Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam tại đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã với văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐỀ BÀI: SỐ 02
“Vận dụng lý thuyết “Địa – Văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng - miền ở Việt Nam”
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Cơ sở lý luận 2
1 Khái niệm văn hóa 2
2 Giới thiệu công cụ định vị địa văn hóa 2
II Vận dụng lý thuyết “địa văn hoá” để lí giải sự đồng nhất và khác biệt giữa các vùng miền ở Việt Nam 4
1 Lý giải sự tương đồng của 6 vùng văn hóa 4
2 Lý giải sự khác biệt giữa 6 vùng văn hóa của Việt Nam 6
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia trải dài từ bắc vào nam với các vùng sinh thái khác nhau Mặt khác, Việt Nam lại là một quốc gia đa tộc người, với 54 dân tộc cùng chung sống hòa hợp, đoàn kết và thân ái Sự khác biệt về cấu trúc, địa hình, khí hậu
và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hóa có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam tại đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã với văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc Từ các vùng đất biên viễn của người Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung Bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung Bộ Từ những vùng đất mới ở Nam
Bộ với sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khmer đến sự đa dạng văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên Để có thể hiểu kĩ hơn về vấn đề này, nhóm chúng
em xin chọn đề tài số 02 Vận dụng lý thuyết “Địa – Văn hóa” để lý giải về sự (
đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng – miền ở Việt Nam) làm chủ đề
nghiên cứu bài tập nhóm
1
Trang 4NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm văn hóa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
2 Giới thiệu công cụ định vị địa văn hóa
a Khái niệm
Địa – văn hóa là một phương pháp định vị văn hoá theo vùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp giải thích các đặc điểm văn hoá dựa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Phương pháp này góp phần lý giải tính tương đồng văn hoá của các cộng đồng người sống trong cùng một vùng lãnh thổ - nơi có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau
Cơ sở khoa học của phương pháp này là:
Bản thân con người cũng là một bộ phận tự nhiên nên để tồn tại, con người phải tiến hành trao đổi chất với tự nhiên
Quá trình này diễn ra theo 2 hướng: Thích nghi và cải tạo tự nhiên Thích nghi - in dấu ấn trong văn hoá nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hoá phi vật thể); còn biến đổi - được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (văn hoá vật thể)
b Đặc điểm văn hóa Việt Nam từ công cụ địa văn hóa
Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Á mang những đặc điểm địa lý - khí hậu sau:
Địa lý: Đông Nam Á là một vùng nhiệt đới có tính đa dạng về diện mạo sinh
thái, bao gồm 5 cảnh quan: sườn núi dốc vùng núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng châu thổ, duyên hải và đảo Vì vậy con người có nhiều cách canh tác đa dạng: làm rẫy, ruộng – rẫy, ruộng – vườn, nông – ngư nghiệp
Khí hậu: Nóng, ẩm, mưa nhiều (trung bình 2000mm); sông nước tạo thành
văn hoá nông nghiệp lúa nước; nơi giao điểm của các nền văn hoá
2
Trang 5Không gian văn hóa Việt Nam:
- Trong phạm vi hẹp, Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người Bách Việt
Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt Nam ngày nay
- Ở phạm vi rộng hơn, văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesien lục địa Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử (Trung Quốc) còn đỉnh của tam giác giờ đây kéo dài tới tận vùng đồng bằng sông Mekông Đây là địa bàn cư trú của người Indonésien
cổ đại nói chung Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của vùng văn hóa Đông Nam Á mà ở trên đã nói Hơn thế nữa, do vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hóa khu vực, không phải vô cớ mà các nhà Đông Nam Á học đã nói rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ
Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lý cố hữu của khu vực này vẫn là nhiệt
độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa.
