Đó là do khi lạm phát tăng cao nhưng tiền lương không tăng hoặctăng chậm hơn so với mức độ lạm phát nên các chủ doanh nghiệp sẽ được lợi trongquá trình bán hàng, họ sẽ nhận đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
ĐÀ NẴNG , THÁNG 4 - 2011
Trang 2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay mỗi nước sẽ có kết cấu sản nghiệp, cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển khác nhau nên cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế nhưng một trong những khó khăn lớn nhất mà các quốc gia đều phải đối mặt đó là vấn đề lạm phát Trong lịch sử, đã cho thấy nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy của lạm phát cao không thể kiểm soát được mà hậu quả kéo theo là một sự sụt giảm kinh tế và tình trạng mất ổn định chính trị trong nước Lạm phát là quá trình tăng lên giá cả của các loại hàng hóa, sự mất giá của tiền tệ, mọi thứ đều trở nên khan hiếm trừ tiền Lạm phát chính là vấn đề quan tâm của mọi nước, mọi nền kinh tế và Việt Nam cũng không phải
là ngoại lệ.
Sau khi tiến hành cải cách vào năm 1986, đặc biệt việc gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO vào ngày 1/1/2007, Viêt Nam đã có những bước tiến nhanh chóng về phát triển kinh tế như tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt trên 7%/năm và vào năm 2007 đạt mức 8,5%/năm,có nền chính trị ổn định lại nằm trong khu vực đang
có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới nên Việt Nam đang là điểm đến đầy hứa hẹn của các nhà đầu tư Tuy vậy, bên cạnh tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, Việt Nam vẫn đang gặp phải vô vàn khó khăn trong quá trình hội nhập và phát triển Và một trong những khó khăn lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt đó chính là tình trạng lạm phát Lạm phát có tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong nền kinh tế, nó vừa có thể giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nhưng cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động Ở nước ta hiện nay chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Việt Nam đã trải qua những khoản thời gian mà lạm phát trở thành vấn đề cực
kỳ nghiêm trọng đó là vào những năm 1987 (lạm phát đến 700% - 1000% một năm), hiện nay dù không trầm trọng như năm 1987 nhưng cũng đã ở mức 2 con số vào năm
2007, 2008 gây ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển sản xuất và đời sống nhân dân, nhất
là tầng lớp nhân dân lao động, đe dọa tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô, tác động không tốt đến môi trường kinh doanh đã và đang làm đau đầu các nhà làm chính sách khi đưa ra các quyết định về kinh tế - xã hội.
Chính vì những lẽ đó và để có thể tìm hiểu một cách thấu đáo, sâu sắc hơn về
lạm phát Việt Nam hiện nay em đã lựa chọn đề tài:" Tình hình lạm phát Việt Nam
trong giai đoạn 2005-đến nay"
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm để hiểu rõ hơn và sâu sắc hơn về
những lý luận cơ bản của lạm phát và từ đó có cái nhìn chính xác và đúng đắn hơn về thực trạng của tình hình lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2010.
Nội dung của đề án được kết cấu thành 3 phần :
Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về lạm phát.
Chương 2 : Thực trạng lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 2005 – đến nay Chương 3 : Dự báo về tình hình lạm phát Việt Nam trong thời gian tới.
Chương 4 : Kết Luận.
Do thời gian nghiên cứu đề án có hạn, và với những lý do khách quan cũng như chủ quan khác, đề án không thể tránh khỏi những sai sót nhất định, em rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn Em xin chân thành
Trang 3cảm ơn sự tận tình quan tâm, giúp đỡ của cô Ts.Võ Thị Thúy Anh đã hướng dẫn em hoàn thành đề án này.
Đà Nẵng, ngày 20 tháng 4 năm 2011
Trang 4CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT
1.1.Khái niệm lạm phát :
1.1.1 Lạm phát :
Lạm phát là hiện tượng vốn có của các nền kinh tế sử dụng tiền tệ và là hiệntượng kinh tế phổ biến đối với các nền kinh tế trên thế giới Nó tồn tại ở cả những nướcphát triển, đang phát triển và chậm phát triển, cả trong thời kì phát triển, hưng thịnh lẫntrong thời kì suy thoái Lạm phát ở mức độ nhất định có vai trò thúc đẩy sản xuất lưuthông hàng hóa, giúp giảm thất nghiệp và giúp tăng trưởng kinh tế nhưng nếu lạm phátvượt ra khỏi tầm kiểm soát và tăng nhanh chóng có thể gây ra nhiều nguy hại cho đờisống kinh tế - xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu lạm phát có nhiều trường phái kinh tế, cáckhái niệm và cách khác nhau như:
Trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình C.Mác đã nêu lên quy luật lưu
thông tiền tệ Quy luật đó là: " Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số
lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự" Khikhối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cầncho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện
Theo định nghĩa của V.I.Lênin: Dựa trên quan điểm của C.Mác nhưng Lênin
lại lập luận rằng sở dĩ khối lượng tiền tệ lưu thông tăng lên là do nhà cầm quyền pháthành tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu chính phủ cũng như bộ máy nhà nước
Vậy lạm phát theo quan điểm của Lênin là sự gia tăng khối lượng tiền tệ do sựphát hành thêm tiền của bộ máy nhà nước
Theo quan điểm của Paul Samuelson thì cho rằng "lạm phát xảy ra khi mức
chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì ,dầu xăng ,xe ô tô tăng ,tiền lương ,giáđất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng “.Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tănglên của giá cả
Quan điểm đối lập của Milton Friedman và quan điểm của các nhà kinh tế thuộc trường phái Keneys :
Chống lại quan điểm lạm phát của các nhà kinh tế theo trường phái Keneys,Friedman đã đưa ra các bằng chứng ủng hộ thuyết lượng tiền tệ (quaility theory ofmoney) xuất bản năm 1956 Ông cho rằng nếu tăng cung tiền sẽ làm tăng mặt bằng giáhay nói rõ hơn về lâu dài tăng tiền sẽ làm tăng giá các loại mặt hàng khiến mặt bằng giámới sẽ được thiết lập và sẽ không làm tăng sản lượng Tuy về ngắn hạn nó có ảnhhưởng như thuyết Keneys là giúp tăng sản lượng nhưng trong dài hạn lại làm giảm sảnlượng do giá đã thiết lập mặt bằng mới Friedman cho rằng ngân hàng trung ương đềuđặn tăng cung tiền cùng với mức độ tăng (theo giá cố định) thì lạm phát sẽ biến mất.Friedman cho rằng nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 là do sailầm của ngân hàng trung ương trong việc siết chặt tiền tệ quá mức làm thiếu hụt lượng
cung vốn cho thị trường được đề cập đến trong cuốn Money History Of United States
xuất bản năm 1963
Vào giai đoạn 1960 – 1970, lý thuyết Keneys về vai trò chi phối nhà nước trongnền kinh tế thị trường thông qua ngân sách chi (sách giáo khoa Economics của Paul
Trang 5Samuelson từ ấn bản năm 1960 đến năm 1985) Ông cho rằng có sự đánh đổi giữalạm phát và tình trạng thất nghiệp Nếu một đất nước có tốc độ phát triển cao, tỉ lệthất nghiệp thấp thì phải chấp nhận mức lạm phát cao, còn ngược lại muốn lạm phátthấp thì phải chấp nhận thất nghiệp cao Vậy đâu là lý do khiến giá tăng cao mà sảnxuất phát triển Đó là do khi lạm phát tăng cao nhưng tiền lương không tăng hoặctăng chậm hơn so với mức độ lạm phát nên các chủ doanh nghiệp sẽ được lợi trongquá trình bán hàng, họ sẽ nhận được lượng lợi tức cao hơn và có nhiều vốn hơn để
