Việc triển khai nghiên cứu bài học Lesson Study trong sinh hoạt tổ chuyên môn góp phần đắc lực hình thành năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THẾ TRUYỀN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Ngọc Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban lãnh đạo Khoa Tâm lý giáo dục, Khoa sau Đại học và tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện, cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn
PGS.TS Hà Thế Truyền đã tận tình trực tiếp hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và các phòng Ban thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ; Ban Giám hiệu các trường THPT trên địa bàn huyện Phù Ninh, giáo viên trường THPT Tử Đà, gia đình, bạn bè
đã cổ vũ, động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song những thiếu sót trong luận văn không tránh khỏi Kính mong nhận được các ý kiến phê bình và đóng góp quý báu của quý thầy, cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Ngọc Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của đề tài 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn 11
1.2.1 Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH 11
1.2.2 Tổ chuyên môn 14
1.2.3 Sinh hoạt tổ chuyên môn theo NCBH 16
1.3 Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT 19
1.4 Quản lý nhà trường THPT; chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT 19
1.4.1 Quản lý nhà trường 19
1.4.2 Quản lý nhà trường THPT 21
1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn 22
Trang 61.5 Nội dung quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở
trường THPT 26
1.5.1 Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động NCBH của nhà trường 26
1.5.2 Bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn cho giáo viên 26
1.5.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH 28
1.5.4 Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH của các tổ chuyên môn 30
1.5.5 Tạo động lực cho đội ngũ TTCM, GV và học sinh 30
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT 31
1.6.1 Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể quản lý 31
1.6.2 Nhóm nhân tố thuộc về đối tượng quản lý 31
1.6.3 Các nhân tố thuộc về môi trường quản lí 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT TỬ ĐÀ HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1 Đặc điểm tình hình giáo dục THPT huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và trường THPT Tử Đà 33
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 33
2.1.2 Tình hình giáo dục của huyện Phù Ninh năm học 2013 - 2014 33
2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục THPT của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 34
2.2 Thực trạng hoạt động NCBH của tổ chuyên môn trường THPT Tử Đà 37
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về hoạt động NCBH đối với việc phát triển nghề nghiệp của giáo viên 37
2.2.2 Thực trạng đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 38
2.2.3 Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 39
2.2.4 Thực trạng các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà 40
2.2.5 Thực trạng việc thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà 41
2.2.6 Thực trạng cá nhân tự soạn bài - sáng tạo cá nhân 42
Trang 72.2.7 Thực trạng việc thực hiện giờ dạy minh họa trên lớp của giáo viên ở
trường THPT Tử Đà 43
2.2.8 Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà 45
2.2.9 Thực trạng việc áp dụng bài học cho thực tế dạy học hàng ngày của giáo viên ở trường THPT Tử Đà 46
2.2.10 Đánh giá hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 47
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 50
2.3.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên 50
2.3.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên ở trường THPT Tử Đà 51
2.3.3 Thực trạng bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn cho giáo viên ở trường THPT Tử Đà 52
2.3.4 Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 53
2.3.5 Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 54
2.3.6 Thực trạng xây dựng chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn và giáo viên ở trường THPT Tử Đà 55
2.4 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 56
2.4.1 Đánh giá thực trạng 56
2.4.2 Những thành công 57
2.4.3 Những hạn chế 58
2.5 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 58
Kết luận chương 2 63
Trang 8Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI
THPT TỬ ĐÀ HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 64
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn 64
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu và pháp lý 64
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 65
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 66
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 66
3.2.1 Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi trong phát triển nghề nghiệp khi tham gia hoạt động NCBH 66
3.2.2 Xây dựng kế hoạch, quy chế sinh hoạt chuyên môn trong hoạt động NCBH của nhà trường 68
3.2.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện đúng kỹ thuật sinh hoạt chuyên môn theo NCBH 72
3.2.4 Tăng cường kiểm tra tổ chuyên môn thực hiện hoạt động NCBH 81
3.2.5 Thành lập nhóm chuyên gia tư vấn về hoạt động NCBH cho tổ chuyên môn 83
3.2.6 Xây dựng môi trường thuận lợi, tạo động lực thúc đẩy đội ngũ TTCM và GV tích cực thực hiện hoạt động NCBH 84
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85
3.4 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 86
3.4.2 Các bước tiến hành khảo nghiệm 86
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 87
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Khuyến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH Ban giám hiệu BHMH Bài học minh họa CBCNV Cán bộ công nhân viên
QLGD Quản lý giáo dục SGK Sách giáo khoa SHCM Sinh hoạt chuyên môn THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông TTCM Tổ trưởng chuyên môn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thông tin cơ bản về các trường lựa chọn 8 Bảng 1.2 Bảng so sánh sự khác biệt giữa SHCM truyền thống và SHCM
theo NCBH 17 Bảng 2.1 Quy mô mạng lưới trường lớp của huyện Phù Ninh (năm học 2013 - 2014) 33 Bảng 2.2 Thống kê tình hình học sinh THPT huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
(năm học 2013 - 2014) 34
học 2013 - 2014) 35 Bảng 2.4 Số lượng, chất lượng giáo viên các trường THPT huyện Phù Ninh
(năm học 2013 - 2014) 36 Bảng 2.5 Thống kê tình hình học sinh trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh,
tỉnh Phú Thọ (từ 2010 - 2011 đến 2013 - 2014) 37 Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt
động NCBH đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên 37 Bảng 2.7 Thực trạng đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện hoạt động
NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 38 Bảng 2.8 Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên
môn ở trường THPT Tử Đà 39 Bảng 2.9 Thực trạng cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ
phân công ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà 40
chuyên môn của trường THPT Tử Đà 41
THPT Tử Đà 42 Bảng 2.12 Thực trạng việc thực hiện giờ dạy minh họa và tổ chuyên môn dự
giờ trên lớp của giáo viên ở trường THPT Tử Đà 43 Bảng 2.13 Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ
chuyên môn của trường THPT Tử Đà 45 Bảng 2.14 Thực trạng việc áp dụng bài học cho thực tế dạy học hàng ngày của