Điều kiện tự nhiên qui định cho khu vực này loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, với những đặc điểm cơ bản sau:
Trồng lúa nước (khác với văn hóa khô mạch của Trung Hoa- vùng phía bắc sông Dương Tử) là một đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa nông nghiệp Việt Nam Nước ta có hai vựa lúa lớn là đồng bằng sông Hồng với năng suất lúa cao nhất cả nước và đồng bằng sông Cửu Long với sản lượng lúa cao nhất cả nước Nước ta còn có hình thức canh tác độc đáo là trồng lúa trên ruộng bậc thang, không chỉ tạo ra lương thực cho đồng bào vùng cao mà còn đem lại cảnh quan đẹp mắt, thu hút khách du lịch
Trồng thuốc để phòng và chữa bệnh Ngoài ra còn có nghề phụ: nữ dệt vải, nam chài lưới tạo thành mô hình kinh tế khép kín
Sống định cư, hoà hợp với thiên nhiên (khác với văn hóa gốc du mục)
Đề cao vai trò của phụ nữ (một đặc trưng của văn hóa thực vật, nơi chế độ mẫu hệ dựa trên kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị)
Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần của văn hóa nông nghiệp định cư coi trọng ngôi nhà, coi trọng cái bếp, coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và
rõ nét Tục ngữ Việt Nam chứa đựng không ít những câu thể hiện điều này như: Nhất vợ nhì trời, Lệnh ông không bằng cồng bà, Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng… Phụ nữ Việt Nam được xem là người có trách nhiệm quản lý
3
Trang 6kinh tế, tài chính trong gia đình, dân gian gọi họ là “người tay hòm chìa khóa”, đề cao vai trò, đóng góp của họ trong gia đình Phụ nữ Việt Nam được xem là người
có vai trò quyết định trong việc giáo dục con: Phúc đức tại mẫu, Con dại cái mang (thành ngữ) Vì tầm quan trọng của người mẹ, cho nên trong tiếng Việt, từ “cái” vốn có nghĩa là “mẹ” đã được chuyển nghĩa thành “lớn, quan trọng, chủ yếu” như: sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, ngón tay cái, chữ cái…
Bên cạnh đó, điều kiện địa lý riêng có của Việt Nam cũng tạo ra những phẩm chất văn hoá độc đáo (các yếu tố riêng thuộc về bản sắc):
Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao (ảnh hưởng của môi trường nước)
Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường thuỷ và đường bộ – cửa ngõ của Đông Nam Á nên người dân thường xuyên giao lưu với khu vực bên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoạt động giao lưu đó
Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và thuỷ lợi), do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững và cư dân của khu vực này thường phải sống chung với nước
Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước, đua thuyền )
II Vận dụng lý thuyết “địa văn hoá” để lí giải sự đồng nhất và khác biệt giữa các vùng miền ở Việt Nam
Bắt nguồn từ sự đa dạng trong khu vực với 54 dân tộc và nhiều vùng miền khác nhau mà nền văn hóa của Việt Nam cũng vô cùng đa dạng và phong phú Mỗi vùng
có những nét văn hóa riêng thể hiện qua nhiều khía cạnh, tuy nhiên văn hóa Việt Nam được phân chia thành 6 vùng nhưng đều có những nét tương đồng chung của một nền văn hóa lớn và những nét riêng do bởi sự khác biệt địa lý
1 Lý giải sự tương đồng của 6 vùng văn hóa
Về thời gian: Tiến trình lịch sử với kết quả thống nhất là nền văn hóa hiện tại Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Bách Việt Đây là cái nôi của
nghề nông nghiệp lúa nước, của nghệ thuật đúc đồng với những trống đồng Đông Sơn nổi tiếng Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo,
4
Trang 7tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học nghệ thuật,
Về không gian: Thống nhất trong khuôn khổ lãnh thổ.
Để minh chứng cho sự thống nhất về không gian, có thể thấy Việt Nam có văn hóa trồng lúc nước bao trùm khắp mọi miền đất nước Đây không những lànguồn lương thực chính của người dân Việt Nam mà còn là nguồn xuất khẩu lớn mang lại lợi nhuận cao, cũng chính nhờ điều đó đã mang lại cho Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới và đặc biệt gạo Sóc Trăng đã được công nhận
là gạo ngon nhất thế giới
Về các mặt văn hóa chủ yếu: triết học và tư tưởng, phong tục tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo, ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật.
Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21 Cho nên văn hóa Việt Nam đều có nhiều nét tương đồng ở nhiều khía cạnh khác nhau
Cụ thể:
Tín ngưỡng: Từ thuở xa xưa các dân tộc trên đất Việt Nam đã thờ rất nhiều
thần linh Các dân tộc thờ tất cả các thế lực vô hình và hữu hình mà thực chất
là các hiện tượng thiên nhiên và xã hội chưa thể giải thích được vào thời đó Ngày nay, nhờ những nghiên cứu, những lễ hội, những phong tục hiện hữu chúng ta biết nhiều hơn về cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của các dân tộc Việt Nam cổ nói chung và tín ngưỡng của họ nói riêng
Tôn giáo: Trên danh nghĩa, các tôn giáo ở Việt Nam gồm: Phật giáo Đại
thừa, Khổng giáo và Đạo giáo (được gọi là "Tam giáo") Có một số tôn giáo khác như Công giáo Rôma Cao Đài, và Hòa Hảo Những nhóm tôn giáo có ít tín đồ hơn khác gồm Phật giáo Tiểu thừa Tin Lành, và Hồi giáo
Ngôn ngữ: Các nhà dân tộc học đã chia các dân tộc ở Việt Nam thành 8
nhóm ngôn ngữ Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của dân tộc Việt Nam, là tiếng mẹ đẻ của người Việt và đồng thời là ngôn ngữ hành chính chung của
54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, tiếng Việt được 86% người dân sử dụng
5
Trang 8 Phong tục: Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm
nay, nó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sức mạnh hơn cả những đạo luật Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tục của người Việt Nam cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội Tuy nhiên có những phong tục mất đi nhưng cũng có những phong tục khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của nó qua việc những phong tục đó còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam (sớm nhất được nhắc trong lịch sử Việt Nam là tục ăn trầu)
Ẩm thực: Ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục
tiêu hàng đầu là ăn bổ, thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị
dù không thực sự bổ béo
Lễ hội: Việt Nam là một nước có nhiều lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt
của cộng đồng Trong lễ hội, các lễ nghi tín ngưỡng, các phong tục tập quán, các thể lệ và hình thức sinh hoạt của một cộng đồng đã được tái hiện một cách rất sinh động Lễ hội được tổ chức vào những thời điểm khác nhau trong một năm, tuỳ thuộc vào phong tục tập quán của từng dân tộc, nhưng lễ hội vẫn tập trung nhiều nhất vào mùa Xuân
Trang phục: Tế nhị, kín đáo.
2 Lý giải sự khác biệt giữa 6 vùng văn hóa của Việt Nam.
Không gian văn hoá:
Vùng địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và liên kết với nhau Không gian văn hoá là “trường văn hoá“, trong đó diễn ra quá trình hình thành, tiếp nhận, lan toả văn hoá
Ví dụ: Vùng văn hóa Tây Bắc: Địa hình núi cao hiểm trở, có trên 20 tộc người
(đa số là Thái và Mường) Vùng văn hóa Việt Bắc: Vị trí địa đầu đất nước, gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Vùng văn hóa Châu thổ Bắc Bộ: Đất đai trù phú, thời tiết bốn mùa tương đối rõ nét Là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế Cư dân chủ yếu là người Việt Vùng văn hóa Tây Nguyên: Là vùng đất từ Đèo Ngang đến Bình Thuận, đất đai khô cằn, khí hậu khắc nghiệt.Là nơi giao lưu trực tiếp giữa người Việt và người Chăm Vùng văn hóa Trung Bộ: Nằm trên sườn đông của dãy Trường Sơn, gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng.Cư dân: Khoảng 20 nhóm dân tộc, thuộc hai nhóm ngữ
hệ Môn-Khmer và Mã LaiNam Đảo Vùng văn hóa Việt Bắc: Vị trí địa đầu đất nước, gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Cư dân chủ yếu là
6
Trang 9người Tày, Nùng Vùng văn hóa Nam Bộ: Nằm ở lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long, khí hậu có hai mùa: Mùa khô – mùa mưa.Cư dân: Việt, Chăm, Hoa và
cư dân bản địa Khmer, Mạ, Xtiêng, Chơro, Mnông
Thời gian văn hoá:
Diễn ra những hiện tượng văn hóa tồn tại, biến đổi dưới sự tác động của môi trường tự nhiên và xã hội…
Nhu cầu về đời sống của mỗi vùng khác biệt:
Các giá trị văn hóa phản ánh các mặt của đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân trong một không gian văn hóa nhất định
Ví dụ: Người dân Nam bộ với khăn rằn quấn cồ, áo nâu sòng, cùng quần đen