mở rộng sản xuất nhưng Friedman lại cho rằng người dân sẽ không "ngu lâu", khilạm phát tăng cao sức mua của đồng lương giảm xuống người dân sẽ đòi hỏi lươngcao hơn khiến chi phí sản xuất tăng cao hơn trong khi cầu vẫn không đổi gây ra tìnhtrạng nền kinh tế vừa suy thoái, vừa lạm phát cao do nguyên nhân chi phí đẩy (nướcAnh năm 1979 đã áp dụng chính sách kinh tế của Friedman để giả quyết tình trạngvừa lạm phát vừa suy thoái lúc đó)
Friedman đã cố gắng giải thích lại thuyết lượng tiền tệ cổ điển mà nhữngngười theo trường phái Keneys đã phá như sau Theo lý thuyết cổ điển ta có:
(1) M.V = P.Q trong đó M (khối lượng tiền), V (vòng quay đồng tiền),P (mặt bằng
giá), Q (sản lượng nền kinh tế) Từ định nghĩa (1) ta có thể suy ra những hệ quả nhưsau:
(2) Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng quay ≈ tỷ lệ thay đổi giá
+ tỷ lệ thay đổi sản lượng
(3) Tỷ lệ thay đổi giá ≈ Tỷ lệ thay đổi lượng tiền + tỷ lệ thay đổi vòng
quay – tỷ lệ thay đổi sản lượng
Các nhà kinh tế cổ điển dựa vào định nghĩa (1) và (3) cho rằng vòng quay Vcủa đồng tiền là không đổi nên khi ta tăng M thì chỉ làm tăng P chứ không tăng Q
Họ cho rằng Q chịu ảnh hưởng bởi sức sản xuất nên không bị ảnh hưởng, cung chỉtạo ra cầu
Việc chỉ sử dụng lý thuyết để giải thích sự vận động của nền kinh tế nênnhững người theo trường phái thuyết lượng tiền tệ cổ điển đã bị quan điểm Keneysđưa ra phá vỡ, ông cho rằng
Cung = cầu + tồn kho (cầu không nhất thiết phải bằng cung).
Một khi cầu bé hơn cung vì lo ngại trong tương lai hàng hóa sẽ tồn kho nhiềunếu cứ sản xuất như bây giờ các doanh nghiệp buộc phải giảm sản lượng nhằm điềuchỉnh cho cung bằng cầu ở mức thấp hơn sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có thểđạt được, lúc đó Keneys cho rằng sự can thiệp nhà nước trong giai đoạn này là cầnthiết để giải quyết khủng hoảng, nhưng chính phủ lại gặp khó khăn vì không thể tăngchi tiêu giúp đường tổng cầu sang trái liên tiếp được vì gặp phải giới hạn trong giatăng chi tiêu và giảm thuế Chủ trương này của Keynes tất nhiên không nên hiểu làphê phán cách giải thích của Friedman về nguyên nhân sự kéo dài cuộc đại khủngkhoảng năm 1929 Vây đâu là nguyên nhân của trạng thái tâm lý lưỡng lự của dânchúng trong giai đoạn khủng hoảng "cầu" thì Keynes không giải thích được
Friedman vẫn dùng định nghĩa của các nhà theo trường phái kinh tế cũ nhưngông cho rằng V là thay đổi, cầu cũng không tất yếu bằng cung, nhưng phương trình
để V ổn định là phải chịu nhiều nhân tố khác nhau tác động như lãi suất, mặt bằng giá
P, sản lượng Q và cả kì vọng lạm phát trong tương lai của dân chúng Nếu M cứ tăngđều đặn qua các năm khiến các biến số khác như lãi suất, mặt bằng giá tăng cao quamức khiến người dân có xu hướng quay vòng đồng tiền nhiều hơn khiến V tăng lên,làm lạm phát tăng lên dù lượng tiền tăng lên không nhiều Kiềm chế lạm phát không
Trang 6phải chỉ kiềm chế lượng tiền mà còn phải giữ ổn định V, thay đổi kì vọng của ngườidân về lạm phát cao thì mới bình ổn được giá cả.
Qua nhiều định nghĩa ở trên ta có thể rút ra kết luận như thế nào về lạm
phát?
Vậy lạm phát là gì? Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu
cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên
Các đặc trưng của lạm phát
+ Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến
đồng tiền bị mất giá
+ Mức giá cả chung tăng lên, đặc biệt là các loại hàng hóa thiết yếu
+ Sự mất giá các loại chứng khoán có giá
+ Sự giảm giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ
+ Sản xuất đình trệ, hàng hóa dịch vụ khan hiếm
+ Cán cân thương mại giảm sút, nhập siêu tăng nhanh
1.1.2 Lạm phát cơ bản :
Lạm phát cơ bản là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá xu hướng cơ bản hay diễn biến chung của giá tiêu dùng bình quân Lạm phát cơ bản nắm bắt xu hướng dài hạn hoặc phổ biến của giá cả hàng hóa hay dịch vụ bằng cách loại trừ những cơn lốchay biến động nhất thời trong mức giá tiêu dùng bình quân
1.2 Phân loại lạm phát :
1.2.1 Dựa vào tỉ lệ tăng giá :
1.2.1.1 Lạm phát vừa phải :
Loại lạm phát này xảy ra khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ một con số hàng năm (dưới 10% một năm) Lạm phát vừa phải còn được gọi là lạm phát nước kiệu hay lạm phát 1 con số Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.2.1.2 Lạm phát cao :
Loại lạm phát này xảy khi giá cả hàng hóa tăng chậm ở mức độ hai, ba con số hàng năm (10%, 50%, 200%, 500%, 800% một năm) Lạm phát này được gọi là lạm phát phi mã… đồng tiền trở nên mức giá nghiêm trọng, lãi suất thực thường là âm, trong điều kiện đó không ai cho vay với lãi suất bình thường, không ai muốn nắm giữ lượng tiền mặt quá lớn mà thay vào đó là các loại hàng hóa lâu bền Loại lạm phát này gây ra nhiều tác hại cho đời sống kinh tế - xã hội
1.2.1.3 Siêu lạm phát :
Loại lạm phát này có tỉ lệ tăng giá trên 1000% một năm Không có điều gì là tốt khi nền kinh tế khi xảy ra tình trạng này, nó như căn bệnh ung thư chết người, tốc độlưu thông tiền tệ tăng nhanh chóng, giá cả các mặt hàng tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế giảm mạnh, đồng tiền mất giá, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng Lịch sử lạm phát đã ghi nhận tác hại của siêu lạm phát như ở Đức năm 1920-1923 tốc độ tăng lên tới 1 triệu lần, Bôlivia năm 1985 với mức 50.000% năm
1.2.2 Dựa vào tính chất lạm phát :
1.2.2.1 Lạm phát dự kiến được :
Là loại lạm phát mà đã được dự tính một các chính xác sự tăng giá tương đối đều đặn của nó Loại này ít gây ra tổn hại thực cho mọi người và nền kinh tế mà gây ra những phiền toái đòi hỏi các giao dịch thường xuyên phải được điều chỉnh (thông tin kinh tế, tiền lương…)
Trang 7
1.2.2.2 Lạm phát không dự kiến được :
Mọi người bị bất ngờ về tốc độ tăng giá của các loại mặt hàng Nó không chỉ gây ra những phiền toái cho mọi người như lạm phát dự kiến được mà còn gây ảnh hưởng không tốt không chỉ nền kinh tế mà còn là nền chính trị xã hội của quốc gia đó
1.2.3 Dựa vào định tính :
1.2.3.1 Lạm phát công bằng :
Tốc độ tăng của lạm phát tương ứng với tốc độ tăng tiền lương và phù hợp với
sự phát triển của các ngành sản xuất Lạm phát loại này là không ảnh hưởng đến ngườidân và nền kinh tế nói chung
1.2.3.2 Lạm phát không công bằng :
Lạm phát tăng nhanh không tương ứng với tốc độ tăng của tiền lương và sự
phát triển của nền kinh tế Trên thực tế loại này cũng hay xảy ra
1.3 Cách tính lạm phát :
1.3.1 Lạm phát :
1.3.1.1 Dựa vào chỉ số giá tiêu dùng ( CPI ) :
CPI (Consunmer Price Index) là chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số này phản ánh mức
thay đổi giá cả hàng hóa trong một giỏ hàng so với năm gốc cụ thể
CPI thường được dùng để chỉ mức độ lạm phát tiền tệ trong xã hội Thông thườngcác nhóm chính trong giỏ hàng hóa để tính CPI thường là thực phẩm, quần áo, nhà cửa,chất đốt, vận tải và y tế Tùy theo tình hình phát triển – kinh tế xã hội, thị hiếu tiêu dùngcủa người dân mỗi nước mà chủng loại hàng hóa sẽ thay đổi sao cho phù hợp
Việc tính CPI bao gồm các bước:
Bước 1: cố định giỏ hàng hóa: ước lượng các hàng hóa và dịch vụ người tiêu
dùng điển hình mua
Bước 2: xác định giá cả của mỗi hàng hóa và dịch vụ trong giỏ hàng tại mỗi
thời điểm
Bước 3: tính chi phí để mua giỏ hàng: sử dụng các mức giá và lượng để tính
chi phí mua giỏ hàng trong mỗi năm
Bước 4: Lựa chọn năm cơ sở và tính chỉ số giá.