giáo viên ở trường THPT Tử Đà 46 Bảng 2.15 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai hoạt
động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 49
Trang 11Bảng 2.16 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản
lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên 50 Bảng 2.17 Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên
môn ở trường THPT Tử Đà 51 Bảng 2.18 Thực trạng bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên
môn cho giáo viên ở trường THPT Tử Đà 52 Bảng 2.19 Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH
trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 53 Bảng 2.20 Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH trong sinh
hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 54 Bảng 2.21 Thực trạng xây dựng chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ tổ
trưởng chuyên môn và giáo viên ở trường THPT Tử Đà 55 Bảng 2.22 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCBH trong sinh
hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà 59 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp đề xuất 87 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 89 Bảng 3.3 Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý được đề xuất 91
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 So sánh tần suất và kết quả thực hiện hoạt động NCBH trong
sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà, huyện Phù Ninh 47 Biểu đồ 2.2 So sánh mức độ nhận thức và mức độ thực hiện hoạt động
NCBH của tổ chuyên môn trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh 48
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, nền giáo dục Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ đổi mới để rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giáo dục so với các nước trong khu vực và trên thế giới Bước sang thế kỷ XIX, sự bùng nổ của tri thức, công nghệ sản xuất mới và công nghệ thông tin truyền thông làm thay đổi nội dung giáo dục, yêu cầu người học phải thay đổi cách học và người dạy phải thay đổi cách dạy Khái niệm giáo dục suốt đời trở thành đòi hỏi và cam kết của mỗi quốc gia Người học có thể học bất cứ đâu, bất cứ lúc nào và với bất cứ tài liệu nào; đồng thời được tạo điều kiện tốt nhất trong việc học, học theo khả năng, theo nhịp độ và cách học phù hợp; có quyền chọn chương trình và các loại nguồn học liệu đa dạng Một thế giới phẳng và các kênh thông tin đa chiều đã đặt ra yêu cầu mới về việc học: vấn đề không phải là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công nghệ gì vào việc học, không chỉ học được kiến thức mà còn khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức
Trong nhà trường THPT, mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động dạy học là một nhiệm vụ trọng tâm, có tính cấp bách của các nhà trường trong bối cảnh hiện nay Để góp phần hoàn thành nhiệm vụ này, nhà trường phổ thông bên cạnh việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá, tăng cường cơ sở vật chất thì vấn đề tạo điều kiện cho giáo viên tự học thông qua hoạt động của tổ chuyên môn là một hướng giải quyết khả thi và hiệu quả Tổ chuyên môn là nơi trực tiếp triển khai những yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp của đổi mới giáo dục phổ thông, với nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ cho giáo viên sẽ có một môi trường chuyên môn để hình thành năng lực
nghề nghiệp Việc triển khai nghiên cứu bài học (Lesson Study) trong sinh hoạt tổ
chuyên môn góp phần đắc lực hình thành năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu, cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng của học sinh Vì vậy, quản lý có hiệu quả hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn là một trong những công tác trọng tâm và thường xuyên của Hiệu trưởng để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trường, nâng cao chất lượng dạy học
Trang 14phục cơ bản lối truyền thụ một chiều, phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên, gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn liền với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống” [1]
Trong công văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học
2013 - 2014, số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 08 năm 2013, đã xác định rõ
các trường THPT phải: “Tập trung đổi mới sinh hoạt chuyên môn của tổ/nhóm
chuyên môn thông qua hoạt động nghiên cứu bài học” [8] Như vậy, quản lý hoạt
động giảng dạy nói chung và quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn nói riêng là nhiệm vụ cơ bản của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả giáo dục của nhà trường
Song trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, công tác quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT hiện nay còn bộc lộ những hạn chế bất cập, việc soạn bài của giáo viên dường như khoán trắng cho các tổ chuyên môn, trong khi đó hoạt động của các tổ chuyên môn có lúc, có nơi còn nặng nề về quản lý hành chính hơn là sinh hoạt chuyên môn và nhiều khi mang tính hình thức, đối phó mà chưa đi vào thực chất Sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn chưa được thường xuyên, thường chỉ mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các đợt thi giáo viên giỏi Đó là nguyên nhân khiến cho các giáo viên trong cùng chuyên môn chưa thực sự gắn kết được với nhau một cách chặt chẽ để tạo ra sự thống nhất trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời qua đó nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Thực tế trên đòi hỏi phải tăng cường các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn Vấn
đề này tuy đã được triển khai ở tỉnh Phú Thọ từ năm 2011, nhưng việc nghiên cứu công tác quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THPT còn chưa được đề cập đến
Xuất phát từ những lý do trên, Đề tài “Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học
trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường Trung học phổ thông Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” cần được đặt ra và nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường
Trang 153 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
4 Giả thuyết khoa học
Việc triển khai hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, do một số nguyên nhân như còn nặng về quản lý hành chính hơn là quản lý chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn nhiều khi mang tính hình thức, đối phó mà chưa đi vào thực chất, chưa thực hiện thường xuyên, thường chỉ mới tập trung vào các đợt hội giảng, thao giảng hay các đợt thi giáo viên giỏi Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn và thực hiện chúng một cách đồng bộ thì chất lượng dạy học ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ sẽ được nâng cao, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục và đào tạo của Huyện và của Tỉnh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong
sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng THPT
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu
bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và nguyên nhân của thực trạng
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ
chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các biện
pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn của Hiệu trưởng trường THPT Tử Đà
6.2 Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Sử dụng số liệu từ năm 2012 (từ khi bắt đầu