thanh thoát lại tạo nét giản dị đơn sơ nhưng không về lép vế Nét trang phục toát lên sự dịu dàng nữ tính trong cả lời ăn tiếng nói, sự khéo léo thùy mị, sự hiền lành chất phác mà giản dị của người dân nơi đây Vùng đất “làm chơi ăn thiệt” là cái tên người ta đặt cho vùng đất nơi đây, có lẽ bởi sự ưu ái của thiên nhiên tạo ra nguồn thức ăn phong phú đa dàng cũng vô cùng dễ dàng khai thác từ nguồn lợi tự nhiên Tây Nguyên thì trang phục chủ yếu là thổ cẩm, hoa văn sông núi, thể hiện tinh thần yêu chuộng thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, quần áo gọn gàng, giản dị để phù hợp với yêu cầu của đời sống thể sự mạnh mẽ, cứng cỏi của những con núi rừng đại ngàn
Những nét văn hóa riêng biệt của từng vùng:
a Vùng văn hóa Tây Bắc
Có hơn hai mươi tộc người cùng cư trú xen cài với nhau, nhưng trong đó tộc Thái nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc Từ điều kiện cảnh quan, môi trường sống đã tạo nên những nét đặc trưng, cả về vật chất dẫn tinh thần, cho văn hóa vùng này Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc tuy chưa có văn hóa chuyên nghiệp, nhưng mỗi tộc người đều có một kho văn hóa nghệ thuật riêng với ngôn từ giàu có và đủ thể loại, nghệ thuật múa dân tộc cũng là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc Trong đó, Xòe - đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc Tương truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịu dàng của hai chàng trai Xoè vòng sôi nổi bao nhiêu thì xòe điệu nhẹ nhàng, tinh tế bấy nhiêu Người H'mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, với người Mường thì phải được xem múa bông Riêng điệu múa Xạp, trừ người H'mông còn dân tộc nào trong vùng cũng có, mỗi nơi một vẻ riêng
7
Trang 10Các tộc người trong vùng đều có tín ngưỡng ''vạn vật hữu linh'' và tín ngưỡng nông nghiệp âm nhạc và ca hát ở đây rất đặc biệt: Hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng đồng, hoặc bằng bạc không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát chứ không phải để đọc, những truyện thơ, những áng
sử thi được trình diễn bằng cả những liên khúc âm nhạc
b Vùng văn hóa Việt Bắc
Cư dân chủ yếu của vùng Việt Bắc là người Tày - Nùng, ngoài ra còn có các tộc khác như H'Mông, Dao, Hoa, , nhưng trong đó văn hóa Tày - Nùng giữ vai trò chủ thể và có ảnh hưởng tới văn hóa của các tộc người khác Những đặc trưng văn hóa chung của vùng được thể hiện qua nếp sống lâu đời của các cư dân ở đây, qua các phương thức lao động, qua cách ứng xử với môi trường tự nhiên, qua các thói quen trong sinh hoạt của họ Tín ngưỡng của các cư dân ở đây pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng nông nghiệp, thờ cúng tổ tiên ) với các ảnh hưởng Đạo giáo, Phật giáo và Khổng giáo
Các sinh hoạt văn hóa cộng đồng thể hiện tập trung ở các lễ hội cổ truyền (mà điển hình là hội Lồng tồng - hội xuống đồng), và sinh hoạt văn hóa chợ, đây là một sinh hoạt văn hóa đặc thù ở vùng Việt Bắc Các thể loại văn học dân gian Việt Bắc khá đa dạng và phong phú Một điều đáng chú ý nữa là tầng lớp tri thức Tày Nùng hình thành từ rất sớm đầu tiên là các trí thức dân gian (như các thày Mo, Then, Tào, Pụt) và sau đó là tầng lớp trí thức Nho học, rồi Tây học Ngày nay việc đào tạo trí thức, cán bộ khoa học cho Việt Bắc cũng được Nhà nước ta rất chú ý
c Vùng văn hóa Bắc Bộ
Cư dân chủ yếu là người Việt và nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước Châu thổ Bắc Bộ là vùng văn hóa - lịch sử cổ, là cái nôi hình thành dân tộc Việt, là trung tâm của các nền văn minh lớn: Đông Sơn, Đại Việt , do vậy nó mang trong mình truyền thống văn hóa dân tộc bền chắc, vừa thích ứng kịp thời với những biến động lịch sử - thể hiện ở chỗ luôn tiếp thu những ảnh hưởng bên ngoài để tái tạo nên giá trị và bản sắc riêng - vừa đóng vai trò định hướng cho đường đi của dân tộc và đất nước Đây là vùng đất có sức hút những tinh hoa muôn nơi, rồi từ đó lại tỏa đi muôn nơi những giá trị văn hóa, khiến nó trở thành biểu tượng cao đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam
Về tín ngưỡng, thờ Thành Hoàng, thờ mẫu Về tôn giáo, cư dân Băc Bộ có sự tiếp nhận phật giáo, đã bản địa hóa thành phật giáo dân gian Vai trò "hướng đạo" của vùng văn hóa Bắc Bộ cũng rất rõ: là cội nguồn của vùng văn hóa Trung bộ,
8