2000
2000
t t
p
p D p
q
p q
Trong đó:
CPIt: chỉ số CPI năm t
pt ; giá kỳ báo cáo;
D2000 : quyền số cố định kỳ gốc năm 2000
t : kỳ báo cáo; 2000: năm gốc
2000 2000 2000
p q
p q D
+ Tính lạm phát:
Trang 8Trong đó:
CPIt: chỉ số CPI năm t
CPIt-1: chỉ số năm t-1
1.3.1.2 Dựa vào chỉ số giảm lạm phát GDP :
Chỉ số giảm lạm phát GDP hay chỉ số điều chỉnh GDP thường được kí hiệu là
định cùng các thành phần của nó Ví dụ nếu GDP tăng theo mức cố định là 3% và theomức giá danh nghĩa hiện hành là 8%, nó hàm ý mức lạm phát trong nền kinh tế là 5%
GDPdanh nghĩa phản ánh giá trị bằng tiền của sản lượng được nền kinh tế tạo ra
cơ sở Chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của một đơn vị điển hình so với giá của nótrong năm cơ sở Điểm khác biệt giữa DGDP và chỉ số CPI là ở chổ: (1) giá của giỏ hànghóa tính chỉ số này khác nhau, trong đó DGDP sử dụng giá của tất cả hàng hóa sản xuấttrong nước còn CPI lại sử dụng giỏ hàng hóa cố định không kể nơi sản xuất để tính CPI.(2) DGDP sử dụng giỏ hàng hóa dịch vụ sản xuất trong kì nghiên cứu vì thế giỏ hàng hóanày được thay đổi mỗi năm còn CPI lại sử dụng giỏ hàng hóa cố định qua mỗi năm vàchỉ thay đổi khi cục thống kê hay chính phủ điều chỉnh
1.3.1.3 Dựa vào chỉ số giá cả sản xuất ( PPI ) :
PPI (producer price index) là chỉ số giá người sản xuất hay còn gọi là chỉ số giá sảnxuất được dùng để đo chi phí nguyên vật liệu sản xuất Đây là chỉ tiêu quan trọng nhằmđánh giá mức độ biến động của một lĩnh vực sản xuất trong thời kì nào đó
PPI là chỉ số quan trọng để các cấp lãnh đạo ra các chính sách kinh tế tài chính hayhạch toán nền kinh tế quốc dân
1.3.1.4 Dựa vào chỉ số giá cả hàng hóa :
Đó là sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn Trongtrường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khi nước Mỹ sửdụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc
Trang 9của một số nhóm mặt hàng khỏi rổ CPI.Các thành phần hay được loại trừ là loại hàng hóa dễ bị biến động nhất đó là nhóm hàng lương thực – thực phẩm, năng lượng
Phương pháp thống kê thuần túy để tính bao gồm: tính trung vị, trung bình lược bỏ
có quyền số/không có quyền số hay phương pháp tính lại quyền số mới hay phương pháp bình quân gia quyền nghịch đảo độ lệch chuẩn hoặc phương sai (những phương pháp này thường sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích)
Phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích, tính toán và dự báo lạm phát cơ bản cũng nên tính thử nghiệm sử dụng nội bộ để nghiên cứu và phân tích
1.4 Nguyên nhân lạm phát :
1.4.1 Lạm phát theo số lượng tiền tệ :
Khi đề cập đến mối quan hệ giữa lạm phát và tiền tệ, Friedman cho rằng "lạm phát luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ" Lúc đó lạm phát được định nghĩa như là một sự tăng giá nhanh và liên tục
- Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ:
Đồ thị lạm phát theo số lượng tiền tệ Ban đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao nhau giữa AD1 và AS1 với mức giá ban đầu là P1, trùng với mức sản lượng tiềm năng Nếu cung tiền gia tăng (tăng lương,
trong ngắn hạn mức sản lượng của nền kinh tế sẽ dịch sang Y1 cắt đường AS1 tại điểm 1' nhưng cùng với đó việc mở rộng sản xuất khiến chi phí gia tăng, giá cả các nguyên
cắt đường AD2 tại điểm số 2 thiết lập mức giá mới P2 và sản lượng trở về mức tiềm năng như cũ, Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì quá trình diễn ra tuần tự và giá
sẽ đươc thiết lập ở mức cao hơn ban đầu và lạm phát xảy ra Trong quan điểm của các nhà thuộc trường phái tiền tệ thì cung tiền là yếu tố duy nhất gây ra lạm phát
1.4.2 Sự thiếu hụt tài khóa :
Khi xảy ra thiếu hụt tài khóa chính phủ có thể tài trợ bằng việc: (1) tăng thuế, (2) vay nợ bằng phát hành trái phiếu và in tiền Thiếu hụt tài khóa (DEF) chính là khoản chênh lệch giữa chi tiêu chính phủ (G) vượt quá thuế (T) và sẽ bằng tổng MBvà thay đổi trái phiếu chính phủ mà công chúng nắm giữ (B)
AS3
AS2 3
2' AS1
AD3
AD2
(Tổng sản phẩm)
Yn
1' 1
P
P3
P2
P1
0 (Tổng mức giá)
Y1 2
Trang 10Nếu xảy ra thiếu hụt tài khóa chính phủ tài trợ bằng việc phát hành tiền liên tục vàkéo dài, tất nhiên sẽ làm tăng cung tiền và lạm phát Hiện nay, các quốc gia không đượcphát hành tiền mà thông qua phát hành trái phiếu Tuy không làm tăng cơ số tiền nhưngnếu thâm hụt kéo dài thì đến hạn phải trả số tiền bao gồm cả gốc lẫn lãi có thể vượt quá
số tiền cần lưu thông và gây ra lạm phát, hoặc người dân có thể bán lại cho ngân hàngtrung ương thông qua nghiệp vụ thị trường mở và làm tăng cung tiền khiến lạm phátxảy ra
Nói chung nếu để trình trạng thâm hụt kéo dài xảy ra và tài trợ bằng tiền có tínhlỏng cao thì sẽ dẫn đến mức gia tăng cung tiền làm tổng cầu dịch chuyển sang phải, dẫnđến giá cả tăng lên và lạm phát xảy ra
1.4.3 Lạm phát do cầu kéo :
Sự gia tăng các khoản chi tiêu công của chính phủ (chính sách trợ cấp xã hội,các
dự án đầu tư xây dựng ), việc tiêu dùng nhiều hơn của dân cư (thu nhập tăng lên, thuếđược giảm) dẫn đến sự mở rộng, gia tăng sản xuất của các doanh nghiệp khiến tổng cầugia tăng nhanh chóng nhưng với nguồn lực, công suât có giới hạn tổng cung không thểtăng lên một cách tương xứng dẫn đến sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu và theo
cơ chế thị trường nó sẽ được lấp đầy bằng sự gia tăng giá cả
Đồ thị lạm phát do cầu kéo
Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại điểm 1 (giao nhau giữa đường AD1 và AS và khi
đổi làm cho điểm cân bằng dich chuyển từ 1 rồi đến 2 và 3 và cứ tiếp tục như vậy nếucầu vẫn tiếp tục tăng lên, hàng hóa thiết lập mức giá sau cao hơn mức giá trước và lạmphát xảy ra
1.4.4 Lạm phát do chi phí đẩy :
Nền sản xuất được đảm bảo bởi sự kết hợp giữa nguồn lực tự nhiên, tư bản và laođộng và một khi một trong những yếu tố đó có xu hướng tăng giá sẽ làm cho giá cả