triển khai hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn) đến năm 2014
6.3 Giới hạn về khách thể điều tra
- 25 CBQL chuyên viên của Sở GD&ĐT
Trang 16- 11 CBQL các trường THPT trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- 4 tổ trưởng chuyên môn trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các lý thuyết, văn bản có liên quan đến đề tài như:
- Các tài liệu khoa học về hoạt động NCBH, QL, QLGD và quản lý trường THPT, quản lý tổ chuyên môn
- Các văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về GD&ĐT, các văn bản của ngành GD&ĐT liên quan tới quản lý hoạt động NCBH
- Nghiên cứu các công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học có liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra viết
Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với CBQL, GV trường THPT Tử Đà để thu thập
số liệu, đánh giá thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu các kế hoạch, hồ sơ chuyên môn của nhà trường, của tổ chuyên môn để nhận định, đánh giá thực trạng hoạt động nghiên cứu bài học ở tổ chuyên môn và quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn Phân tích được nguyên nhân thực trạng để đề ra được biện pháp phù hợp
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Nghiên cứu và tổng kết thực tiễn quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn mà các biện pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng và đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
Dùng phương pháp toán thống kê để xử lý số liệu điều tra
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần nâng cao biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nói riêng và các trường THPT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung
Trang 179 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh
hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ
chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ
chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU
BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong những nghiên cứu gần đây, đã có những tranh luận rằng việc học tập một cách chuyên nghiệp và hiệu quả sẽ tiếp tục duy trì trong một thời gian dài, đang thúc
đẩy việc học tập, thích hợp nhất đối với những hệ thống trường phổ thông Điều này
đòi hỏi sự kiểm tra của giáo viên diễn ra hàng ngày Để phát triển những hệ thống như thế, sẽ càng quan trọng hơn cho những người giảng dạy trong việc cùng nhau quan sát và phản ánh những bài dạy tại lớp học
Nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao từ thế kỷ XIX Theo truyền thống, có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kỹ năng sư phạm bởi xem xét lại phương pháp dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên
Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút những học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kỳ bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ bởi hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa
số học sinh Nhật Bản đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho các nhóm học Trong nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh
Nghiên cứu bài học tại Hoa Kỳ:
Xem xét những điểm số thấp của học sinh Hoa Kỳ trong những xu hướng nghiên cứu Toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học
Trang 19sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kỳ Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm
và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi được chú ý trong cách học cho những đứa trẻ Thêm vào đó,
họ cũng tìm ra được rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng hơn
Trong những hoàn cảnh đó, kết hợp với sự kêu gọi phát triển chuyên môn, thứ
mà lấy nền tảng từ trường học nhiều hơn trong thực tại hàng ngày, những học giả đã giới thiệu nghiên cứu bài học như một phương pháp phát triển chuyên môn; tại Nhật
đã phản đối những hoạt động phát triển chuyên môn ngắn hạn thông thường và khẳng định tầm quan trọng của một phương pháp được duy trì và luyện tập Nghiên cứu bài học được miêu tả như một quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) Thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) Xem xét lại kế hoạch đã đề ra (không bắt buộc); (4) Giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) Chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập
Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ; Vương quốc Anh và Úc NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn
có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình gồm các bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tuỳ chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tuỳ chọn) và (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học
Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hoá trường học
Nghiên cứu bài học đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam
Phần lớn các hoạt động giới thiệu NCBH ở các nước nói trên hướng tới những nhóm giáo viên, chỉ một vài môn học trong trường - đặc biệt là toán học Tuy nhiên, trong một số trường hợp như Indonesia và Việt Nam, toàn trường đã được tham gia ngay từ đầu của quá trình NCBH
Trang 20Dự án ban đầu được lên kế hoạch và thực hiện với mục tiêu thúc đẩy việc trẻ
em làm trung tâm giáo dục trong các trường học Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện dự án này từ tháng 10 năm
2004 và tháng 8 năm 2007, với 5 trường, trong nghiên cứu này đóng vai trò là các trường thí điểm Đội ngũ tư vấn tương tác với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang với tư cách là tổ chức đối tác Nhóm đối tác trong các Sở GD&ĐT được gọi là
“Nhóm làm việc”, bao gồm các lãnh đạo từ Sở GD&ĐT, các Phòng Giáo dục và Đào tạo của các huyện và các giáo viên giàu kinh nghiệm và Ban giám hiệu các trường
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT và JICA cùng nhau quyết định giới thiệu các hoạt động đổi mới trường học từ tháng 6 năm 2006 bao gồm một trường thí điểm trong mỗi huyện
Bảng 1.1 Thông tin cơ bản về các trường lựa chọn
Trường Huyện
Số học sinh
Số lớp
Số giáo viên
Tuy nhiên, trước khi kết thúc dự án, giáo viên bắt đầu tham gia tích cực hơn
Giáo viên dường như mất
sự quan tâm mạnh mẽ Các thảo luận tập trung nhiều hơn vào việc dạy và giáo viên
B Việt Yên 494 19 25
Có một số sự miễn cưỡng về SHCM trong giáo viên Tuy nhiên, sau một thời gian, họ bắt đầu cho thấy sự quan tâm mạnh mẽ hơn trong SHCM
Giáo viên điều chỉnh các buổi SHCM theo điều kiện của mình Họ hình thành các nhóm nhỏ để SHCM ở cấp trường và thực hiện 50 buổi SHCM mỗi năm Nhà trường thay đổi BGH 2 lần
Tuy nhiên trước khi kết thúc dự án, quản lý
và giáo viên thể hiện
là đã tăng hiểu biết về đổi mới SHCM
Giáo viên tiếp tục tham gia tích cực trong SHCM Họ tiếp tục thảo luận về cách thức học sinh học và làm thế nào đẩy mạnh hoạt động học Trường trải qua một sự thay đổi lãnh đạo
D Lục Nam 742 24 43
Giáo viên quan tâm đến nâng cao chất lượng thực hành của
họ Trong buổi góp ý
đã có cuộc thảo luận nhóm sôi nổi tại thời
Do sự khác biệt trong ý kiến về thực hành giữa giáo viên và chính quyền địa phương, đã có sự hiểu lầm giữa các giáo viên và quan tâm của họ dường như
Trang 21Trường Huyện học Số
sinh
Số lớp
Số giáo viên
E Hiệp Hoà 556 15 27
Lúc đầu, giáo viên đều rất quan tâm đến SHCM, Hiệu trưởng thể hiện sự lãnh đạo mạnh
mẽ Tuy nhiên Hiệu trưởng đã được thay thế bằng một người mới dường như ít để ý và quan tâm ít hơn trong các hoạt động cải cách
Giáo viên dường như mất đi
