1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng lí thuyết “địa văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền việt nam

20 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự khác nhau về đặc điểm khí hậu, cấu trúc địa hình và sự phân bố trải dài của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ đất nước Việt Nam đã hình thành ra nhiều vùng văn hóa có những nét đặc

Trang 1

Mục lục

I Khái quát về công cụ địa vị văn hóa: Địa-Văn hóa 6

1 Khái niệm 6

2 Cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu địa văn hóa: 6

II Đặc điểm văn hóa Việt Nam từ công cụ địa văn hóa: 7

1.Không gian văn hóa Việt Nam: 7

2 Đặc trưng của văn hóa Việt Nam từ công cụ địa – văn hóa: 8

III Những yếu tố tạo nên sự giống nhau về văn hóa giữa các vùng miền Việt Nam dựa theo lý thuyết Địa-Văn hóa: 12

1 Văn hóa nông nghiệp lúa nước 13

2 Sống định cư và hòa hợp với thiên nhiên 14

3 Tính dung chấp cao 16

4 Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và thủy lợi) 17

IV Những yếu tố tạo nên sự khác biệt văn hóa giữa các vùng miền Việt Nam dựa theo lý thuyết Địa-Văn hóa: 18

1 Yếu tố môi trường tự nhiên 18

2 Yếu tố địa lí ảnh hưởng tới con người 20

3 Địa lí và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội 20

4 Văn minh và văn hóa 22

KẾT LUẬN 24

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc cùng chung sống đoàn kết và hòa hợp Bên cạnh đó , Việt Nam còn là một quốc đa dạng các vùng sinh thái được trải từ Nam ra Bắc Với sự khác nhau về đặc điểm khí hậu, cấu trúc địa hình và

sự phân bố trải dài của 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ đất nước Việt Nam đã hình thành ra nhiều vùng văn hóa có những nét đặc trưng riêng biệt Từ nền tảng của văn hóa Việt Nam tại đồng bằng sông là nền văn hóa làng xã, nền văn minh lúa nước cùng với những đặc trưng văn hóa của các dân tộc tại miền núi Tây Bắc

và Đông Bắc Từ các vùng biên giới thời dựng nước ở Bắc Trung Bộ hòa trộn với văn hóa của người Chăm tại Nam Trung Bộ và với sự kết hợp của văn hóa của người Hoa, người Khmer tại những vùng đất tại Nam bộ hay sự đa dạng về văn hóa các dân tộc người ở Tây Nguyên Việc tìm hiểu rõ hơn văn hóa giữa các vùng-miền ở Việt Nam từ góc độ Địa- Văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về

nền văn hóa của dân tộc mình Do đó nhóm 2 chúng em đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng lí thuyết “Địa-Văn hóa” để lý giải về sự đồng nhất và khác biệt văn hóa giữa các vùng miền Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu chính của bài tập

nhóm

Trang 3

NỘI DUNG

I Khái quát về công cụ địa vị văn hóa: Địa-Văn hóa

1 Khái niệm.

Địa-Văn hóa là phương pháp định vị văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời giải thích các đặc điểm văn hóa, dụa vào điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Đây cũng là phương pháp góp phần giải thích về tính tương đồng văn hóa của các cộng đồng người sống trong một vùng lãnh thổ- nơi có điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau

2 Cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu địa văn hóa:

- Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên

- Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi chất với môi trường

tự nhiên

- Quá trình trao đổi chất diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tự nhiên và cải tạo tự nhiên Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hóa, cụ thể:

 Thích nghi: In dấu trong văn hóa nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hóa phi vật thể)

 Biến đổi: Được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (văn hóa vật thể)

Như vậy có thể khẳng định rằng môi trường tự nhiên chi phối quá trình hình thành và phát triển Văn hóa

Trang 4

II Đặc điểm văn hóa Việt Nam từ công cụ địa văn hóa:

*Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Việt Nam thuộc khu vực trung tâm Đông Nam Á, phần rìa bán đảo Đông Dương mang những đặc điểm địa lý - khí hậu sau:

- Địa lý: Đông Nam Á là một vùng nhiệt đới có tính đa dạng về diện mạo sinh thái, bao gồm 5 cảnh quan: sườn núi dốc vùng núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng châu thổ, duyên hải và đảo Vì vậy con người có nhiều cách canh tác đa dạng: làm rẫy, ruộng – rẫy, ruộng – vườn, nông – ngư nghiệp

- Khí hậu: Nóng, ẩm, mưa nhiều (trung bình 2000 mm); sông nước tạo thành văn hoá nông nghiệp lúa nước; nơi giao điểm (ngã tư đường) của các nền văn hoá, văn minh