hàng hóa tăng lên Vậy lạm phát chi phí đẩy là loại lạm phát xảy ra khi chi phí gia tăng
AD1
AD2
AD3
ASP
Y1
23
Trang 11một cách độc lập với tổng cầu (ví dụ như tỷ giá hối đoái thay đổi,đồng nội tệ bị mất giá
so với ngoại tệ làm nguyên vật liệu nhập khẩu tăng cao, thay đổi giá cả hàng hóa,những cú sốc từ bên ngoài như cú sốc về dầu mỏ, thép , sự thiếu hụt các nguồn tàinguyên hay do sự gia tăng tiền lương cơ bản do quy định của chính phủ) Và một khigiá cả hàng hóa gia tăng, người dân có xu hướng tích trữ hàng hóa, các khoản chi tiêuchính phủ đắt đỏ hơn càng khiến giá hàng hóa bị đẩy lên cao hơn Vì thế lạm phát chiphí đẩy có thể xảy ra nếu đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải, tổng cầu chỉ cóthể dịch chuyển sang phải khi có sự gia tăng mức cung tiền tệ (chính phủ chi nhiều hơn,người dân mua hàng tích trữ) Vậy lạm phát do chi phí đẩy là một hiện tượng tiền tệ bởi
vì nó không thể xảy ra nếu không có các chính sách tiền tệ đi kèm theo
Đồ thị lạm phát do chi phi đẩy
Nếu do một nhân tố nào đó tác động, ví dụ như trường hợp nguyên vật liệu đầuvào tăng giá làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên do chi phí sản xuất tăng tại mộtmức giá cho trước, ít nhà cung ứng hơn nên lượng cung hàng hóa và dịch vụ giảm, nếutổng cầu được giữ nguyên không đổi thì nền kinh tế sẽ di chuyển từ điểm 1 đến điểm 2,mức giá tăng lên từ P1 đến P2, sản lượng giảm từ Y0 đến Y1. Đó chính là hiện tượng suythoái kinh tế đi kèm lạm phát, vì nền kinh tế phải rơi vào trạng thái sản lượng giảm màphải gánh chịu lạm phát
1.4.5 Lạm phát do quán tính :
Lạm phát do quán tính là tỷ lệ lạm phát hiện tại mà mọi người dự kiến nó sẽ tiếptục trong tương lai Tỷ lệ này được đưa vào các hợp đồng kinh tế, các giao dich muabán hằng ngày, và chính vì điều này mà lạm phát trở thành hiện thực
Một ví dụ về lạm phát quán tính đó là khi nền kinh tế xảy ra lạm phát cao dẫn đếnngười dân có xu hướng chỉ giữ một số lượng tiền ít để tiêu dùng còn lại người ta sẽ tíchtrữ hàng hóa, mua vàng, các loại ngoại tệ mạnh khác khiến số lượng tiền lưu thông càngnhiều hơn và làm lạm phát thêm trầm trọng
Y
Y0
P
2
AD
AS2
AS1
1
Trang 121.4.6 Lạm phát do sự thay đổi tỷ giá hối đoái :
Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệ nước ngoài tăng cũng là
nguyên nhân gây ra lạm phát
Thứ nhất, khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lý
những người sản xuất trong nước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hốiđoái
Thứ hai, khi tỷ giá tăng, giá nguyên liệu, hàng hoá nhập khẩu cũng tăng cao, đẩy
chi phí về phía nguyên liệu tăng lên, lại quay trở về lạm phát phí đẩy như đã phân tíchtrên đây Việc tăng giá cả của nguyên liệu và hàng hoá nhập khẩu thường gây ra phảnứng dây chuyền, làm tăng giá cả ở rất nhiều các hàng hoá khác, đặc biệt là các hàng hoácủa những ngành có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và những ngành có mối liên hệchặt chẽ với nhau (nguyên liệu của ngành này là sản phẩm của ngành khác,điển hìnhnhư xăng dầu là nguyên liệu chính, trực tiếp liên quan đến các ngành sản xuất…)
1.4.7 Lạm phát do cơ cấu :
Trong nền kinh tế, khi một ngành kinh doanh có hiệu quả sẽ tăng tiền công chocông nhân làm việc, còn đối với ngành kinh doanh không hiệu quả dù không muốn vẫnphải tăng lương cho người lao động (chính sách tăng lương cơ bản của chính phủ)nhưng để đảm bảo lợi nhuận công ty phải tăng giá thành sản phẩm, nhu cầu tăng lênnhưng cung lại không đáp ứng đủ nên lạm phát xảy ra hay do cơ cấu nền kinh tế quá tậptrung vào một lĩnh vực sản xuất mà không quan tâm đến nghành khác dẫn đến sự rời bỏngành của doanh nghiệp (đầu tư công nghiệp không chú trọng nông nghiệp dẫn đếnkhan hiếm thực phẩm) khiến mức cân đối trong cung cầu thị trường gây ra tâm lý thiếuhàng trong dân chúng khiến nạn đầu cơ có điều kiện bộc phát gây nên tình trạng lạmphát cao
Hiện tượng kinh tế này chủ yếu phổ biến ở các nước đang phát triển do tình trạngmất cân đối trong nền kinh tế khiến sản xuất kém hiệu quả, cung không đủ cầu gây ralạm phát
Các dạng mất cân đối chủ yếu trong nền kinh tế:
+ Mất cân đối trong cơ cấu ngành trong nền kinh tế (nông nghiệp lạc hậu chiếm
tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế), mất cân đối trong cơ cấu trong nội bộ ngành kinh
tế (chú trọng công nghiệp nặng, luyện kim, khai khoáng ít chú trọng đến phát triểnnhững ngành công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp nhẹ đòi hỏi lượng chất xám caonhư chip điện tử, sản xuất hàng điện tử)
+ Mất cân đối giữa mức tích lũy thấp nhưng đầu tư cao
+ Cơ cấu ngoại thương bất hợp lý
+ Cơ cấu tiêu dùng bất hợp lý
1.4.8 Lạm phát do xuất khẩu :
Việc xuất khẩu tăng cao khiến tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung, hoặc sản phẩmđược huy động cho xuất khẩu khiến tổng cung mặt hàng trong nước thấp hơn tổng cầutrong nước Sự mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu khiến lạm phát nảy sinh
1.4.9 Lạm phát do nhập khẩu :
Do các sản phẩm không thể sản xuất trong nước mà phải nhập từ bên ngoài nênkhi có sự gia tăng giá cả của mặt hàng nhập khẩu (như việc tăng giá dầu của OPEC, giánhập khẩu phôi thép) khiến giá hàng trong nước phải tăng lên Lạm phát hình thành dogiá nhập khẩu đội lên
1.4.10 Lạm phát do tâm lý người tiêu dùng :
Ngoài ra, lạm phát cũng có thể xảy ra do tâm lý người tiêu dùng (với chiến thuậtquảng cáo rầm rộ các công ty sẽ kích thích những nhu cầu chưa thực sự của người dân
Trang 13gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa giả tạo trên thị trường, đẩy giá lên cao) hay doyếu tố chính trị, bất ổn định, chiến tranh, tình trạng thiếu thông tin thị trường, chínhsách nhà nước cũng tác động đến tâm lý người dân.