sự quan tâm của họ Các cuộc thảo luận tập trung vào hoạt động dạy và giáo viên
F Yên Dũng 222 10 15 Không tham gia
Hiệu trưởng đổi mới nhà trường thông qua SHCM Trường được xây dựng mới khi ông được bổ nhiệm Trường được xếp hạng cuối trong số 25 trường trong huyện Nhưng sau 2 năm, thứ hạng của trường đã tăng lên thứ 6 Giáo viên đều rất hợp tác với nhau
G Lục Nam 337 14 23 Không tham gia
Hiệu trưởng đổi mới trường thông qua SHCM Khi Hiệu trưởng thực hiện điều này, giáo viên không thực sự gắn bó với nhau Trường được xếp hạng dưới đáy trong 38 trường của huyện, nhưng sau 2 năm, thứ hạng của họ đã tăng lên đến thứ
7 Tuy nhiên mối quan hệ giữa giáo viên vẫn cần phải được cải thiện
H Bắc Giang 588 23 39 Không tham gia
Hiệu trưởng chuyển sang từ trường C Trường được xếp hạng ở gần cuối trong số 26 trường của Yên Dũng Nhờ niềm tin mạnh mẽ của cô vào SHCM, hiệu trưởng sử dụng SHCM để đổi mới Sau một năm, thứ hạng của trường tăng lên thứ 5
Trang 22Sở GD&ĐT giới thiệu các trường có thể tiến hành thí điểm, các thành viên trong nhóm tư vấn JICA đã đến thăm các trường này và cả hai cùng nhau thảo luận để quyết định chọn các trường thí điểm Kết quả lựa chọn đã được báo cáo với Bộ Giáo dục và Đào tạo Các tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ sẵn sàng của các trường để thực hiện đổi mới
và dễ dàng truy cập từ các trường Tất cả các trường thí điểm đều là các trường hàng đầu của huyện và là nơi thường xuyên diễn ra các đợt tập huấn giáo viên của huyện [15] Qua thông tin cơ bản về các trường được lựa chọn (bảng 1.1), cho ta thấy lúc đầu hầu hết giáo viên ở các trường được lựa chọn thí điểm đều từ chối một cách quyết liệt hoặc tham gia thì cũng tham gia một cách miễn cưỡng Đối với các nhà quản lý ở các trường nêu trên thì có 3/8 trường là không tham gia Tuy nhiên, sau khi kết thúc dự án thì giáo viên ở các trường nói trên kể cả GV ở những trường khi dự án được triển khai mà họ từ chối không tham gia thì nay họ đã chủ động và tham gia một cách tích cực mặc dù cán bộ quản lý (CBQL) không mấy quan tâm Điều đó nói lên ý nghĩa và tầm quan trọng của NCBH ở tổ chuyên môn là một sự lựa chọn đúng đắn, là cơ sở cho việc đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá (xem bảng 1.1)
Tháng 3 năm 2013, Vụ Giáo dục Trung học - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã mời các chuyên gia của tổ chức JICA Nhật Bản, các giảng viên của một số trường đại học, các chuyên viên của Vụ tham dự Hội nghị về đổi mới SHCM theo NCBH
Các trường tham gia SHCM theo NCBH bao gồm: Tiểu học Đồi Ngô - Lục Nam - Bắc Giang; THCS ở tỉnh Bắc Giang, THCS Trưng Vương - Hà Nội, THCS Quốc Oai - Hà Nội; Bậc THPT chỉ có 1 trường thí điểm
Tháng 8 năm 2012, BGD&ĐT tiến hành tập huấn cho CBQL về “Quản lý hoạt
động đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS trong trường THPT”,
trong đó có đề cập đến vấn đề đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn thông qua NCBH
Tháng 8 năm 2013, BGD&ĐT tiến hành tập huấn cho các CBQL và các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn của các Sở GD&ĐT về Hướng dẫn SHCM theo NCBH Việc triển khai NCBH đã được Bộ GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo trong nhiệm vụ năm học 2013 - 2014
Trang 23Một số các tác giả đã có những công trình NCBH như Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân,
2010, “Nghiên cứu bài học” - một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của giáo viên [24], Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP ĐH Thái Nguyên, 2012, Phương pháp Bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, SV sư phạm thông qua mô hình NCBH [14]
Hoạt động NCBH là hoạt động then chốt, chủ đạo trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở các tổ chuyên môn, là công việc thường ngày của đội ngũ CB, GV ở tất cả các cấp học Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho tất cả các em học sinh Qua hoạt động chuyên môn theo nghiên cứu bài học nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững, chính vì vậy công tác quản lý hoạt động NCBH của hiệu trưởng trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, nhà sư phạm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Như vậy, đến thời điểm này mới có các tổng kết về triển khai NCBH ở cả ba bậc học
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về “Quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ
chuyên môn”, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đang triển khai đề án đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục phổ thông
Vì vậy, đề tài này cần được triển khai góp phần đóng góp cho phần lí luận và thực tiễn quản lý giáo dục nhà trường THPT, đáp ứng mong muốn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên THPT, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học của các nhà trường
1.2 Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn
1.2.1 Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH
Hoạt động “Nghiên cứu bài học” (tiếng Anh là Leson Study hoặc Lesson Research) theo tiếng Nhật (jugyo kenkyu) có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến bài học cho đến khi nó hoàn hảo [4] Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 - 1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học ở từng bài học cụ thể Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH được dựa trên lý thuyết vùng “phát triển gần” của nhà tâm
lý học Nga V.X.VygotsKy, lý thuyết “Vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin, tháp học tập của các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ
Trang 241.2.1.1 NCBH dựa trên lý thuyết vùng phát triển gần
Việc học tập của HS và phát triển năng lực chuyên môn của GV trong NCBH dựa trên cơ sở lý thuyết vùng phát triển gần của nhà Tâm lý học người Nga Vygotsky Theo lý thuyết này nội dung dạy học chỉ có ý nghĩa khi nằm trong vùng phát triển gần của người học Do đó, nhiệm vụ của NCBH là xác định rõ vùng phát triển gần để lựa chọn mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học phù hợp
Theo Thuyết Vygotsky, kết quả dạy học sẽ tốt hơn nếu nội dung dạy học không quá khó, cũng không quá dễ Nội dung dạy học cần thiết thực, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống, làm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn người học
1.2.1.2 NCBH dựa trên lý thuyết “Vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin
Con người học qua tương tác giữa các vòng tròn đối ngoại Theo lý thuyết của Mikhail Bakhtin, việc học hỏi của con người mang ý nghĩa xã hội sâu sắc Người ta sống, giao tiếp và học hỏi thông qua hệ thống tương tác đan xen, tương hỗ Theo ý nghĩa đó, quá trình dạy học nói chung và việc học nói riêng không chỉ là sự tương tác theo chiều dọc giữa giáo viên với học sinh mà còn có sự tương tác theo chiều ngang, giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với tài liệu
Trang 251.2.1.3 Tháp học tập
Các nhà nghiên cứu giáo dục của Mỹ đã đưa ra số liệu nghiên cứu như sơ đồ sau về hiệu quả của việc học Theo đó, nếu chỉ dạy theo kiểu thuyết giảng, chỉ có trung bình 5% những điều đã thuyết giảng được ghi nhớ Hiệu quả tối đa của cách dạy học thụ động là 30% Nhưng nếu dạy học có sự tham gia tích cực của người học, như thảo luận nhóm hiệu quả đến 50% Dạy học có thực hành hiệu quả đạt đến 75% Nếu học sinh dạy cho bạn khác học, chẳng hạn như các kỹ thuật chia sẻ, kỹ thuật mảnh ghép hiệu quả đối với dạy học lên đến 90%