1 Không gian văn hóa Việt Nam:

Có phần phức tạp hơn: Bởi lẽ văn hóa có tính lịch sử (yếu tố thời gian), cho nên không gian văn hóa liên quan đến lãnh thổ nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ Nó bao quát tất thảy những vùng lãnh thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại Do vậy, không gian văn hóa bao giờ cũng rộng hơn không gian lãnh thổ; không gian văn hóa của hai dân tộc ở cạnh nhau thường có phần chồng lên nhau, có miền giáp ranh

- Trong phạm vi hẹp, Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người Bách Việt Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là

sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt Nam ngày nay Đây là cái nôi của nghề nông nghiệp lúa nước, của nghệ thuật đúc đồng với những trống đồng Đông Sơn nổi tiếng, cũng là bờ cõi đất nước của họ Hồng Bàng theo truyền thuyết

- Ở phạm vi rộng hơn, văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesien lục địa Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh

đáy vẫn là sông Dương Tử (Trung Quốc) còn đỉnh của tam giác giờ đây kéo dài tới tận vùng đồng bằng sông Mekong Đây là địa bàn cư trú của người

Trang 5

Indonésien Cổ đại nói chung Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của vùng văn hóa Đông Nam Á mà ở trên đã nói

Hơn thế nữa, do vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất mọi đặc trưng của văn hóa khu vực, không phải vô cớ mà các nhà Đông Nam Á học đã nói rằng Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ

2 Đặc trưng của văn hóa Việt Nam từ công cụ địa – văn hóa:

Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lý cố hữu của khu vực này vẫn là nhiệt độ, độ

ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hóa gốc nông nghiệp:

- Trồng lúa nước (khác với văn hóa khô mạch của Trung Hoa- vùng phía bắc

sông Dương Tử) là một đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa nông nghiệp Việt Nam Nước ta có hai vựa lúa lớn là đồng bằng sông Hồng với năng suất lúa cao nhất cả nước và đồng bằng sông Cửu Long với sản lượng lúa cao nhất cả nước Nước ta còn có hình thức canh tác độc đáo là trồng lúa trên ruộng bậc thang, không chỉ tạo ra lương thực cho đồng bào vùng cao mà còn đem lại cảnh quan đẹp mắt, thu hút khách du lịch Trồng thuốc để phòng và chữa bệnh Ngoài ra còn có nghề phụ nữ dệt vải, nam chài lưới tạo thành mô hình kinh tế khép kín

- Sống định cư, hoà hợp với thiên nhiên (khác với văn hóa gốc du mục).

- Đề cao vai trò của phụ nữ (một đặc trưng của văn hóa thực vật, nơi chế độ

mẫu hệ dựa trên kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị) Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần của văn hóa nông nghiệp định cư coi trọng ngôi nhà, coi trọng cái bếp, coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và

rõ nét Tục ngữ Việt Nam chứa đựng không ít những câu thể hiện điều này như: “Nhất vợ nhì trời”, “Lệnh ông không bằng công bà”, “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”, “Làm trai lấy được vợ hiền/ Như cầm đồng tiền mua được của ngon” Phụ nữ Việt Nam được xem là người có trách nhiệm quản lý kinh tế, tài chính trong gia đình, dân gian gọi họ là

“người tay hòm chìa khóa”, đề cao vai trò, đóng góp của họ trong gia đình

Trang 6

Phụ nữ Việt Nam được xem là người có vai trò quyết định trong việc giáo dục con: “Phúc đức tại mẫu”, “Con dại cái mang” Vì tầm quan trọng của người

mẹ, cho nên trong tiếng Việt, từ “cái” vốn có nghĩa là “mẹ” đã được chuyển nghĩa thành “lớn, quan trọng, chủ yếu” như: sông cái, đường cái, đũa cái, cột cái, ngón tay cái, chữ cái…

Bên cạnh đó, điều kiện địa lý riêng của Việt Nam cũng tạo ra những phẩm chất văn hoá độc đáo riêng (các yếu tố riêng thuộc về bản sắc):

- Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao.