1.5 Tác động của lạm phát :
Lạm phát ảnh hưởng đến nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội, nó cũng có thểđem lại những lợi ích bên cạch những tác hại nghiêm trọng đến đời sống kinh tế xã hộicủa đất nước Vậy tác động của nó như thế nào ?
1.5.1 Tác động tích cực :
1.5.1.1 Tác động phân phối lại thu nhập của cải :
Nó phát sinh từ những sự khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của ngườidân Khi lạm phát xảy ra, những người có tài sản, những người đi vay nợ là có lợi nhất
vì giá cả các loại hàng hóa nói chung đều tăng lên theo mức tăng lạm phát trong khi giátrị của đồng tiền lại giảm xuống khiến những người nắm giữ tiền mặt, người làm công
ăn lương, những người cho vay là bị thiệt hại
1.5.1.2 Tác động phát triển kinh tế :
Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tối ưu hay mức toàndụng thì lạm phát vừa phải cũng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế vì nó có tác dụnglàm tăng khối lượng tiền tệ lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản xuất kinhdoanh, kích thích quá trình tiêu dùng người dân và chính phủ
1.5.1.3 Tác động đến thất nghiệp :
Lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ ngược chiều nhau: khi lạm phát tăng thì
sẽ giúp thất nghiệp giảm và ngược lại Nhà kinh tế học A.W.Phillips đã đưa ra" Lýthuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm" đó là một nước có thể có một tỉ lệ thấtnghiệp thấp hơn nếu nước đó sẵn sàng trả một tỉ lệ lạm phát cao hơn Điều này giúp cácnhà lãnh đạo có thể có thê đưa ra các chính sách kinh tế để đảm bảo tăng trưởng kinh tế,người dân có thêm việc làm nhưng lạm phát được giữ ở mức chấp nhận được
Đồ thị mối quan hệ lạm phát và thất nghiệp
Như chúng ta đã biết chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa đều có thể làm dịch chuyển đường tổng cầu Do đó chính sách tiền tệ và tài khóa
có thể làm dịch chuyển nền kinh tế dọc theo đường Phillips Nếu chính phủ tăng cungtiền, tăng chi tiêu chính phủ và cắt giảm thuế sẽ làm tăng tổng cầu và di chuyển nền
Lạm
Phát
%
Thât nghiệpAD
Trang 14kinh tế dịch về phía bên trái trên đường Phillips sao cho ở đó lạm phát cao hơn và thấtnghiệp ít hơn Còn chính phủ thực hiện biện pháp cắt giảm cung tiền, cắt giảm chi tiêuchính phủ và tăng thuế sẽ làm tổng cầu giảm xuống và nền kinh tế sẽ dịch chuyển vềbên phải trên đường Phillips sao cho tại đó thất nghiệp cao hơn và lạm phát thấp hơn.
Vì thế qua đường Phillips chính phủ sẽ có chính sách phù hợp nhằm tạo được sự kếthợp tối ưu nhất giữa lạm phát và thất nghiệp
1.5.1.4 Tác động làm tăng số thuế nhà nước thu được :
Nếu thuế được đánh theo hệ thống thuế lũy tiến thì tỉ lệ lạm phát cao sẽ đẩy người
ta nhanh qua mức thuế cao hơn phải nộp, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiềuthuế hơn mà không phải thông qua luật
1.5.2 Tác động tiêu cực :
1.5.2.1 Đối với lĩnh vực sản xuất :
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự kiến được thì mọi hoạt động sản xuấtđều bị thay đổi, giá cả hàng hóa tăng cao và biến động không ngừng gây nên tình trạngmất ổn định trong nền kinh tế Quá trình hạch toán của các công ty trở nên vô hiệu dotốc độ thay đổi giá cả của hàng hóa gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh,đối với những công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp thì dẫn đến tình trạng phá sản Cơ cấunền kinh tế bị thay đổi vì khi đó các nhà kinh doanh tập trung đầu tư vào các ngành sảnxuất có chu kì ngắn, khả năng thu hồi và quay vòng vốn cao thay vì đầu tư vào cácngành có điều kiện ngược lại khiến tình trạng cung ứng hàng mất cân đối khiến lạmphát trầm trọng thêm
1.5.2.2 Đối với lĩnh vực lưu thông :
Trong lĩnh vực lưu thông, khi giá cả hàng hóa tăng nhanh thì tình trạng đầu cơ,tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến khiến tình trạng khan hiếm hàng hóatrở nên trầm trọng Do đó người tham gia vào quá trình lưu thông trở nên hỗn loạn.Tiền trong tay người này vừa bán xong lại nhanh chóng được đẩy ra lưu thông, tốc độlưu chuyển tiền mặt nhanh chóng khiến tình trạng lạm phát thêm trầm trọng
1.5.2.3 Đối với lĩnh vực tiền tệ , tín dụng :
Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, lạm phát tăng cao khiến tỷ giáhối đoái tăng lên Sự mất giá của đồng tiền khiến xuất khẩu có lợi thế nhưng lại gâythiệt hại đối với hàng hóa nhập khẩu Lạm phát cao, siêu lạm phát làm giảm số lượngngười dân đi gửi tiền, khả năng thanh khoản của ngân hàng kém đi khiến nhiều ngânhàng bị phá sản Lạm phát tăng nhanh khiến người dân không muốn nắm giữ tiền mặttrong tay, họ chuyển sang tích trữ vàng, ngoại tệ mạnh khiến tình trạng lạm phát càngtrầm trọng
1.5.2.4 Đối với chính sách kinh tế tài chính quốc gia :
Lạm phát tăng nhanh, sự biến động giá cả tăng nhanh khiến các giá trị thông tinbao hàm trong giá cả bị phá vỡ, tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều, thông tin bị nhiễuloạn khiến mọi người không thể phán đoán doanh nghiệp nào lãi, doanh nghiệp nào lỗ
để có hướng đầu tư cho chính xác Lạm phát cao và lâu dài gây ra sự bào mòn đối vớingân sách nhà nước, các khoản chi tiêu trở nên đắt đỏ hơn, nhà nước phải giảm bớt cáckhoản phúc lợi xã hội, thu hẹp danh mục đầu tư đối với các dự án, ngân sách bị suygiảm do sản xuất bị đình đốn khiến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra từtrước phải thay đổi
1.5.2.5 Làm méo mó số thuế phải nộp :
Lạm phát tăng cao khiến người nộp thuế theo thuế suất lũy tiến nhanh chóngchuyển qua mức nộp thuế cao hơn trong khi lương thực tế lại giảm mạnh khiến đờisống của người dân bị xáo trộn, thay đổi và khó khăn hơn Không những thế việc lạm
Trang 15phát quá cao cũng khiến chi phí các nguyên vật liệu đầu vào tăng cao khiến doanhnghiệp khó khăn trong khâu tiêu thụ làm sản xuất bị đình đốn nhiều doanh nghiệp phásản hơn cũng khiến cho số thuế thu được của nhà nước cũng giảm đi.