Ghi chú: Lecture (Giảng giải); Reading (Đọc); Audio - Visual (Nghe - Nhìn); Demonstration (Thuyết minh); Group Discussion (Thảo luận nhóm); Practice (Thực hành); Teaching Others (Dạy bạn khác)
Trang 261.2.2 Tổ chuyên môn
1.2.2.1 Vị trí của tổ chuyên môn
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28 tháng
3 năm 2011 của Bộ GD&ĐT
Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành trong bộ máy tổ chức, quản lý của trường THCS, THPT Trong trường các tổ, nhóm chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận nghiệp vụ khác và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện chiến lược phát triển của nhà trường, chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục và các hoạt động khác hướng tới mục tiêu giáo dục
1.2.2.2 Chức năng của tổ chuyên môn
Tổ chuyên môn là đầu mối để Hiệu trưởng quản lý nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường
Tổ chuyên môn có chức năng:
Giúp Hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến dạy
và học
Trực tiếp quản lý giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định
Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá, xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý
Do đó, tổ trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực; trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín đối với đồng nghiệp Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong
tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp, ứng xử
1.2.2.3 Nhiệm vụ của tổ chuyên môn
Nhiệm vụ của tổ chuyên môn quy định theo Điều lệ trường THCS, trường THPT ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
Trang 27Điều 16: Tổ chuyên môn
Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, giáo viên, viên chức thư viện, viên chức thiết bị thí nghiệm của trường trung học được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học hoặc nhóm môn học ở từng cấp học THCS, THPT Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2
tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm
vụ vào đầu năm học
Tổ chuyên môn có nhiệm vụ sau:
Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của
Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của nhà trường
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Bộ GD&ĐT
Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó
Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên
Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu
Mọi CBQL và GV trong nhà trường đều phải cùng tham gia, sự tham gia của tất cả mọi người trong nhà trường là đặc biệt cần thiết, nó sẽ biến nhà trường thành một “cộng đồng học tập” Quán triệt ý nghĩa, tầm quan trọng và thực hiện đúng kỹ thuật sinh hoạt chuyên môn mới cho tất cả các giáo viên trong trường hiểu rõ, tin tưởng là vô cùng cần thiết Nếu hiểu và làm đúng, buổi SHCM có thể kéo dài 4 - 5 giờ nhưng mọi người tham gia vẫn thấy hào hứng, CBQL trường học là GV cốt cán cần được tập huấn và quán triệt tầm nhìn, triết lý của SHCM Việc hướng dẫn kỹ thuật tổ chức thực hiện SHCM rất quan trọng, nếu không làm đúng chúng ta sẽ quay trở lại cách SHCM truyền thống, không đảm bảo hiệu quả Để đảm bảo đúng kỹ thuật tổ chức thực hiện, các trường gần nhau có thể liên kết tổ chức SHCM theo cụm và có hướng dẫn làm thí điểm về SHCM nhằm xây dựng mô hình và rút kinh nghiệm
Để thực hiện kế hoạch hành động SHCM nên tổ chức mỗi tuần ít nhất một buổi SHCM Tổng thời gian dự giờ mỗi buổi SHCM có ít nhất từ 3 - 4 giờ, trong đó bao gồm cả thời gian dự giờ một bài học minh hoạ (BHMH) và thời gian suy ngẫm, thảo luận
Cố gắng huy động tất cả CBQL và GV cùng dự Giai đoạn đầu khi mới tổ chức SHCM nên bố trí chung toàn trường để tập cách làm và xây dựng thói quen mới Giai đoạn
Trang 28sau khi thành thạo, có thể tách việc tổ chức SHCM theo nhóm tổ nếu trường đông GV để tăng cơ hội phát biểu ý kiến cho người dự
1.2.3 Sinh hoạt tổ chuyên môn theo NCBH
1.2.3.1 Một số khái niệm
Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định kỳ nhằm
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học Công tác sinh hoạt chuyên môn (SHCM) được tổ chức thực hiện và duy trì ở các trường phổ thông không chỉ giúp mỗi giáo viên (GV) nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn gắn kết tình đồng nghiệp, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác; hình thành môi trường sư phạm tốt đẹp, cũng như truyền thống, bản sắc văn hoá riêng của mỗi trường SHCM hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức:
tổ chức theo các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học Ở hình thức thứ nhất, SHCM bao gồm việc triển khai học tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên, tập huấn phương pháp dạy học và thường do ban giám hiệu (BGH) triển khai SHCM còn trao đổi, thảo luận, học tập các nội dung cụ thể gắn với nhiệm vụ năm học và đặc điểm tình hình cũng như điều kiện thực tế của mỗi nhà trường như: nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, kinh nghiệm dạy học một dạng bài, kiểu bài nào đó, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh (HS) giỏi, phụ đạo HS yếu kém Những nội dung này thường được giao cho các GV nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt xây dựng thành các báo cáo chuyên đề hay sáng kiến kinh nghiệm Hình thức thứ hai của SHCM là dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học, được các nhà trường tổ chức thường xuyên hơn Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm và đánh giá xếp loại tay nghề GV dạy
Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng
ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì cho trong học tập? Nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú, kết quả học tập có được cải thiện không? Cần điều chỉnh điều gì và điều chỉnh như thế nào?
Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp
loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viên tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh học chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập; giúp giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình, trường mình
Trang 291.2.3.2 Sự khác nhau giữa SHCM truyền thống và SHCM theo NCBH
Bảng 1.2 Bảng so sánh sự khác biệt giữa SHCM truyền thống và SHCM theo NCBH
SHCM truyền thống SHCM theo NCBH
Mục đích
- Đánh giá, xếp loại giờ dạy
- Tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên
- Thống nhất cách dạy để các giáo viên cùng thực hiện
- Tìm giải pháp để nâng cao kết quả học tập của học sinh
- Tập trung vào hoạt động học của học sinh
- Mỗi giáo viên tự rút ra bài học để
áp dụng
Thiết kế
bài dạy
- Một giáo viên thiết kế và dạy minh họa
- Thực hiện theo đúng nội dung, quy trình, các bước thiết kế theo quy định
- Một nhóm GV thiết kế Một GV dạy minh hoạ
- Dựa vào trình độ của HS để lựa chọn nội dung, phương pháp, quy trình dạy học cho phù hợp
Dạy minh
hoạ - Dự giờ
Người dạy minh hoạ:
- Dạy theo nội dung kiến thức có trong sách giáo khoa
- Thực hiện theo đúng nội dung, quy trình, các bước thiết kế theo quy định
Người dự:
- Ngồi cuối lớp học, quan sát cử chỉ việc làm của giáo viên, ghi chép, quan sát cử chỉ, việc làm của giáo viên
- Tập trung xem xét giáo viên dạy có đúng các quy định không
- Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá xếp loại giờ học
Người dạy minh hoạ:
- Điều chỉnh các nội dung dạy học phù hợp
- Thực hiện tiến trình giờ học linh hoạt, sáng tạo dựa trên khả năng của học sinh
Người dự:
- Đứng hai bên, phía trước lớp học quan sát, vẽ sơ đồ chỗ ngồi của học sinh
- Tập trung quan sát học sinh thế nào?