Vì nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước, cùng lúc phụ thuộc tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên (trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm) cho nên về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp Tổng hợp kéo theo biện chứng - cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải

là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện chứng là chú trọng đến các mối quan hệ giữa chúng Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này : “Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa” Do ảnh hưởng của môi trường nước nên người Việt có khả năng thích nghi và chịu đựng cao Trong cuộc sống, họ thường xuyên phải đối mặt với những thử thách của thiên nhiên, đặc trưng của vùng sông nước như: bão, lũ lụt… nên họ tự đúc rút kinh nghiệm cho mình, thích nghi dần với hoàn cảnh, kiên trì bền bỉ vượt qua thử thách

- Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường thuỷ và đường bộ – cửa

ngõ của Đông Nam Á nên người dân thường xuyên giao lưu với khu vực bên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoạt động giao lưu đó

Tính dung chấp cao không đồng nghĩa với tính hỗn tạp và lai căng văn hóa Trái lại, nó có tác dụng điều tiết quá trình lựa chọn và kết hợp một cách sáng tạo giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh với văn hóa bản địa, sao cho bản sắc văn hóa dân tộc vẫn được bảo tồn và duy trì

Trang 7

Nhờ có tính dung chấp mà quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa không những không làm tổn hại đến văn hóa bản địa mà trái lại còn làm cho nền văn hóa ấy trở nên ngày càng giàu có và phong phú hơn

Tuy nhiên cần biết cách loại bỏ những yếu tố văn hóa lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của dân tộc và biết chấp nhận những giá trị tiến bộ bên ngoài để đưa dân tộc tiến lên

Một mặt, tính dung chấp văn hóa của người Việt bắt nguồn từ quá trình hình thành dân tộc Việt: đây là dân tộc được hình thành từ sự hòa huyết về chủng, từ

sự tổng hợp về mặt ngôn ngữ và từ sự giao thoa của nhiều nền văn hóa trong khu vực Chính quá trình hình thành như vậy đã quy định rằng: nền văn hóa của người Việt phải là một hệ thống tổng hợp và phải là một hệ thống mở, do đó phải

có tính dung chấp

Mặt khác, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã góp phần định hình tính dung chấp văn hóa của dân tộc này: đứng trước một cường quốc hùng mạnh tại khu vực lại luôn có dã tâm xâm chiếm và đồng hóa, việc phải mở cửa nền văn hóa và chấp nhận những giá trị văn hóa bên ngoài tràn vào

là một tất yếu

Bởi vậy, dân tộc Việt Nam không đứng trước những vấn đề mà nhiều dân tộc khác gặp phải là sự lựa chọn giữa “đóng” hay “mở cửa” nền văn hóa dân tộc Vấn đề đặt ra đối với người Việt luôn là nên hấp thụ những yếu tố văn hóa nào

và cải biến chúng ra sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của dân tộc Nếu biết vận dụng tính dung chấp văn hóa, thì đó sẽ là một lợi thế lớn của dân tộc trong công cuộc hội nhập vào đời sống quốc tế hiện nay

- Không có những công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và

thủy lợi)

Do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững nên không thể xây dựng công trình đồ sộ Cư dân Việt thường phải sống chung với nước, chống chọi với lũ lụt, đặc biệt là ở khu vực miền Trung, một bên là dãy Trường Sơn,

Trang 8

một bên là Biển Đông Vì vậy những cơn bão, áp thấp nhiệt đới thường xuyên đổ xuống vùng đất này Người dân thường xuyên phải đối chọi với thiên tai, cuộc sống bấp bênh khốn khổ là lí do họ không thể xây dựng những công trình kiến trúc lớn

- Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước, đua

thuyền )

Cuộc sống của người dân Việt gắn liền với sông nước, bởi vậy họ sáng tạo ra rất nhiều loại hình nghệ thuật đặc trưng của khu vực mình

 Rối nước là “đặc sản văn hóa” của cư dân trồng lúa nước Việt Nam Nếu rối là công trình của nghệ thuật tạc tượng gỗ dân gian thì nước là một yếu tố quan trọng hàng đầu của nghề trồng lúa nước (nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống) Rối nước vừa thực vừa hư, gắn bó với người dân Việt Nam như gốc đa, cây tre Sân khấu rối nước là sân khấu hội

hè, lưu giữ nhiều sáng tạo nghệ thuật dân gian, kĩ thuật cổ xưa với những tập tục sinh hoạt tinh thần của người nông dân trồng lúa nước

 Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam Chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân Việt Nội dung các vở chèo được lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc Chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Nó là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, mượn sân khấu và diễn viên để làm phương tiện giao lưu với công chúng, có thể được biểu diễn ngẫu hứng Đặc điểm nghệ thuật chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính ước lệ và cách điệu Ngôn ngữ và cấu trúc của chèo rất tự do phóng khoáng, không có cấu trúc cố định

Trang 9

III Những yếu tố tạo nên sự giống nhau về văn hóa giữa các vùng miền Việt Nam dựa theo lý thuyết Địa-Văn hóa:

*Vùng văn hóa là gì?