1.5.2.6 Lạm phát không chắc chắn làm đầu tư ở trung và dài hạn giảm :
Vì lạm phát tăng cao các nhà đầu tư không thể dự kiến chính xác nguồn vốn cầnlà bao nhiêu tiền cho các dự án trong tương lai, các công trình đang xây dựng phảingừng thực hiện do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao khiến doanh nghiệp không
đủ nguồn lực thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến các mục tiêu kinh tế trung dài hạn, cácmục tiêu xã hội không thực hiện được khiến tăng trưởng kinh tế của đất nước giảmxuống
1.5.2.7 Lạm phát khiến người dân quan tâm đến lợi ích trước mắt :
Thay vì gửi tiền vào ngân hàng người dân sẽ dùng số tiền đầu tư, tích trữ các loạihàng hóa, chuyển qua các loại đồng ngoại tệ mạnh, các kim loại quý (vàng, bạch kim )và đẩy mạnh tích trữ hàng hóa do kì vọng lạm phát tăng trong tương lai khiến dòng tiềnlưu thông nhanh hơn, giá cả hàng hóa tăng cao hơn và lạm phát tăng nhanh hơn trước
1.5.2.8 Lạm phát và nợ quốc gia :
Lạm phát khiến giá trị đồng tiền quốc nội giảm giá mạnh so với ngoại tệ, cáckhoản vay trước đây tăng cao hơn gây sức ép lên nền kinh tế quốc gia Tuy được lợitrong các khoản vay vốn trong nước nhưng chính phủ lại bị thiệt trong các khoản vayngoại tệ nước ngoài
1.5.2.9 Các chi phí xã hội của lạm phát :
Lạm phát vừa có thể gây ra những tác hại mà ta có thể dễ nhận biết nhưng cũngđồng thời gây ra những tác hại mà ta khó có thể nhận biết đó chính là chi phí xã hội củalạm phát
- Chi phí mòn giày: Lạm phát cao hơn làm tăng lãi suất danh nghĩa mà hệ quả mọingười sẽ giảm số tiền nắm giữ Nếu mọi người giữ số dư tiền thực tế ít hơn, thì họ phảithường xuyên đến ngân hàng rút tiền Điều này làm bạn phải đi rút tiền nhiều hơn (giầybạn mòn hơn)
- Chi phí thực đơn: Lạm phát cao hơn làm cho doanh nghiệp thay đổi giá cảthường xuyên hơn Việc này là tốn kém nếu họ in lại biểu giá và cataglo
- Giá cả tương đối biến động mạnh hơn Nếu trong giai đoạn ổn định các doanhnghiệp không thay đổi giá cả thường xuyên thì lạm phát sẽ làm cho giá cả tương đốibiến động mạnh hơn mà nền kinh tế thị trường lại phân bổ nguồn lực dựa trên giá cả,lạm phát dẫn đến tính phi hiệu quả của nền kinh tế
- Thay đổi gánh nặng về thuế Nhiều luật thuế không tính đến tác động của lạmphát Do đó, lạm phát có thể làm thay đổi gánh nặng về thuế của các cá nhân và doanhnghiệp, ngoài dự kiến ban đầu của các nhà hoạch định gây ra cản trở tiết kiệm và pháttriển kinh tế
- Sự nhầm lẫn bất tiện: Lạm phát tăng cao khiến giá của hàng hóa biến động liêntục, giá trị của đồng tiền giảm xuống và thước đo lợi nhuận của các doanh nghiệp trởnên khó khăn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nên phức tạp và dễnhầm lẫn hơn
- Tái phân phối một cách tùy tiện: Ví dụ khi các điều kiện cho vay nói chung đượctính theo giá trị danh nghĩa dựa theo một tỉ lệ lạm phát dự kiến nhất định Nhưng nếulạm phát tăng cao so với dự kiến, người đi vay được lợi vì chỉ hoàn trả lại cho ngườicho vay một số tiền có sức mua thấp hơn dự kiến còn người cho vay lại bị lỗ Ngượclại, nếu lạm phát thấp hơn dự kiến thì người cho vay sẽ được lợi do họ sẽ thu về được
Trang 16những đồng tiền có sức mua cao hơn trước Vì thế lạm phát đã gây ra hiện trượng táiphân phối một cách tùy tiện.
