanua

Trang 38

(từ dây chuyền mạ điện), kim loại nặng (từ các dây chuyền sản xuất bóng đèn, luyện kim, sản xuất ắcquy và điện tử) được thải ra

Một điều đáng báo động là hầu hết các dạng chất thải công nghiệp tại nhiều đơn vị sản xuất đều không được xử lý triệt để Đã có nhiều trường hợp chất thải công nghiệp không hề qua xử lý, được thải thẳng ra môi trường và đã gây hậu quả ô nhiễm rất nghiêm trọng Vụ xả trộm nước thải không qua xử lý của Công ty VEDAN vào sông Thị Vải trong hàng chục năm qua đang là một ví dụ điển hình Việc xả nước thải công nghiệp trong thời gian qua ở khu vực sông này của các đơn vị khác như nhà máy dệt Choong Nam, S.Y Vina, Ching Fa, Phân bón Baconco, Bột

cá East Wind, Phân đạm Phú Mỹ, v.v…, cũng trong tình trạng tương tự Theo thống kê của Sở Tài nguyên- Môi Trường tỉnh Đồng Nai, mỗi ngày sông Thị Vải buộc phải “uống” ít nhất 20 nghìn m3 chất thải độc hại từ các khu công nghiệp trong vùng trong khi tất cả đều chưa có nhà máy xử

lý nước thải

Theo báo cáo của các cơ quan chức năng thì số các đơn vị sản xuất công nghiệp không quản lý tốt chất thải và vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường là rất phổ biến

Vấn đề liên quan các chất thải rắn cũng có nhiều bức xúc không kém vấn

đề khí thải và nước thải Vụ hàng chục nghìn tấn bột tẩy rỉ Nix tại một

cơ sở đóng và sử chữa tàu biển ở miền Trung đến nay vẫn chưa có phương án giải quyết hiệu quả là một trong nhiều ví dụ về các vấn đề liên quan đến chất thải rắn công nghiệp

Trang 39

Trong lĩnh vực hoạt động làng nghề, vấn đề quản lý chất thải sản xuất cũng có nhiều vấn đề được đặt ra Theo thống kê của Trung tâm tài nguyên nước và môi trường (Bộ NN& PTNT), cả nước hiện có khoảng 1.500 làng nghề (riêng khu vực phía Bắc và đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề) Bên cạnh mặt tích cực là giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động (chủ yếu là nông dân) thì hoạt động sản xuất tại các làng nghề đã tác động xấu tới môi trường sống và tình trạng chất thải sản xuất gây ô nhiễm tại các làng nghề hiện ngày càng trầm trọng

Tại làng chạm bạc như Đồng Xâm (tỉnh Thái Bình) người ta sử dụng axit để tẩy rửa kim loại nên trong nước thải có các thành phần kim loại nặng độc hại cao, lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ nhiều lần

Tại làng chế biến tinh bột sắn Cát Quế, Dương Liễu (tỉnh Hà Tây trước đây), nước thải bị ô nhiễm rất nặng với các thành phần COD, BOD trong nước thải rất cao

Tại làng tái chế giấy Phong Khê (tỉnh Bắc Ninh), ngoài việc hàng chục tấn chất thải rắn như giấy, túi nilon, xỉ than không được xử lý đã gây ô nhiễm đất và làm lúa chết, còn có hàng nghìn m3 nước thải có mức ô nhiễm nặng đổ thẳng ra sông

Tại các làng nghề tái chế kim loại (làng Chỉ Đạo - Hưng yên, thôn Mẫn

Xá, Văn Môn - Bắc Ninh) không khí xung quanh suốt ngày đêm bị

Trang 40

nhiễm độc nặng bởi hơi chì, bụi, CO, CO2 Nồng độ chì trong không khí xung quanh vượt tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần

Một điều chắc chắn rằng hầu hết các loại nước thải, chất thải của các làng nghề đều không qua xử lý, thải trực tiếp ra các mương rãnh ao hồ xung quanh đã làm cho môi trường, cây trồng, vật nuôi trong khu vực bị ảnh hưởng trầm trọng Tại một số địa phương có tái chế kim loại, kết quả các mẫu phân tích cho thấy nồng độ chì trong rau muống tại những nơi rửa phế liệu chì rất cao, trên 400mg Pb/kg

Một vấn đề rất đáng lưu ý hiện nay là đi kèm với tải lượng ô nhiễm chung không ngừng tăng thì tải lượng các chất thải nguy hại cũng ngày một tăng cao Tuy nhiên, cho đến nay việc quản lý các chất này ở nước

ta vẫn chưa hiệu quả, một phần do chúng ta không nhận thức được hết tầm quan trọng của vấn đề chất thải nguy hại, một phần do từng địa phương không đủ năng lực kiểm soát

Theo Quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị, Sở Tài nguyên môi trường

Tp Hồ Chí Minh đã đưa ra danh sách 17 ngành nghề sẽ chịu sự giám sát

hệ thống quản lý chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại Đây là những ngành nghề đang có tỷ lệ gây ô nhiễm cao, trong đó có các ngành hàng sản xuất của CNHC như: cao su, thủy tinh, hóa mỹ phẩm, sơn dầu nhớt, phân bón, hóa chất, sản xuất ắc quy, dệt nhuộm, mạ đúc, chất dẻo, v.v Đã có 600 doanh nghiệp của 17 ngành nghề trọng điểm của thành phố này được đưa vào danh sách đối tượng phải giám sát, trong đó gần

Ngày đăng: 18/02/2014, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w