Do quá trình hình thành các dân tộc và sự phân bố dân cư, do điều kiện thiên nhiên – địa lý và phương thức sản xuất, do truyền thống tín ngưỡng và tập tục lâu đời… trên đất nước ta đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau

“Tuy khác nhau về những đặc điểm tâm lý, hình thái và loại hình văn hóa – nghệ thuật, cách ứng xử với tự nhiên và xã hội, nếp sống vật chất và tinh thần, nhưng các vùng văn hóa trong một quốc gia đều có chung một cội nguồn dân tộc, một sắc thái dân tộc, một lịch sử vinh quang hay đau đớn trong tiến trình bảo vệ và xây dựng đất nước” Các vùng văn hóa thống nhất trong cái chung của văn hóa dân tộc và thể hiện sự đa dạng trong cái riêng của mỗi khu vực về không gian văn hóa trong một đất nước Để nghiên cứu về những không gian văn hóa đó thì cần phải phân vùng văn hóa Theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh, “vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” Tiến sĩ Huỳnh Công Bá cho rằng

“vùng văn hóa là một không gian văn hóa được tạo thành bởi các đơn vị địa lý – dân cư địa phương kế nhau; ở đó có một tập hợp các cơ cấu và đặc trưng văn hóa được hình thành trên cơ sở sự tương đồng về quan hệ nguồn gốc và lịch sử Đó

là một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong sinh hoạt, trong ngôn ngữ, trong thái độ đối với di sản các giá trị tinh thần, trong sự cảm thụ và phương thức nghệ thuật, trong phong thái ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với môi trường” Có thể nói, vùng văn hóa chính là kết quả phát triển cụ thể và có tính địa phương của nền văn hóa một quốc gia thống nhất (đoạn này lấy một số hình ảnh tượng trưng cho hai lời của 2 ông tiến sĩ)

Trang 10

1 Văn hóa nông nghiệp lúa nước

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa nước: khí hậu nóng

ẩm, mưa nhiều, hệ thống sông ngòi dày đặc, đất phù sa màu mờ được bù đắp bởi những con sông lớn: sông Hồng, sông Cửu Long Vì vậy, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với cây lương thực chủ đạo là lúa nước Lịch sử dân tộc Việt Nam gắn liền với cây lúa, nền văn hóa Việt Nam cũng vậy, xuất phát từ nên văn minh lúa nước Từ ngàn đời nay, cây lúa đã gắn bó với con người, làng quê Việt Nam, từ mảnh ruộng mà hình thành nên làng mạc, rồi từ đó mới có đất nước, từ

“đất nước” được câu thành từ hai yếu tô liên quan đến thửa ruộng của người việt,

“đất” và “nước” Cây lúa, hạt gao đã trở nên thân thuộc gần gũi đến mức từ bao đời nay người dân Việt Nam coi đó là một phần không thê thiếu trong cuộc sông

Từ những bừa cơm đơn giản đến các bữa tiệc sang trọng, không thể thiếu sự góp mặt của hạt lúa Cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong đời sông văn hoá tỉnh thần của người Việt Hạt lúa và người nông dân cần cù, mộc mạc là mảng màu không thể thiếu trong bức tranh của làng quê Việt Nam bây giờ và mãi mãi sau này.Cây lúa nước với người Việt không chỉ là một

tư liệu sản xuất đơn thuần mà là một nền tảng văn hóa Có thể nói, bằng nghề trồng lúa nước, người Việt dần dần chiếm lĩnh những vùng đất trồng lúa, bám theo các con sông, dựa vào những bãi phù sa, cư dân lúa nước tiến đến đâu thì dân bản địa phải bạt đi đến đó Làm ra hạt gạo, chủ động được về lương thực, người Việt đã mở rộng được địa bàn cư trú.Quá trình hình thành đất lúa gắn liền với quá trình hình thành một quốc gia nông nghiệp Nền văn minh này đã tạo nên một xã hội lấy làng xã làm cơ sở, làng nào ruộng đó Có ruộng thì sẽ thành làng,

có làng sẽ có đình, chùa, ao hồ các điểm tụ cư nông nghiệp cứ thế mà hoàn thiện dần Ngôi làng nằm ở giữa, các cư dân của làng canh tác xung quanh, hết đất ruộng của làng này mới sang một làng khác

2 Sống định cư và hòa hợp với thiên nhiên

Nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch Vì vậy người Việt thích cuộc sống định cư lâu dài, không thích sự di chuyền, đổi thay Văn hoá Việt Nam mang cội nguồn và bản sắc của

Ngày đăng: 12/04/2022, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w