1.6 Biện pháp kiềm chế lạm phát :
1.6.1 Biện pháp cấp bách :
1.6.1.1 Biện pháp chính sách tài khóa :
Biện pháp tài khóa có vai trò hết sức quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát vìtrong nhiều trường hợp lạm phát có nguyên nhân xuất phát từ thâm hụt ngân sách NhàNước Vậy nếu nguyên nhân này được giải quyết thì tiền tệ sẽ ổn định, lạm phát sẽđược kiềm chế Chính phủ có thể sử dụng một số biện pháp sau
- Thực hành tiết kiệm triệt để, hạn chế chi tiêu công, giảm bớt các hạng mục xâydựng cần vốn lớn mà chưa thấy cần thiết, hoàn thành nhanh chóng triệt để các dự ánxây dựng trọng điểm, tránh kéo dài lâu gây thất thoát lãng phí cho Nhà Nước
- Tăng thuế trực thu, đặc biệt là đối với những cá nhân và doanh nghiệp có thunhập cao, chống thất thu thuế
- Kiểm soát chặt chẽ các chương trình tín dụng của nhà nước như chương trình vayvốn hỗ trợ sinh viên nghèo, tránh trường hợp sinh viên không nghèo vẫn được vay
- Tiến hành vay nợ trong và ngoài nước để giảm bội chi ngân sách
1.6.1.2 Biện pháp thắt chặt tiền tệ :
Chính sách tiền tệ là một trong những biện pháp cấp bách mà chính phủ cần phải
sử dụng trong tình hình nền kinh tế có lạm phát cao, khó có thể điều tiết được bằng "bàn tay vô hình" của thị trường Với tư cách là "ngân hàng của các ngân hàng" ngânhàng trung ương cần phải điều hành linh hoạt đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ,kết hợp hài hòa linh hoạt tỷ giá và lãi suất, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ banngành, sự kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nâng cao công tácthống kê, dự báo, phản ứng kịp thời trước những diễn biến kinh tế, tiền tệ trong vàngoài nước, đảm báo tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng nhằm mục đích kiềmchế lạm phát thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Và một trong những biện pháp quan trọng kiềm chế lạm phát mà ngân hàng trungương phải làm đó là giảm lương tiền trong lưu thông bằng các biện pháp khác nhaunhư:
- Đóng băng tiền tệ : ngân hàng trung ương thắt chặt việc thực hiện các nghiệp vụtái chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay theo hồ sơ tín dụng, giới hạn tăng trưởng tín dụngngân hàng nhằm mục đích giảm bớt lượng tiền đang lưu thông trên thị trường
- Nâng lãi suất : khi lãi suất tiền gửi tăng cao sẽ thu hút người dân gửi tiền hơnthay vì giữ tiền lưu thông, hay chuyển sang cất trữ vàng và đổi sang ngoại tệ, các doanhnghiệp sẽ gửi các khoản tiền không kì hạn vào ngân hàng khiến dòng tiền lưu thôngtrên thị trường ít lại Việc tăng mức dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương cũng làmgiảm khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại làm giảm lượng tiền lưu thông trênthị trường, giảm sức ép tăng giá
- Tiến hành vay nợ bên ngoài nhằm đảm bảo các nguồn lực nhằm đối phó với lạmphát (giữ ổn định đồng nội tệ, nhập khẩu các mặt hàng trọng yếu nếu xảy ra tình trạngkhan hiếm)
Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hành các công cụ vay nợ cho chính phủ như tráiphiếu nhằm thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân chúng Trong thời kì lạm phát caotâm lý người dân sẽ hoang mang và sẽ thực hiện việc bảo toàn tài sản của mình bằngviệc rút tiền ồ ạt nhằm chuyển sang đầu tư các loại hàng hóa có giá khác nên ngân hàngtrung ương cần hỗ trợ vốn nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho các ngân hàng thương
Trang 17mại, tránh để xảy ra tình trạng mất thanh khoản gây ra tình trạng hoảng loạn trong dânchúng càng khiến tình trạng lạm phát tồi tệ hơn
1.6.1.3 Biện pháp kiềm chế giá cả :
Muốn kiềm chế lạm phát ở mức cao, nhà nước có thể thực hiện một số chính sách sau:
- Nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài nhằm điều tiết cung cầu trong lưu thông hànghóa
- Đẩy mạnh quá trình áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nhằm tăng cung chothị trường, xuất hàng dự trữ quốc gia nhằm bình ổn giá cả thị trường
- Nhà nước bán vàng, xuất quỹ dự trự ngoại hối nhằm thu hút tiền mặt trong lưuthông, ổn định giá vàng, tỷ giá hối đoái tạo tâm lý ổn định cho các mặt hàng
- Kiểm soát thị trường chặt chẽ, chống nạn đầu cơ tích trữ nhằm lũng đoạn thịtrường, thực hiện việc kiềm chế không tăng một số nguyên liệu đầu vào chủ yếu củanhiều ngành sản xuất như điện, xăng dầu
1.6.2 Biện pháp chiến lược :
1.6.2.1 Xây dựng và thực hiện chiến lược kinh tế xã hội đúng đắn :
Tiền tệ chỉ rối loạn một khi nguồn cung hàng hóa bị thay đổi, vì thế để có thể giữ
ổn định quá trình lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ chúng ta cần có một quỹ hànghóa với số lượng nhiều, chất lượng cao, phong phú về chủng loại Và thực hiện đượcđiều đó, nhà nước cần xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý, điều chỉnh cơ cấu nềnkinh tế theo xu hướng thị trường, khuyến khích áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong
để nâng cao sản lượng và chất lượng, tăng cường đầu tư trong lĩnh vực công nghệ sạchnhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng phải bền vững
Tập trung đẩy mạnh công tác cải cách giáo dục, phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng thông qua các biện pháp như đưa ra các chính sách phù hợp hiệu quả nhằm nângcao chất lượng giáo dục và đào tạo, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trong trường học,phân bổ đào tạo sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo lại vàphát triển nguồn nhân lực cấp cao, có chính sách đãi ngộ xứng đáng nhằm giữ chânnhân tài, phát triển nhân lực trong các ngành khoa học – kĩ thuật, một số ngành côngnghiệp phụ trợ
Một chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn không thể không đề cập đến chính sách
an sinh – xã hội nhằm đảm bảo công bằng và phát triển đất nước thông qua việc trợ cấpđối với người già, người cao tuổi, trợ cấp vốn đào tạo nghề cho người thất nghiệp, đẩymạnh công tác y tế cho người nghèo Việc đảm bảo an sinh – xã hội cũng là một yếu
tố quan trọng giúp phát triển kinh tế, xã hội ổn định và ngăn chặn lạm phát
1.6.2.2 Đổi mới chính sách quản lý tài chính công :
Đẩy mạnh tăng cường quản lý các khoản thu, tăng thu từ thuế dựa trên cơ sở mởrộng và nuôi dưỡng nguồn thu, chống thất thu về thuế Trong việc thực hiện ngân sáchnhà nước phải thực hành tiết kiệm, đảm bảo chi phải hiệu quả thúc đẩy kinh tế pháttriển, chống thất thoát lãng phí trong các dự án đầu tư của chính phủ nhằm đảm bảo cânđối ngân sách chính phủ Giảm bội chi là nhân tố quan trọng trong chống lạm phát
1.6.2.3 Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn hảo :
Phấn đấu đến việc xây dựng thị trường cạnh tranh hoàn hảo Vì trong thị trườngcạnh tranh hoàn hảo, mọi doanh nghiệp đều công bằng như nhau về các chính sách nêncác doanh nghiệp phải cố gắng hết sức để cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất vừa tăngchất lượng nhưng cũng đảm bảo chất lượng vì thế tình hình lạm phát cao sẽ ít xảy ra dothiếu nguồn cung hay do sự lũng đoạn thị trường Vì thế các chính phủ cần xây dựngcác bộ luật sao cho thúc đẩy việc cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, chốngđộc quyền
Trang 181.6.2.4 Dùng lạm phát chống lạm phát :