- Suy nghĩ, phát hiện khó khăn trong học tập của học sinh đưa ra các biện pháp khắc phục
- Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân và giải pháp Mỗi
GV tự rút ra bài học
1.2.3.3 Nguyên tắc SHCM theo NCBH
Các nguyên tắc sinh hoạt chuyên môn theo NCBH:
Nguyên tắc 1: Từ bỏ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt kiểu thuyết trình truyền thống
Trang 30Trong những giờ học như vậy, GV thiên về giải thích các kiến thức, còn HS học một cách thụ động Cách dạy như vậy trước mắt có thể không ảnh hưởng đến kết quả thi cử, tuy nhiên về lâu dài tạo nên nhiều thói quen có hại cho cuộc sống của học sinh như không có tư duy độc lập mà theo tâm lý đám đông Để giải quyết tình trạng này,
GV cần biết chấp nhận mọi học sinh, không được bỏ rời các em học yếu, kém Chuyển đổi phương pháp truyền thụ một chiều thành phương pháp dạy học có sự tham gia tích cực của người học Những yếu tố sau cần được đưa vào bài học hàng ngày:
- Các hoạt động tìm tòi, khám phá dựa trên các đồ dùng dạy học trực quan
- Các hoạt động của nhóm nhỏ chỉ gồm 3 đến 4 học sinh
- Đối thoại chia sẻ ý kiến giữa GV với HS, giữa HS với HS
Bằng việc học qua giao tiếp, học sinh không những chiếm lĩnh được kiến thức khoa học mà còn xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác và phát triển kỹ năng sống Nguyên tắc 2: Sử dụng thiết bị dạy học thực tế Bài học là của HS, bài học cần được gắn liền với thực tiễn cuộc sống của các em Chống lại các giờ học lý thuyết suông, thiếu thực tiễn, thực hành
Nguyên tắc 3: Hoạt động nhóm nhỏ hiệu quả, chống lại các hiện tượng ỷ lại, hiện tượng tách nhóm (bị bỏ rơi từ nhóm trung bình xuống nhóm yếu, kém)
Trong thực tiễn dạy học hiện nay có những trường hợp tổ chức nhóm thảo luận không hiệu quả Giáo viên chỉ đối thoại với nhóm trưởng và thư ký, các thành viên khác của nhóm bị bỏ rơi, lâu dần sẽ bị rỗng kiến thức và lọt xuống nhóm HS yếu, kém Do đó cần sử dụng các kỹ thuật hoạt động nhóm tích cực như khăn phủ bàn, các mảnh ghép, công não,
Nguyên tắc 4: Giao nhiệm vụ học tập vừa sức, không quá dễ, nhưng không quá khó Giao nhiệm vụ quá đơn giản, dễ dàng cho HS dẫn đến các em ở nhóm khá, giỏi không phát triển được năng lực ở mức cao hơn Do vậy trong thực tiễn dạy học cần
Trang 31giao nhiệm vụ cao hơn, có tính thách thức hơn cho các HS nhóm khá giỏi Mặt khác, cũng có những nhiệm vụ riêng có tính phân hoá đối với các HS ở nhóm yếu, kém Những nhiệm vụ học tập này không quá khó, nằm trong khả năng vươn tới của HS yếu, kém Những HS ở mức trung bình cũng cần những nhiệm vụ học tập riêng, đòi hỏi phải nỗ lực để chiến lĩnh Nếu không thực hiện đầy đủ nguyên tắc này thì dẫn đến hiệu quả bài học không cao
Nguyên tắc 5: Chia sẻ ý kiến, ý tưởng để xây dựng mối quan hệ GV - HS, HS - HS
1.2.3.4 Các quan niệm sai lầm về NCBH
- Nghiên cứu bài học là lập kế hoạch cho một bài học
- Nghiên cứu bài học là một kịch bản cứng nhắc
- Nghiên cứu bài học là để đưa ra những giáo án tốt
- NCBH được thực hiện riêng lẻ, đơn độc bởi từng giáo viên
1.3 Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT
Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH được tổ chức, tiến hành theo các bước như sau: Bước 1: Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH
Bước 2: Các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công Bước 3: Tổ chuyên môn thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy
Bước 4: Cá nhân tự soạn - Sáng tạo cá nhân
Bước 5: Tổ chuyên môn dự giờ tiết dạy minh hoạ
Bước 6: Tổ chuyên môn thảo luận về giờ dạy minh hoạ
Bước 7: Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày
1.4 Quản lý nhà trường THPT; chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT
1.4.1 Quản lý nhà trường
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính chất nhà nước - xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia và quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trường học
là tế bào cơ sở của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Vì vậy, trường học nói chung vừa là khách thể cơ bản của tất cả các cấp Quản lý, lại vừa
là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Với đặc điểm đó, việc Quản lý trường học vừa mang tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội Nhà nước và xã hội cùng phối
Trang 32hợp chăm lo xây dựng và Quản lý nhà trường Ưu tiên đặc biệt cho giáo dục; Quản lý nhà nước các cấp phải nắm mục đích tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [18, 256] Việc quản lý nhà trương phổ thông (có thể mở rộng ra là sự quản lý nói chung) là việc quản lý dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu giáo dục [18, 71]
Theo các tác giả Hà Thế Truyền và Hoàng Minh Thao thì quản lý nhà trường bao gồm hai loại: Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường; tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường [28, 16]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động
tự có hướng vào đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [23, 42]
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [22, 10]
Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở
Trang 33Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh
Theo Trần Kiểm: Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội
Quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên
và học sinh) Do đó, có thể hiểu, quản lý trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn nhân lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn Xét về bản chất, quản lý con người trong nhà trường và tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người
1.4.2 Quản lý nhà trường THPT
Trường THPT thuộc cấp học cuối cùng trong bậc phổ thông Nó là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong cộng đồng vì thế ta mới nói trường THPT là một tổ chức sư phạm - xã hội
Với tư cách là một tổ chức xã hội, trường THPT tham gia hoạt động trong một
hệ thống nhất ở cấp huyện, tham gia thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương Trường THPT là đơn vị văn hoá đại diện trong cộng đồng, trường học như một trung tâm tái sản xuất văn hoá liên tục ở nơi nó hoạt động
Với tư cách là một tổ chức sư phạm, quản lý trường THPT phân biệt hẳn với mọi loại hình quản lý xã hội khác Đó là bản chất sư phạm của quá trình giáo dục, trong đó giáo viên, học sinh vừa là khách thể quản lý nhưng lại đồng thời là chủ thể
tự quản lý, bởi họ là những con người đang tham gia một hoạt động rất đặc thù là lấy nhân cách đào tạo nhân cách Sản phẩm của hoạt động là nhân cách được tạo ra bao hàm cả tự đào tạo Chính vì vậy, các mối quan hệ quản lý trong trường học mang bản chất dân chủ sâu sắc Trường THPT được coi như một hệ tự quản lý tiêu biểu, tính
Trang 34đặc thù của hoạt động quản lý trường THPT thể hiện tập trung ở hoạt động dạy và hoạt động học
Luật giáo dục năm 2005, Điều 28 có ghi: “Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông Ngoài những nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh Giáo dục THPT nhằm góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế nhiều thành phần, có khả năng làm việc hợp tác theo nhóm ” [5]
Theo tác giả Trần Kiểm, tính đặc thù quản lý trường THPT phụ thuộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là:
- Lao động của giáo viên được chuyên môn hoá cao
- Đối tượng chủ yếu của lao động sư phạm là học sinh, phần lớn từ 15 - 17 tuổi
- Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần - là nhân cách người thầy
- Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn toàn tách bạch
- Mặt kinh tế là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực hiện mục tiêu đào tạo
Chính vì lao động của giáo viên được chuyên môn hoá cao cho nên quản lý chuyên môn trong trường THPT phải tổ chức theo các tổ chuyên môn, quản lý tổ chuyên môn là hoạt động quản lý đặc thù trong trường THPT
Tóm lại, quản lý trường học nói chung và quản lý trường THPT nói riêng là tổ chức chỉ đạo, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho dạy học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo Xét về bản chất, quản lý nhà trường là các cấp quản lý cần tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh, tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng yêu cầu của việc giáo dục, đào tạo con người
1.4.3 Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn
1.4.3.1 Chức năng quản lý của hiệu trưởng trường THPT
Chức năng quản lý là hình thức tồn tại của các tác động quản lý Chức năng quản lý là một hoạt động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách
Trang 35thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định Có nhiều cách phân loại chức năng quản lý của hiệu trưởng trường THPT, tuy nhiên hầu hết thường tập trung vào 4 chức năng quản lý chính sau:
Chức năng kế hoạch hoá
Đây là chức năng quan trọng, là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả nhà trường Kế hoạch hoá được hiểu là một bản ghi nhận những mục tiêu cơ bản, một chương trình hành động cụ thể được hoạch định trước với nội dung công việc, thời gian, cách thức tiến hành Công tác lập kế hoạch bao gồm:
+ Thu thập thông tin đầy đủ, cập nhật chính xác để làm căn cứ hoạch định kế hoạch + Xác định mục tiêu tính toán nguồn lực, dự báo kế hoạch
+ Xây dựng kế hoạch với các bước, các phương án hành động cụ thể
Chức năng tổ chức gồm năm bước sau:
+ Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu
+ Phân chia toàn bộ công việc thành các nhóm nhiệm vụ để các thành viên hay
bộ phận thực hiện Gọi là bước phân công lao động
+ Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả
+ Thiết lập một cơ chế phối hợp, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt mục tiêu một cách dễ dàng
+ Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần
Chức năng chỉ đạo (điều khiển)
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người hiệu trưởng Sau khi hoạch định
và sắp xếp tổ chức, người hiệu trưởng phải chỉ đạo cho quá trình hoạt động nhằm đạt mục tiêu đề ra Chức năng chỉ đạo là phương thức tác động của người hiệu trưởng đến cán bộ giáo viên, học sinh trong trường nhằm đưa nhà trường vận hành theo kế hoạch Hiệu trưởng phải là người có kỹ năng đưa ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định Trong quá trình chỉ đạo đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo, không quá rập khuôn, cứng nhắc theo kế hoạch, có thể thay đổi kế hoạch kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tiễn Điều này đòi hỏi người hiệu trưởng phải có tính chủ động, sáng tạo hay tóm lại phải có năng lực quản lý tốt
Chức năng kiểm tra
Đây là một chức năng quan trọng, xuyên suốt quá trình quản lý Kiểm tra nhằm đánh giá trạng thái của hệ thống, đối chiếu với mục tiêu dự kiến, kiểm tra nhằm phát
Trang 36hiện kịp thời các sai sót trong quá trình vận hành để có biện pháp điều chỉnh kịp thời Kiểm tra giữ vai trò là kênh thông tin ngược về hiệu quả các quyết định quản lý Các chức năng trên có quan hệ mật thiết, lập thành chu trình quản lý Trong quá trình vận hành, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin là căn cứ để hoạch định kế hoạch, thông tin là chất liệu tạo mối quan hệ giữa các bộ phận trong nhà trường, thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn biến hoạt động của nhà trường; thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp hiệu trưởng xem xét mức độ đạt mục tiêu của nhà trường
1.4.3.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT
Điều 19, Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định rõ Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học cụ thể như sau:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường
- Thực hiện các quyết định của Hội đồng trường được quy định tại Khoản 3 Điều 20 của Điều lệ này
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học, báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước hội đồng trường
và các cấp có thẩm quyền
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó, đề xuất các thành viên của Hội đồng trường trình cấp có thẩm quyền quyết định
- Quản lý giáo viên, nhân viên, quản lý chuyên môn, phân công công tác kiểm tra đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên Thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên Thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên, ký hợp đồng lao động, tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức, xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh, tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường, thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường
Trang 37- Chỉ đạo thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động của ngành, thực hiện công khai đối với nhà trường
Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật [6]
1.4.3.3 Mối quan hệ giữa Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn trong quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn
Các chủ thể trong nhà trường bao gồm CBQL, GV và HS Mọi hoạt động trong nhà trường, trong đó có hoạt động NCBH là hoạt động của các chủ thể trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau Chính vì thế, nội dung quản lý hoạt động NCBH cũng không nằm ngoài việc quản lý hoạt động của các chủ thể trong mối quan hệ qua lại
đó Để thực hiện thành công mục tiêu đổi mới nội dung SHCM theo NCBH, Hiệu trưởng trường THPT cần tập trung xây dựng văn hoá nhà trường thân thiện thông qua việc xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa các chủ thể, cũng là các thành viên trong nhà trường Mối quan hệ giữa CBQL và GV là mối quan hệ hai chiều, trong đó CBQL trong nhà trường luôn lắng nghe thấu hiểu và hỗ trợ kịp thời khi giáo viên gặp phải khó khăn Đối với hoạt động NCBH thì mối quan hệ này được hình thành trong SHCM, nơi CBQL và GV làm việc cùng nhau, có điều kiện để hiểu biết sâu sắc về đồng nghiệp, thông cảm, chấp nhận và hỗ trợ giúp nhau trong công việc
Mối quan hệ giữa GV với GV là sự tôn trọng, tin tưởng, lắng nghe, sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp và luôn sẵn sàng học hỏi lẫn nhau Đây là một việc làm không
dễ, vì trong mỗi tập thể cán bộ, GV thường có những người bảo thủ không dễ chấp nhận ý kiến người khác và như vậy họ sẽ không học được điều gì từ mọi người Những biểu hiện này sẽ được bộc lộ trong SHCM và hiệu trưởng cần phải có một chiến lược hợp lý để dần dần tạo được bầu không khí tôn trọng, tin tưởng, mở rộng tấm lòng học hỏi đồng nghiệp trong cộng đồng giáo viên của nhà trường
Mối quan hệ giữa GV với học sinh là sự tôn trọng nhân cách người học, có sự hiểu biết sâu sắc về học sinh khi các em gặp khó khăn Khi dự giờ đồng nghiệp trong SHCM, GV có thể nhận ra mối quan hệ này như thế nào qua những hành vi ứng xử của GV với HS Nếu có những hành vi ứng xử không hợp lý, khi chia sẻ, GV cần phân tích những tình huống cụ thể để nhận thấy điều này, từ đó GV sẽ thay đổi hành
vi ứng xử cho phù hợp Hiệu trưởng cần có biện pháp thuyết phục để GV hiểu tất cả học sinh đều được quý trọng, học sinh có quyền được mắc lỗi và các em cần được quan tâm hỗ trợ giúp đỡ khi gặp khó khăn trong học tập Ngoài việc giúp đỡ GV thay đổi những thói quen ứng xử chưa phù hợp trong SHCM, hiệu trưởng còn giúp GV học tập được những cử chỉ đẹp của GV dạy minh hoạ đối với học sinh trong giờ học
Trang 38Từ cơ sở lí luận trên, đề tài xác định, quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt
tổ chuyên môn của hiệu trưởng là quá trình tác động của hiệu trưởng đến Tổ chuyên môn và GV, giúp GV hợp tác với nhau nhằm tìm ra các giải pháp cải tiến quá trình dạy học để tạo điều kiện tốt nhất phát triển năng lực học tập của học sinh
1.5 Nội dung quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT
1.5.1 Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động NCBH của nhà trường
Xây dựng kế hoạch là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình quản lí hoạt động NCBH Hoạt động này nhằm xác định hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để đạt được trạng thái mong muốn của hoạt động NCBH khi kết thúc một giai đoạn phát triển Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn lộ trình của hoạt động NCBH của nhà trường và các tổ chuyên môn, từng
GV phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của hoạt động NCBH
Quy trình xây dựng kế hoạch gồm:
(1) Phân tích thực trạng hoạt động NCBH và quản lý hoạt động NCBH
(2) Xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt của hoạt động NCBH và đánh giá tính khả thi của chỉ tiêu, mục tiêu đó
(3) Xác định các hoạt động NCBH của nhà trường tương ứng với các mục tiêu (4) Xác định các nguồn lực thực hiện hoạt động NCBH của nhà trường
(5) Xác định các biện pháp chỉ số theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động NCBH của nhà trường
(6) Trình bày kế hoạch NCBH của nhà trường trước Hội đồng sư phạm
1.5.2 Bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn cho giáo viên
Việc xây dựng nhà trường, mỗi tổ/nhóm chuyên môn theo NCBH sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), kiểm tra đánh giá (KTĐG) Khi tham gia NCBH, mỗi giáo viên được sống và làm việc trong môi trường an toàn, có thể tích cực hoạt động cho sự phát triển của bản thân, của tổ, nhóm chuyên môn Đó là quá trình trao đổi thông tin, qua đó GV chia sẻ kiến thức chuyên môn, đổi mới PPDH, KTĐG của mình với đồng nghiệp, trao đổi ý kiến, hỗ trợ và trợ giúp nhau để hoàn thiện các kĩ năng hiện có, bổ sung những kĩ năng mới và giải quyết các vấn đề liên quan tới lớp học Tổ chuyên môn phải được duy trì họp ít
Trang 39nhất 2 lần/tháng theo quy định của Điều lệ nhà trường phổ thông Ngoài việc triển khai các công văn, chỉ thị của cấp trên, phục vụ dạy học, quản lý học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nói chung, phần lớn thời gian còn lại là hoạt động SHCM dựa trên NCBH Cụ thể như sau:
(1) Thay đổi nhận thức của GV về SHCM
SHCM theo NCBH là một quá trình các GV tham gia vào các khâu từ chuẩn bị, thiết kế bài học sáng tạo, dạy thử nghiệm, dự giờ, suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến sâu sắc về những gì đã diễn ra trong việc học của HS Đây là hoạt động học tập lẫn nhau, học tập trong thực tế, là nơi thử nghiệm và trải nghiệm những cái mới, là nơi kết nối
lý thuyết với thực hành, giữa ý định và thực tế Trong quá trình học tập đó, GV sẽ học được nhiều điều để phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ mới
Để đảm bảo SHCM hiệu quả, trước hết hiệu trưởng trường THPT cần coi SHCM là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất để đổi mới nhà trường, nâng cao chất lượng việc học của HS Từ đó giúp GV hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của SHCM
và cùng nhau nhất trí quyết tâm thực hiện SHCM mới Hiểu rõ SHCM theo hướng tiếp cận mới là trụ cột, là chính sách quan trọng nhất để đổi mới nhà trường, CBQL
và GV phải có quyết tâm cao trong việc đổi mới nhà trường thông qua kiên trì thực hiện SHCM mới Cần tránh để GV có suy nghĩ coi đó chỉ là việc SHCM thông thường mà họ đã và đang thực hiện từ trước đến nay và không học tập được nhiều Cần tạo cho họ có động lực tham gia SHCM theo hướng tiếp cận mới để học tập lẫn nhau, nâng cao năng lực chuyên môn Cần cho GV thấy được SHCM theo hướng tiếp cận mới có mục đích chính là nâng cao chất lượng các bài học của học sinh
(2) Mời chuyên gia bồi dưỡng kiến thức phát triển kỹ năng NCBH cho GV (3) Tổ chức làm mẫu (một tổ CM và một GV cốt cán của tổ) của một bài học
Đặc biệt, khi NCBH sẽ từ bỏ thói quen quan sát việc dạy của GV, người dự và người dạy sẽ thấy tất cả cùng nhau hướng về một điểm chung là việc học của HS Họ
Trang 40không còn để ý đến những khoảng cách về năng lực giữa các GV, thoải mái hơn khi trao đổi và chia sẻ ý kiến Từ đó họ dễ dàng chấp nhận lẫn nhau và họ sẽ chỉ quan tâm đến những khó khăn của người GV trước sự thay đổi phức tạp trong học tập của HS Tóm lại, giáo viên dự giờ chỉ quan sát, suy ngẫm về việc học và các vấn đề liên quan đến việc học của HS Người dự giờ phải quan sát tỉ mỉ, tinh tế, nhạy cảm việc học của từng HS để suy ngẫm và chuẩn bị chia sẻ ý kiến phong phú, sâu sắc Những dấu hiệu từ HS thể hiện rõ ở khuôn mặt, lời nói, điệu bộ, sản phẩm học tập… Không nên chỉ quan sát việc dạy của GV, cần chú ý quan sát mối quan hệ phản ứng của HS trước nội dung bài học và hành động của GV Không coi trọng việc ghi chép tiến trình bài dạy GV dự giờ thoải mái ghi chép trong sổ dự giờ Khi kiểm tra, nhà trường nên đánh giá sổ dự giờ của GV theo hướng này
1.5.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH
Tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở, nền tảng để tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn một cách cụ thể và hiệu quả Đồng thời đây cũng là nơi quản
lí trực tiếp việc bồi dưỡng cho giáo viên về nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ; Tổ chuyên môn cũng là nơi thực hiện các hoạt động chia sẻ đồng nghiệp về chuyên môn, nghiệp vụ từ đó phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn của từng giáo viên trong việc thực hiện các mục tiêu đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn
Hiệu trưởng nhà trường cần xác định tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở trực tiếp
tổ chức quản lý hoạt động NCBH của giáo viên Vì vậy chỉ đạo hoạt động NCBH của hiệu trưởng cần luôn luôn gắn chặt chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn Hiệu trưởng cần quan tâm các vấn đề sau đây khi chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn:
(1) Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH
NCBH trong trường THPT là một quá trình thường xuyên, lâu dài Vì vậy hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể cho tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch mang tính
ổn định Kế hoạch NCBH của tổ phải rất cụ thể, chi tiết, có ưu tiên các vấn đề quan trọng trong mỗi năm học; phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng giáo viên, thời gian thực hiện và dự kiến kết quả đạt được trong từng giai đoạn Hiệu trưởng cần quan tâm kiểm tra các khâu từ xây dựng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện
kế hoạch và tự kiểm tra đánh giá, để kịp thời chỉ đạo cho tổ điều chỉnh và bổ sung những điều kiện cần thiết cho hoạt động NCBH thực hiện được thuận lợi hơn