Những quốc gia hiện tại vẫn còn tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, conngười, chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng có thể gia tăng chi cho đầu tư phát triển,
có thể sử dụng lâu dài như công trình cầu đường, sân bay nhằm đem lại lợi ích kinh tếtrong tương lai
1.6.2.5 Tạo lòng tin người dân vào Chính Phủ :
Đẩy mạnh công tác quản lý giá thị trường, xây dựng các quỹ dự trự hàng hóanhằm xuất dùng những lúc cần thiết, chống nạn đầu cơ lũng đoạn thị trường tạo tâm lýtốt cho người dân về các biện pháp của nhà nước cũng là yếu tố quan trọng chống nạnlạm phát cao
1.7 Hiện tượng giảm phát :
Theo phương trình của Fisher M.V = P.Y, giảm phát là hiện tượng xảy ra khi vì lý
do nào đó mà M trong lưu thông giảm xuống kéo theo P giảm Trong đó có khả nănggây nên tình trạng phá sản các doanh nghiệp, thất nghiệp tràn lan, nhu cầu tiêu dùnggiảm xuống Còn theo J.M.Kernes thì giảm phát là hiện tượng khi nhà nước bơm thêmtiền vào lưu thông mà giá cả hàng hóa không tăng lên
* Biểu hiện của giảm phát:
+ Giá các mặt hàng liên tục giảm, GDP tăng trưởng âm
+ Ngân hàng thương mại khó khăn trong cho vay, lãi suất huy động tiết kiệm thấpkhiến người dân không muốn gửi tiền ngân hàng, các nhà đầu tư thì cân nhắc kĩ khi vaytiền ngân hàng vì lãi suất thực tế cao hơn nhiều lãi suất danh nghĩa khiến dòng tiềntrong lưu thông bị tắt nghẽn, ứ đọng lượng cung tiền trong ngân hàng
+ Lạm phát thấp khiến tiền công của công nhân cao hơn, họ sẽ giảm cung sảnxuất và dùng nhiều thời gian để nghỉ ngơi hơn, do giá của nhiều mặt hàng xuống thấpcác doanh nghiệp không muốn đầu tư sản xuất, hoạt động sản xuất trong nền kinh tế trởnên chậm chạp không sôi động
Giảm phát là hiện tượng kinh tế ngược với lạm phát và có ảnh hưởng xấu đến nềnkinh tế nếu chúng ta không biết cách khắc phục
* Nguyên nhân của giảm phát:
+ Việc chính phủ đề ra các biện pháp chống lạm phát quá liều, biện phát thắt chặttiền tệ quá mức, giảm chi tiêu triệt để khiến lượng cầu giảm xuống nhanh, các ngànhkinh tế thiếu vốn trong sản xuất khiến sản xuất kém linh động, nhu cầu nguyên liệu đầuvào giảm làm giá giảm nhanh
+ Các biện pháp phòng lạm phát xảy ra quá cứng nhắc, điều hành quản lý giá cácmặt hàng một cách cứng nhắc không tuân theo quy luật thị trường khiến nhà sản xuấtkhông muốn đầu tư
+ Do kì vọng của dân chúng, doanh nghiệp là giá cả trong tương lai và giảm cầutrong hiện tại khiến giá cả giảm nhanh
+ Sai lầm trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ
* Hậu quả: Giảm phát có tác động mạnh đến tình hình kinh tế trong nước không
kém lạm phát
+ Do nhu cầu giảm xuống nên khiến sản xuất bị đình trệ, doanh nghiệp khôngmuốn đầu tư gia tăng sản xuất gây lãng phí nguồn tài nguyên, tình trạng xuất khẩu suygiảm do các nước trên thế giới giảm cầu
+ Tình hình sản xuất trong nước ảm đạm do nhu cầu tiêu thụ hàng hóa suy giảm,giá cả giảm xuống, nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, tình trạng sản xuất bị đình đốnggây nguy hại đến nền kinh tế trong nước
Trang 19tế toàn cầu bắt đầu năm 2008 đã làm chỉ số lạm phát Việt Nam đang có những diễn biếnphức tạp với mức tăng 2 con số trở thành nỗi lo đối với các nhà làm chính sách trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô
2.1.1 Giai đoạn 2005 – 2008 :
Bảng 1 : CPI qua các năm 2006 , 2007 , 2008
Như được "tiếp sức" từ năm 2007, lạm phát tại Việt Nam bùng phát mạnh đạt mức tăng cao kỉ lục với mức tăng đến 22,97% vào năm 2008 do ảnh hưởng cuộc cơn bão giá đầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra mối nguy lớn cho tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
Nhìn vào biểu đồ CPI trên hình ta nhận thấy có những điểm đáng lưu ý trong chỉ
số CPI của năm 2008
Thứ nhất: Đây là năm tăng giá CPI cao nhất từ năm 2000 đến nay với mức tăng 2
con số , có 2 tháng đạt mức tăng cao kỉ lục 3,91% vào tháng 5 và 3,56% vào tháng 2
Thứ hai: Ngoài mức tăng cao kỉ lục vào tháng 5 (3,91%), khoảng cách tăng giữa
tháng cao nhất và tháng thấp nhất cũng rất lớn đạt gần 5% ( so sánh giữa mức tăng3,91% và mức tăng -0,76%)
Thứ ba: Biểu đồ lạm phát năm 2008 rất đặc biệt khác xa so với đa số cùng kì
nhiều năm trước như năm 2006, 2007 lạm phát thường có xu hướng tăng cao vào những
Trang 20tháng đầu năm (trùng dịp tết Nguyên Đán) sau đó trở lại bình thường rồi lại tiếp tục tăng cao vào những tháng cuối năm nhưng trong năm 2008 diễn biến lại thay đổi, tháng tăng cao nhất không nằm ở đầu năm hay cuối năm mà lại nằm vào tháng giữa năm (tháng 5 với mức tăng 3,91%) do ảnh hưởng của cú sốc dầu mỏ tăng mạnh từ giữa năm
2007 và đạt đỉnh vào ngày 11/7/2008 với mức 147 USD/thùng làm giá xăng trong nước tăng cao từ mức 13000 đồng/lít cuối tháng 2 năm 2008 "vọt" lên mức 19000 đồng/lít vào giữa tháng 7/2008 cộng thêm tại thời điểm đó giá gạo thế giới tăng cao đạt mức
1005 USD/ tấn, giá các loại ngũ cốc trên thị trường thế giới tăng mạnh trở thành mối đedọa an ninh lương thực toàn cầu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lần lượt tăng 23,6%: 40,4% và 26,7% trong 3 tháng từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2008 Ngay cả đối với cườngquốc xuất khẩu gạo như Việt Nam,việc thiếu thông tin thị trường đã gây tâm lý hoang mang cho người dân tạo thời cơ thuận lợi cho nạn đầu cơ trục lợi hoành hành còn các
cơ quan chức năng lại dự báo sai tình hình thế giới nên yêu cầu các doanh nghiệp ngừng xuất khẩu gạo dù giá thế giới đang cao, giá phôi thép tăng cao đạt 1150 – 1200 USD/tấn đẩy giá trong nước tăng đến 19-20 triệu đồng một tấn, giá xi măng đạt
80000đồng – 90000đồng/1 bao, nhập siêu nửa đầu năm 2008 đã cao hơn mức nhập siêucủa cả năm 2007
* Tình hình tỷ giá hối đoái Việt Nam cũng diễn biến rất phức tạp :
- Trong 3 tháng đầu năm 2008, tỷ giá VND/USD trên thị trường liên ngân hàngliên tục sụt giảm (từ mức 16.112 VND có thời điểm xuống mức thấp là 15.560 VND).Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD dao động mức 15.700 – 16.000 VND/USD.Nguyên nhân là do đây là giai đoạn gần tết Dương lịch, lượng kiều hối đổ về khá lớn,bên cạnh đó kì vọng VND sẽ tăng giá so với USD, chênh lệch giữa lãi suất VND vàUSD cũng khiến giới đầu tư tập trung bán ngoại tệ đổi lấy tiền đồng cộng thêm việcngân hàng nhà nước không mua ngoại tệ nhằm kiềm chế lượng tiền trong lưu thông,hạn chế bơm tiền ra bên ngoài phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát
- Trong giữa tháng 3 đến giữa tháng 7/2008, tỷ giá tăng dần đều và tăng vọt vàogiữa tháng 6/ năm 2008, đỉnh điểm lên đến 19.400 VND vào ngày 18/6/2008 Tâm lýhoang mang, cộng thêm tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ cũng khiến tỷ giá tăng cao
- Từ nửa cuối tháng 7/2008: tỷ giá giảm và dần đi vào ổn định Nhờ có sự canthiệp kịp thời của ngân hàng nhà nước nên tỷ giá đã được bình ổn giảm từ 19.400 đồngxuống còn 16.400 đồng và giao dịch quanh mức 16.600 VND trong giai đoạn từ tháng 8đến tháng 11/2008
Với diễn biến như vậy, tỷ giá hối đoái đã gây ra tình trạng hoang mang trong dân chúng khiến giới đầu cơ có cơ hội trục lợi tăng giá các mặt hàng làm tình hình lạm phát càng biến động theo chiều hướng xấu ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân