Nguyên nhân của thực trạng quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh .... Khảo sát về mức độ, hiệu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN BÚT
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH
VÀ XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN BÚT
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH
VÀ XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Văn Bút
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài "Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường Trung học
cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang", đến nay tôi đã hoàn thành và được
phép bảo vệ luận văn Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên
đã giúp đỡ tận tình cho tôi trong quá trình học tập Tôi xin chân thành cảm ơn các
bộ phận quản lý, lãnh đạo trường Đại học Sư phạm, đặc biệt là khoa sau đại học,
đã chỉ dẫn, quản lý chặt chẽ về thủ tục, thời gian và những điều kiện cần thiết cho việc hoàn thành luận văn thạc sĩ
Với lòng biết ơn chân thành tôi bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trường ĐH Nội Vụ Hà Nội - Người đã giúp
đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi làm luận văn này Mặc dù bản thân tôi
đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song chắc chắn trong luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự chỉ dẫn của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015
Tác giả
Trần Văn Bút
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài 7
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Một số khái niệm và lý luận có liên quan 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý nhà trường 14
1.2.3 Khái niệm các lực lượng giáo dục 17
1.2.4 Phối hợp các lực lượng giáo dục 18
1.3 Hiệu trưởng trường THCS trong tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường 23
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường THCS 23
Trang 61.3.1.1 Lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục nhà trường 23
1.3.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch chương trình giáo dục nhà trường 24
1.3.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch chương trình giáo dục nhà trường 25
1.3.1.4 Kiểm tra kết quả thực hiện chương trình giáo dục nhà trường 25
1.3.2 Nội dung chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS 26
1.3.3 Vai trò của Hiệu trưởng trong việc quản lý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS 26
1.3.4 Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS 30
1.4 Bản chất của hoạt động trải nghiệm sáng tạo 31
1.5 Mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc phối hợp thực hiện chương trình giáo dục nhà trường 32
1.6 Yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS 34
1.6.1 Yếu tố chủ quan 34
1.6.2 Yếu tố khách quan 38
Kết luận chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 42
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giáo dục của huyện Sơn Dương 42
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
2.1.3 Về giáo dục: Quy mô phát triển trường lớp; đội ngũ cán bộ, giáo viên; Cơ sở vật chất trường học; Chất lượng giáo dục 42 2.2 Khái quát việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường của các
Trang 72.3 Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS ở huyện Sơn Dương,
Tuyên Quang hiện nay 48
2.3.1 Khái quát về khách thể nghiên cứu 48
2.3.2 Nhận thức của khách thể nghiên cứu về chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS 49
2.3.3 Đánh giá của khách thể nghiên cứu về mức độ đạt được mục tiêu của sự phối hợp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS 53
2.3.4 Nội dung và biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh ở các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 56
2.3.5 Thực trạng công tác quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng trong việc thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 64
2.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh 67
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS ở Sơn Dương, Tuyên Quang 77
Kết luận chương 2 79
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG THCS HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG 80
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 80
3.1.1 Đảm bảo tính thực tiễn 80
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 81
3.1.3 Phát huy được tiềm năng, tính tích cực tham gia của các lực lượng xã hội 82
3.2 Một số biện pháp cụ thể 82
Trang 83.2.1 Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong thực hiện
chương trình giáo dục nhà trường 82
3.2.2 Bồi dưỡng năng lực giáo viên thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS huyện Sơn Dương 87
3.2.3 Xây dựng cơ chế tổ chức phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để thực hiện chương trình giáo dục ở trường THCS huyện Sơn Dương 89
3.2.4 Huy động các nguồn lực xã hội để đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng cho việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường 94
3.2.5 Quản lí việc xây dựng nội dung chương trình nhà trường định hướng trải nghiệm sáng tạo 96
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 100
3.4 Khảo nghiệm nhận thức của khách thể nghiên cứu về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận 105
2 Khuyến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CBGV : Cán bộ giáo viên CBQL : Cán bộ quản lý CSVC : Cơ sở vật chất DTNT : Dân tộc nội trú
THCS : Trung học cơ sở TNST : Trải nghiệm sáng tạo UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô phát triển trường, lớp, học sinh THCS huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang 43 Bảng 2.2 Khung chương trình thực hiện ở trường THCS, huyện Sơn Dương 47 Bảng 2.3 Khách thể khảo sát 49 Bảng 2.4 Quan niệm về hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo của khách
thể nghiên cứu 50
Bảng 2.5 Nhận thức của khách thể khảo sát về mức độ cần thiết tổ chức hoạt
động giáo dục trải nghiệm sáng tạo đối với học sinh ở trường THCS 51 Bảng 2.6 Đánh giá mức độ đạt được mục tiêu của sự phối hợp giữa nhà trường
với gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo 53 Bảng 2.7 Ý kiến của khách thể khảo sát về mức độ thực hiện và đạt được về
nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 56 Bảng 2.8 Ý kiến của khách thể khảo sát về mức độ thực hiện và đạt được về
biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 60 Bảng 2.9 Khảo sát về mức độ, hiệu quả công tác quản lý chỉ đạo thực hiện
sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh của cán bộ quản lý các nhà trường 65
Bảng 2.10 Nguyên nhân ảnh hưởng đến tổ chức phối hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh 68
Bảng 2.11 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội 72 Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý phối hợp giữa nhà trường,
gia đình và xã hội trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh 77
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp 102
Bảng 3.2 Hệ số tương quan các biện pháp quản lý 103
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp 103
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp 101
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng khẳng
định “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Lý luận của
tâm lý học, giáo dục học cũng khẳng định trong quá trình phát triển nhân cách, con người luôn bị tác động của 4 yếu tố: Bẩm sinh di truyền; hoàn cảnh tự nhiên, đặc biệt là quan hệ xã hội; tác động của giáo dục và hoạt động của cá nhân Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục đòi hỏi các nhà quản lý giáo dục phải tuân theo các quy luật phát triển và phải có những giải pháp phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục Vì vậy giáo dục nhà trường cần phải phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện nhân cách Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII “Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu… Giáo dục
đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân… Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp Chính quyền và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục đào tạo” [1, tr.36]
Nghị quyết 29 Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; trong đó chỉ rõ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ
Trang 13năng lực của người học: “ Đổi mới nội dung, chương trình giáo dục nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mĩ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề, tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn ” [6, tr.3 VKHN8TWXI]
Vậy giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường và gia đình là cơ sở trực tiếp giáo dục các em Gia đình luôn
là môi trường sống, môi trường giáo dục lâu dài, thường xuyên và dựa trên cơ sở tình thương yêu Môi trường xã hội góp phần thực hiện mục đích, nội dung giáo dục, đồng thời tạo nên động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giáo dục hình thành phẩm chất, năng lực và các kỹ năng kỹ xảo của cá nhân Do đó nhà trường cần chủ động phối hợp các môi trường giáo dục này để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay Sự phối hợp giữa môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và
xã hội là một trong những nguyên lý giáo dục của nước ta
Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là một huyện miền núi Trong nhiều năm qua, nhận thức về giáo dục của một bộ phận nhân dân trong các xã chưa cao, cộng thêm điều kiện kinh tế còn khó khăn cho nên việc đầu tư và quan tâm đến việc học tập của con em đối với nhiều bậc phụ huynh còn hạn chế Trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ ở nhiều gia đình chưa được coi trọng, một số cha mẹ còn khoán trắng việc dạy dỗ con cái cho nhà trường Việc phối hợp giữa môi trường giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội ở các trường trung học cơ sở (THCS) để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường trong những năm vừa qua về cơ bản đã được thực hiện Nhận thức về vai trò phối hợp giữa các môi trường giáo dục trên tuy đã
có những chuyển biến tích cực nhưng sự thể hiện chỉ đạo, tổ chức trong thực hiện chương trình giáo dục ở các nhà trường còn hạn chế, chưa có biện pháp tổ chức và tính thống nhất nên hiệu quả trong việc thực hiện chương trình chưa cao Một số cán bộ quản lý (hiệu trưởng) chưa xây dựng được kế hoạch phối hợp để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường, cụ thể về biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương
Trang 14Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Phối hợp giữa
nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt động phối hợp
giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường Cụ thể:
- Lý luận về quản lý giáo dục,
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
- Những văn bản của Đảng, Nhà nước, địa phương về vấn đề phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
4.2 Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động tổ chức phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
4.3 Đề xuất các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 15Dương, tỉnh Tuyên Quang Khảo nghiệm nhận thức của khách thể nghiên cứu về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh ở các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
5.2 Về thời gian khảo sát
Số liệu điều tra từ tháng 09/2012 đến tháng 12/2014
5.3 Về khách thể và địa bàn khảo sát
- 20 Cán bộ quản lý, 100 giáo viên, 150 học sinh của 10 trường THCS
- 50 cán bộ Ủy ban nhân dân 10 xã và 2 cơ sở sản xuất thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- 50 Cha mẹ học sinh thuộc 10 xã
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với thực tiễn sản xuất của địa phương; phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục… thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh một cách toàn diện
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tổng hợp chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về
xã hội hoá giáo dục
- Phân tích những vấn đề lý luận, các công trình nghiên cứu liên quan đến phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường về tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của địa phương
- Hệ thống hoá, khái quát hoá các khái niệm, xác định bản chất của những vấn đề nghiên cứu
Trang 167.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp phỏng vấn
Thông qua các câu hỏi chuẩn bị trước, phỏng vấn trực tiếp khách thể nghiên cứu về vấn đề tổ chức thực hiện phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường như: tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực học sinh để có định hướng trong quá trình nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng hệ thống phiếu hỏi nhằm thu thập thông tin để phát hiện các vấn đề cần giải quyết của thực tiễn, xác định được nguyên nhân của thực trạng
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Sử dụng phương pháp này để đảm bảo nguyên lí kế thừa sự phát triển, nhìn
rõ, nhìn đúng hiện trạng để điều chỉnh kịp thời và đề xuất biện pháp mới
Đánh giá kết quả, kinh nghiệm đạt được và những hạn chế trong việc tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường Kinh nghiệm trong tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của địa phương ở các trường THCS
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia trong việc nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội về tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh THCS gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của địa phương Xin ý kiến chuyên gia về các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường trung học cơ sở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang mà luận văn đề xuất
7.3 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để nghiên cứu, tính toán các thông số liên quan trong quá trình điều tra, thu thập, xử lí dữ liệu, kết quả nghiên cứu từ năm 2012 đến 2014
Trang 178 Cấu trúc luận văn
- Chương 1 Cơ sở lý luận của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS
- Chương 2 Thực trạng quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Chương 3 Biện pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã
hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở các trường THCS huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Trang 18Hồ đã nói: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài
Ở nước Anh và nhiều nước phát triển, giáo dục không chỉ phó thác cho mình nhà trường Rất nhiều tổ chức, cá nhân, xã hội đều chung tay góp sức và cùng chia sẻ sứ mệnh nặng nề mà vinh quang ấy Một trong những trung tâm giáo
dục trải nghiệm được rất nhiều học sinh tham gia là Trung tâm Widehorizon (dịch:
chân trời rộng mở) Thành lập 2004, chân trời rộng mở như là niềm hy vọng của
giáo dục ngoài trời trong đó có dạy học phiêu lưu - mạo hiểm (Adventure Learning), trung tâm này vốn là sáng kiến của các khu Greenwich và Lewisham thuộc thành phố London, sau mở rộng ra nhiều vùng khác Tầm nhìn hay sứ mạng của tổ chức này đơn giản là: “Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻ đều có cơ hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu - mạo hiểm như là một phần được giáo dục trong cuộc đời chúng” Tầm nhìn ấy bắt đầu từ một hiện thực mà họ cho là khó tin rằng: hơn 50% trẻ em của nước Anh chưa bao giờ biết nông thôn, miền quê là gì;
Trang 19nghèo và luôn có nhu cầu được đến những địa điểm ngoài trời an toàn với giá thấp Việc rất nhiều trẻ em chưa biết nhiều nông thôn là gì cùng với những sự giảm sút đáng kể cơ hội giáo dục thông qua các cuộc tổ chức thăm quan cho trẻ con ở các nhà trường phổ thông là nguyên nhân của sự lo lắng về tương lai của trẻ nhỏ, về quyền được kết nối với thiên nhiên giảm sút và vô số các lợi ích khác liên
quan đến giáo dục ngoài trời Những người sáng lập ra chân trời rộng mở khẳng
định: việc đi thăm các miền quê và trải nghiệm giáo dục ngoài trời là một trong yếu tố quyết định cho sự phát triển lành mạnh của trẻ về học tập và phiêu lưu - mạo hiểm là một chất xúc tác mạnh mẽ cho điều đó Những khóa học và hoạt động phiêu lưu mạo hiểm sẽ làm cho học sinh hứng thú kích thích, vui vẻ, giúp cho trẻ cảm thấy dễ chịu và học tập tốt hơn Hàng loạt các hoạt động ngoài trời cho tất cả các lứa tuổi học đường, từ tổ chức trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh đến các hoạt động phiêu lưu mạo hiểm cho học sinh thanh, thiếu niên Nhiều hoạt động liên kết với các chủ đề của chương trình và phù hợp với mục đích, đối tượng học tập Chẳng hạn, liên quan đến môn khoa học là việc quan sát thú lớn thú nhỏ; dầm mình xuống ao hồ; môi trường sống, vực đá, đầm lầy siêu khí hậu Liên quan đến môn địa lý là các khái niệm bờ biển, sông ngòi, sự trái ngược của các hướng; địa mạo học Liên quan đến môn nghệ thuật như làm báo, đồ gốm, môi trường nghệ thuật Liên quan đến môn giáo dục thể chất là môn Chạy định hướng, khám phá đường đua Liên quan đến môn lịch sử như các triều đại Vitory, WWII, khám phá của tôi Liên quan đến môn công nghệ là việc xây cất nhà, những kỹ năng sinh tồn Trong đó học phiêu lưu - mạo hiểm với các nội dung như: kayaking, bắn cung, leo dây thừng; xe đạp núi, leo trèo và cắm trại Phiêu lưu - mạo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong học tập và phát triển của con trẻ Với một số người, phiêu lưu, mạo hiểm có thể trở thành một bí quyết học tập Một học sinh tâm sự “Học tập với cây bút và cuốn vở luôn là công việc nặng nhọc với tôi; nhưng tôi đã tìm thấy sự nhẹ nhàng trong học tập khi cùng một lúc liên hệ với những kinh nghiệm mạo hiểm và buồn cười” (Rob Jarvis) Vai trò, tính hữu ích của các hoạt động ngoài trời và phiêu lưu, mạo hiểm đã được khẳng định
Trang 20rất rõ Một nghiên cứu mới công bố gần đây chỉ ra rằng cần mở rộng các tri thức hữu ích cho trẻ em thông qua môi trường bên ngoài: “Các hoạt động học tập ngoài trời ví như học ở vườn trường, công viên địa phương, thăm nông trại các khu dân
cư, sẽ làm cho các môn học chính giàu có thêm và giúp cho học sinh hứng thú học tập hơn” Trong dạy học hiện đại, lớp học không thể là không gian sáng tạo cho tất
cả mọi người; không gian cảm hứng thực sự chỉ có thể là môi trường tự nhiên với một số người; với một số khác có thể sử dụng phiêu lưu, mạo hiểm để bổ sung và
mở rộng tri thức của họ Theo Chân trời mở rộng, những lợi ích của học tập phiêu
lưu, mạo hiểm là xa rộng và lâu dài Những kinh nghiệm trực tiếp là rất khó quên
và là công cụ để phát triển sức khỏe cường tráng Bởi vì những gì làm trực tiếp bằng tay bao giờ cũng là phương pháp học tập tốt nhất Với hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm, trẻ con, thanh thiếu niên là trung tâm, rất vui vẻ: do vậy chúng không
thể quên được Đây là thông tin của Trung tâm Chân trời rộng mở về môi trường
ở London
Ở Hàn Quốc việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường luôn được coi trọng Đặc biệt Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục Cùng với hoạt động dạy học các môn học, đây là một trong hai hoạt động tạo nên chương trình giáo dục Hàn Quốc Hoạt động này được thực hiện xuyên suốt từ tiểu học đến THPT với phân bổ thời lượng như sau (số giờ cho Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trên tổng số giờ của mỗi cấp học) Đối với Tiểu học 780/5828 giờ chiếm 13,4%, trung học cơ sở 306/3366 giờ, chiếm 9,1%, ở Trung học phổ thông 24unit/204unit, chiếm 11,8%
Từ năm 2009, một trong những đổi mới của chương trình giáo dục Hàn Quốc là “hoạt động trải nghiệm sáng tạo” Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là những hoạt động nằm ngoài hệ thống các môn học trong nhà trường, đó là những hoạt đông: hoạt động tự chủ, hoạt động Câu lạc bộ, hoạt động từ thiện và hoạt động định hướng (hoạt động hướng nghiệp) Tuy nhiên, hoạt động trải nghiệm sáng tạo không tách rời với hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác, bổ trợ cho nhau để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng,
Trang 21ý chí, kỹ năng sống và những năng lực cần có ở con người trong xã hội hiện đại Hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính thực tiễn cao, gắn bó với đời sống cộng
đồng, có tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục (ĐHQG Chungnam, Hàn Quốc) [16, tr.12]
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước
Trong lịch sử giáo dục ở nước ta, từ lâu giữa nhà trường và gia đình đã có
sự phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục trẻ, câu nói “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy” đã khái quát ý nghĩa lớn lao về mối quan hệ này Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà giáo dục lớn của nước ta, Bác đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng về trách nhiệm của nhà trường phải tổ chức phối hợp
với gia đình: “ Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò Bởi vì giáo dục trong
nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình
để cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường
dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”… [19, tr.10]
Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng hợp quan điểm lý luận
và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ của gia đình và sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ như “Giáo dục gia đình” (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS, NXB Giáo Dục), “Xã hội hoá công tác giáo dục” (Phạm Minh Hạc tổng chủ biên), “Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Thế Ngữ), “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” (Hà Nhật Thăng),
“Suy nghĩ về trách nhiệm của gia đình đối với việc giáo dục thiếu niên nhi đồng” (Nguyễn Đức Minh)… Các công trình nghiên cứu đã khẳng định gia đình có tính quyết định trong việc giáo dục thế hệ trẻ và sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường
và giáo dục gia đình là không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ Bởi lẽ gia đình
có vị trí và vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Giáo dục gia đình có tính xúc cảm hơn so với bất cứ môi trường giáo dục nào khác, vì nó dựa trên tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái và tình cảm quyến luyến tin cậy của con cái đối với cha mẹ, do đó giáo dục gia đình có khả
Trang 22năng lớn trong xây dựng tình cảm, niềm tin, tính cách con người Giáo dục gia đình còn mang tính ổn định, lâu bền Những phẩm chất về nhân cách của cha mẹ
và các thành viên trong gia đình tác động trực tiếp, thường xuyên và có hiệu quả đến trẻ em Sự gắn bó của các quan hệ gia đình tạo nên không khí tâm lý gia đình thường có ảnh hưởng quyết định đối với những phản ứng của trẻ em Do đó những ảnh hưởng của gia đình thời thơ ấu thường để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn đứa trẻ và những đặc điểm của gia đình có ảnh hưởng nhiều nhất và mạnh nhất đến các hoạt động của trẻ em Bên cạnh những thuận lợi, giáo dục gia đình còn có những mặt không thuận lợi trong việc giáo dục trẻ Tình yêu thương sâu sắc, rộng lớn của cha mẹ đối với con cái nếu không có yêu cầu cao về giáo dục, không có tính nguyên tắc sư phạm sẽ có thể là nguyên nhân gây ra cho con cái thói hư, tật xấu Những cha mẹ có tư tưởng lạc hậu, quan niệm giáo dục lỗi thời, không có tri thức về khoa học giáo dục sẽ dẫn đến việc giáo dục gia đình mâu thuẫn với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Do đó nhà trường và xã hội cần phải phối hợp, phát huy những thuận lợi và khắc phục những mặt không thuận lợi của giáo dục gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ Ngược lại gia đình và xã hội cũng cần phải bổ sung, cộng tác và phát huy vai trò của giáo dục nhà trường vì mục tiêu chung là làm cho trẻ “thành người” và “làm người”
Trong những năm vừa qua cũng đã có những luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề quản lý giáo dục ở những cấp độ và phạm vi khác nhau Cũng có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình
và xã hội ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả như:
Nguyễn Văn Toàn với đề tài: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục trong
hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học; Phạm Thị Minh Tâm: Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục cho học
sinh trường phổ thông; Nguyễn Tiến Dũng, riêng với đề tài: “Phối hợp giữa nhà trường, đình và xã hội trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường trung học cơ sở" vẫn còn là một vấn đề mới, những công trình nghiên cứu
một cách đầy đủ chỉ là từng mặt của vấn đề Hơn nữa khi nghiên cứu nó trong điều
Trang 23kiện nền kinh tế thị trường, ngành giáo dục và đào tạo đang thực hiện Đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo Các nhà trường đang đứng trước những khó khăn và thách thức mới
Song với tư cách là một người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, về lý luận cũng như thực tiễn đã hướng tới đi sâu nghiên cứu đề tài trên để thấm nhuần hơn vấn đề, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, phù hợp
1.2 Một số khái niệm và lý luận có liên quan
1.2.1 Quản lý
Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia Hoạt động
QL xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm Qua lao động, để duy trì
sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người Hoạt động QL
là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung
Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay
lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân
và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [3, tr.38]
Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển quá trình lao động, một hoạt động tất yếu của xã hội loài người
Hoạt động lao động là khá phức tạp, phong phú và đa dạng, quản lý là một hiện tượng lịch sử, xã hội Có nhiều nhà nghiên cứu về quản lý đã nêu lên các khía cạnh khác nhau của khái niệm “Quản lý”
Theo Kônđacov thì quản lý là một “hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt
Trang 24được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [15, tr.32]
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về QL Đó là:
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều
người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”
[14 tr.32]
- Theo Bùi Trọng Tuân - Nguyễn Kì: “Quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [28, tr.19]
- “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn
trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”; “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [35, tr.24]
- Có thể nói bản chất của hoạt động QL một hệ thống là nhằm làm cho hệ thống đó vận động theo mục tiêu đã đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới Trong QL có chăm sóc, giữ gìn sự ổn định, có sửa sang, sắp xếp, đổi mới để phát triển; Tuy nhiên hệ thống có sự ổn định mà không có phát triển thì tất yếu cũng sẽ dẫn đến suy thoái Ngược lại hệ thống phát triển mà không ổn định ắt
sẽ dẫn đến rối ren Như vậy trong QL có cả sự ổn định và sự phát triển
Nói về Nhà nước và QL Nhà nước trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ta có thể thấy Người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng, minh bạch
Người nói: “ Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là Nhà nước được cai
trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế.” và
“Trong một Nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau ” Đồng thời “xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [20, tr.22]
Trang 25Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, bất kể đó
là nhóm không chính thức hay nhóm chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì Theo nghĩa chung nhất từ góc độ Tâm lí học quản lý
được hiểu như sau: "QL là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch
và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó" [7, tr.47]
Tóm lại, có thể nói QL là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và được hiểu dưới những góc độ, quan điểm khác nhau Nhưng
dù ở lĩnh vực hay góc độ nào đi nữa thì, theo chúng tôi, QL cũng là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể
QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch ra mục tiêu của tổ chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt mục tiêu đề ra QL là sự điều khiển có tổ chức và thoả mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị; Nhưng tuỳ theo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển
1.2.2 Quản lý nhà trường
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những
tác động có hướng đích của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, nhằm đạt mục tiêu giáo dục” [17, tr.39]
Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người (Human Capital), vốn tổ chức (Organizational Capital) và cả vốn
xã hội (Social Capital)
Trang 26Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác
động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [22, tr.10]
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [11, tr.30]
Bản chất Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục
Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
Thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là một thành
tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận
của quản lý giáo dục “Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt
Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối đó
Trang 27Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường Do đó quản lý nhà trường là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
- Đối tượng của quản lý nhà trường
Dưới góc độ giáo dục học, hoạt động dạy học được xem là hoạt động trung tâm trong bất kỳ một nhà trường nào Quá trình dạy học của nhà trường là quá trình trong đó diễn ra hai hoạt động cơ bản là dạy và học; Người ta gọi đó là hai mặt của quá trình dạy học Đó là quá trình hoạt động của cả thầy lẫn trò nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học đã đề ra Đồng thời hai hoạt động này gắn
bó và thống nhất với nhau, phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học và tạo
ra chất lượng dạy học Trong khi đó quá trình dạy học là quá trình bao hàm nhiều yếu tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, kết quả dạy học Do vậy QL nhà trường chính là QL tất cả các mặt, các yếu
tố liên quan đến hoạt động dạy học, quá trình dạy học mà chủ yếu là quản lý hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS - SV nhằm tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo, hoàn thiện và phát triển nhân cách thế hệ trẻ một cách khoa học, toàn diện và hiệu quả
Trong thực tế cho thấy đối tượng của QL nhà trường thường gồm: việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học; hoạt động dạy của GV (biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp đỡ kiểm tra HS -SV học tập); hoạt động học tập của HS - SV (nề nếp, thái độ học tập, kết quả học tập); việc sử dụng CSVC kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học Nếu tất cả những đối tượng trên được quan tâm, chú ý và thực hiện tốt thì công tác QL nhà trường sẽ thu được kết quả mong muốn
- Mục đích của Quản lý nhà trường
Nhiều nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục, QL nhà trường đã đưa ra nhận định, tổng kết về chức năng, mục đích của QL nhà trường Có thể nêu ra dưới đây những nhận xét khái quát như sau:
Trang 28“QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu
GD, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh”; Mục đích của
QL nhà trường là nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến [14, tr.26]
Quản lý nhà trường là quản lý toàn diện mọi hoạt động, mọi nguồn lực của nhà trường Nhưng vì trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản, đặc trưng cho trường học, do vậy quản lý nhà trường chính là quản lý hoạt động dạy học của nhà trường nhằm đưa nhà trường đạt được hiệu suất cao nhất, chất lượng cao nhất với mục đích cuối cùng là làm sao đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ sở GD, đào tạo ra những công dân có ích cho xã hội
1.2.3 Khái niệm các lực lượng giáo dục
Quá trình giáo dục học sinh luôn bị tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối quan hệ ở trong nhà trường, gia đình và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu sự tác động đến quá trình giáo dục học sinh Đó chính là 3 lực lượng giáo dục cơ bản tác động đến quá trình giáo dục hình thành và phát triển toàn diện học sinh là nhà trường, gia đình và xã hội Mỗi lực lượng có tầm quan trọng, có nhiệm
vụ, có phương pháp và tính ưu việt riêng trong việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
- Nhà trường là: một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ,
có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thế hệ phát triển nhân cách, kiến thức, kỹ năng theo những định hướng của xã hội Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy, học, giáo dục theo hệ thống chương trình nội dung được tổ chức một cách chặt chẽ, bài bản
- Gia đình: “Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp của những người
cùng chung sống là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ, con cái” [4, tr.6]
Trang 29Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội giữ đúng
tư cách là trách nhiệm của mình trong gia đình
- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan nội chính, các tổ chức chính
trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng
* Trong các lực lượng giáo dục, nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh vì:
Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân lực do
xã hội giao phó
Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc
và tổ chức chặt chẽ
Nhà trường có LLGD mang tính chất chuyên nghiệp
Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác động tích cực trong quá trình giáo dục học sinh
Tuy nhiên, nếu nhà trường có sự liên hệ, phối hợp với gia đình và các LLXH sẽ có những tác động đồng thời tạo ra hiệu quả cao đối với quá trình thực hiện chương trình giáo dục nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh
1.2.4 Phối hợp các lực lượng giáo dục
Việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của giáo dục Bản chất của việc phối hợp đó là đạt được sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục đúng đắn, đầy đủ và vững chắc, tạo được môi trường giáo dục thuận lợi trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội Nhờ có môi trường giáo dục đó, học sinh buộc phải hành động theo đúng các yêu cầu và các chuẩn mực ứng xử Môi trường giáo dục bao gồm: Những yêu cầu thống nhất của nhà trường, gia đình và xã hội đối với hành vi của học sinh, những tình huống được tạo ra trong cuộc sống để các hành vi tích cực có điều kiện thực hiện, những phương pháp và biện pháp giáo dục được sử dụng khéo léo, không mâu thuẫn nhau và không dẫn đến tính chất hai mặt trong ứng xử của học sinh
Trang 30Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội thường nhằm mục đích huy động nguồn lực tổng hợp để khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị (trường, lớp, mua sắm thêm đồ dùng dạy học, sửa chữa bàn ghế ) hoặc hỗ trợ một số hoạt động của giáo viên, học sinh trong việc thực hiện chương trình giáo dục, đặc biệt việc tổ chức tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường trung học cơ sở, việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có một ý nghĩa đặc biệt vì đó là những môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, kỹ năng vận dụng kiến thức vào trải nghiệm thực tế của học sinh phổ thông nói chung và học sinh THCS nói riêng Trong việc kết hợp sự tác động của các môi trường ấy vai
trò của nhà giáo dục là rất quan trọng vì vậy: “Nhà giáo dục phải có tầm nhìn,
phải có kế hoạch, có chiến lược, phải hiểu đối tượng dự định tiếp cận và huy động thì mới có thể đạt được những điều mong muốn" [14, tr.31]
Bản chất của quá trình phối hợp giáo dục là sự thỏa thuận chung để đi đến nhất trí chung về nhận thức, mục tiêu, nội dung, phương thức thực hiện Đó là quá trình xây dựng kế hoạch, xác định cơ chế hoạt động, đóng góp theo khả năng có
sự cố gắng tối đa các thành viên tham gia nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của
xã hội về giáo dục, trong đó có trách nhiệm, quyền lợi về giáo dục của các thành viên được hưởng thụ
Trong nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm nhiều nội dung, trong đó quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục cho học sinh là một trong những nội dung quan trọng
Phối hợp các lực lượng giáo dục là một lĩnh vực rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi người quản lý phải có năng lực quản lý vững vàng, toàn diện; khả năng vận dụng các biện pháp quản lý linh hoạt và phải luôn là tấm gương sáng về đạo đức nhà giáo
Trang 31Sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh về bản chất là quá trình tổ chức phối hợp giáo dục của nhiều thành viên cùng tham gia tạo ra sự thống nhất chung của các thành viên, nhằm huy động hợp lý nhất khả năng của các thành viên phù hợp với mục tiêu, nội dung, kế hoạch
tổ chức hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường
Mục tiêu của phối hợp các lực lượng giáo dục là làm cho quá trình giáo dục vận hành đồng bộ, hiệu quả, tạo ra bầu không khí hăng hái và thuận lợi để thực hiện chương trình giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục học học sinh trong nhà trường, gia đình và ở khắp mọi nơi ngoài xã hội
Phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội là sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện chứng giữa ba lực lượng giáo dục Một mặt nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục học sinh Mặt khác nhà trường cần giúp đỡ hỗ trợ
cụ thể cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái Với tư cách là chủ thể giáo dục, gia đình tiêu biểu là các bậc phụ huynh có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục con em mình, tránh tư tưởng khoán trắng cho nhà trường hoặc tự đề ra những yêu cầu giáo dục đi ngược lại mục tiêu giáo dục của nhà trường quy định
Bên cạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình thì không thể không nói tới vai trò giáo dục của xã hội góp phần ảnh hưởng tới việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường Giáo dục xã hội bao gồm hoạt động giáo dục do các đoàn thể nhân dân tham gia như đoàn thanh niên, cộng đồng dân cư, hội phụ
nữ, công an, các tổ chức cơ quan, doanh nghiệp tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động trải nghiệm thực tế trong xã hội tạo thành môi trường giáo dục rộng lớn cho các em Việc tổ chức hướng dẫn các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tạo điều kiện cho sự phối hợp các lực lượng chặt chẽ hơn và đồng bộ hơn giúp cho việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trưởng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh một cách tốt nhất và
có hiệu quả nhất
Trang 32Hoạt động là khái niệm được dùng để chỉ sự tương tác, sự tác động của chủ thể với đối tượng xung quanh và ngược lại Đây là hoạt động của chính chủ thể, không ai thay thế hoặc ép buộc được Bản chất của hoạt động này vừa mang tính trải nghiệm, thử và sai, vừa là cách thức nhận thức, tác động của riêng mỗi chủ thể Khi tự thực hiện hoạt động thông qua giải quyết vấn đề mà thu nhận những giá trị cần thiết cho bản thân, đó chính là quá trình mang tính trải nghiệm Quá trình này cũng mang tính sáng tạo, thể hiện ở chỗ: Con người có thể học một cách thức hoạt động của ai đó truyền lại nhưng ngay cả khi học hay khi ứng dụng trong thực tiễn, cách thức hoạt động của chủ thể học đã là cách nhận thức, không giống như kinh nghiệm của người trước truyền lại Cái mà dạy học, giáo dục truyền lại cho thế hệ sau là cái mà thế hệ trước đã thu nhận được Vì vậy, dạy học, giáo dục bao giờ cũng có một độ trễ so với thực tiễn Nhưng mục đích của dạy học, giáo dục lại là định hướng cho người học sống được ở thời tương lai Vì vậy, vấn đề không phải ở chỗ nhà trường truyền đạt được bao nhiêu kiến thức nhân loại cho học sinh mà định hướng cho các em như thế nào, hình thành cho chúng những năng lực phẩm chất gì để chúng có thể tiếp nối ông cha, phát triển xã hội Như vậy, bản chất hoạt động của người học nói riêng, của con người nói chung là hoạt động mang tính trải nghiệm, sáng tạo Trong quá trình giáo dục, nhiều khi nhà trường đã quên mất bản chất này nên đã quá quan tâm đến dạy học theo mẫu, vận dụng nguyên si Tuy nhiên, dù giáo dục như thế nào nếu cái các em học không ứng dụng được trong thực tiễn, thì kiến thức, giá trị học được bị loại ra khỏi cá nhân đó Họ lại phải tìm cách thức, phương thức hoạt động khác phù hợp với điều kiện hiện tại của họ Như vậy bản chất hoạt động là mang tính trải nghiệm (chủ thể thực hiện) và tính sáng tạo (dấu ấn chủ thể) Mức độ sáng tạo cao hay thấp, nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ kinh nghiệm hoạt động được truyền lại phù hợp với thực tiễn người học như thế nào Như vậy tính sáng tạo ở đây được hiểu là sự sáng tạo ở cấp độ cá nhân, không phải cấp độ xã hội Như vậy, hoạt động bao giờ cũng có thuộc tính trải nhiệm sáng tạo (của chủ thể) HĐTNST chỉ bản chất của
Trang 33nghiệm sáng tạo để học sinh tham gia Các hoạt động do nhà trường hoặc các lực lượng giáo dục xã hội tổ chức, phù hợp quy luật của hoạt động trải nghiệm sáng tạo được gọi là hoạt động giáo dục TNST Như vậy, HĐGDTNST là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động giáo dục trong nhà trường được tổ chức phù hợp với bản chất hoạt động của con người Tính từ trải nghiệm, sáng tạo để nhấn mạnh bản chất của hoạt động chứ không phải là một dạng hoạt động mới
Trong chương trình giáo dục phổ thông nước ta hiện nay, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một hoạt động mới cả về tên gọi và nội dung của hoạt động Trước hết xin trao đổi về khái niệm này
Trong từ điển tiếng Việt trải có nghĩa là “đã từng qua, từng biết, từng chịu
đựng”; còn nghiệm có nghĩa là “kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng”
Sáng tạo là “tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần Tìm ra cái mới,
cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [dẫn theo 16]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: Trải nghiệm “theo nghĩa chung
nhất, là bất kì một trạng thái màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức ) trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân” Còn sáng tạo là “hoạt động tạo ra cái mới
Có thể sáng tạo trong bất kì lĩnh vực nào: khoa học (phát minh), nghệ thuật, sản xuất - kĩ thuật (sáng tác, sáng chế), kinh tế, chính trị,…” [dẫn theo 16]
Lịch sử của từ “trải nghiệm” gần nghĩa với khái niệm “thử nghiệm” Thực tiễn cho thấy trải nghiệm đạt được thường thông qua thử nghiệm
Như vậy, trong giáo dục phổ thông, có thể hiểu hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một loại hình hoạt động giáo dục nhằm định hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn: qua đó tổ chức, khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tích cực nghiên cứu tìm ra những giải pháp mới, thực hiện khám phá, phát hiện, sáng tạo những cái mới trên
Trang 34cơ sở kiến thức đã học trong nhà trường và những gì đã trải qua trong thực tiễn cuộc sống
1.3 Hiệu trưởng trường THCS trong tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trường THCS
Chức năng, nhiệm vụ của hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường chính là chức năng quản lý Chức năng quản lý xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý Mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện
Chức năng quản lý là một thể thống nhất các hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Quản lý có 4 chức năng: Chức năng hoạch định (lập kế hoạch), chức năng tổ chức, chức năng điều hành (chỉ đạo), chức năng kiểm tra Để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường người hiệu trưởng THCS cần thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình
1.3.1.1 Lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
Để đạt được mục tiêu và xác định được các bước đi, hiệu trưởng phải lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục dựa trên cơ sở pháp lý của Bộ GD&ĐT và
của địa phương (phân phối chương trình, khung chương trình…): Vạch ra mục
tiêu cần đạt được; xác định các bước đi để đạt mục tiêu; xác định các nguồn lực và các biện pháp để đạt mục tiêu Để bản kế hoạch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi thì hiệu trưởng phải thực hiện tốt chức năng dự báo Khi dự báo phải biết
rõ thực trạng của mình: Nhu cầu, năng lực chuyên môn đội ngũ, cơ chế chính sách, sự quan tâm phối hợp giữa các lực lượng; Kế hoạch chỉ đạo thực hiện nhiệm
vụ chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng GD&ĐT; Nguồn lực đội ngũ giáo viên; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc thực hiện chương trình giáo dục; năng lực tài chính
Trang 35Kế hoạch thực hiện chương trình phải xác định rõ:
- Mục tiêu
- Nội dung thực hiện
- Giáo viên tham gia thực hiện, cán bộ quản lý chỉ đạo thực hiện chương trình, đặc biệt về tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Đối tượng tham gia thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
- Phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường, đặc biệt về tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Đánh giá kết quả thực hiện chương trình giáo dục
- Thời gian tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
- Các nguồn lực và sự phối hợp của các môi trường giáo dục để phục vụ thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
1.3.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch chương trình giáo dục nhà trường
Thành lập các bộ phận chuyên môn, tổ chuyên môn, các ban để tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục; tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
- Thành lập tổ chuyên môn, phân công cán bộ, giáo viên có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, nắm chắc về nội dung chương trình Sắp xếp bộ máy đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và các nhiệm vụ phải đảm nhận Nói khác đi phải tổ chức bộ máy phù hợp về cấu trúc, cơ chế hoạt động để đủ khả năng đạt được mục tiêu - phân chia thành các bộ phận sau đó ràng buộc các bộ phận bằng các mối quan hệ
- Tổ chức công việc: Sắp xếp công việc hợp lý, phân công phân nhiệm rõ ràng để mọi người hướng vào mục tiêu chung
Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi
bộ phận, đảm bảo mối quan hệ, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảm bảo cho thành công trong quản lý
Trang 36Chuẩn bị các nguồn lực đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường, tài chính phục
vụ việc thực hiện chương tình giáo dục và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
1.3.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch chương trình giáo dục nhà trường
Tác động đến con người bằng các mệnh lệnh, làm cho người dưới quyền phục tùng và làm việc đúng với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ được phân công Tạo động lực để cho con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng, kể cả trách phạt
Chức năng này có tính chất tác nghiệp điều chỉnh, điều hành hoạt động của
hệ thống nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định, để biến mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện
Chỉ đạo xây dựng nội dung chương trình giáo dục nhà trường và thực hiện chương trình, nội dung tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
Chỉ đạo nâng cao năng lực giáo viên để thực hiện chương trình giáo dục nhà trường theo hướng phát huy năng lực học sinh
Chỉ đạo biên soạn phát triển chương trình giáo dục nhà trường theo hướng đổi mới
Chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn, phương pháp, hình thức tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
Chỉ đạo quá trình tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Chỉ đạo đánh giá kết quả thực hiện chương trình giáo dục nhà trường và phản hồi thông tin tới giáo viên và người học, các lực lượng tham gia giáo dục…
1.3.1.4 Kiểm tra kết quả thực hiện chương trình giáo dục nhà trường
Để thực hiện tốt việc tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS cần có các biện pháp, hình thức kiểm tra nghiêm túc, chính xác
Kiểm tra công tác chuẩn bị của các bộ phận chuyên môn, tổ chuyên môn, đội ngũ giáo viên
Kiểm tra các nguồn lực phục vụ cho tổ chức thực hiện chương trình giáo dục; hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trang 37Kiểm tra quá trình thực hiện chương trình giáo dục nhà trường: Việc tổ chức tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
Tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ các lực lượng tham gia thực hiện chương trình giáo dục nhà trường để hoàn thiện quá trình thực hiện ở giai đoạn tiếp theo Đánh giá kết quả thực hiện chương trình đạt được để hoàn thiện, rút kinh nghiệm cho các hoạt động tiếp theo
1.3.2 Nội dung chương trình giáo dục nhà trường ở trường THCS
Nội dung chương trình giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng
cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình
độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những nội dung đã học ở Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về Tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kĩ thuật và hướng nghiệp Đối với học sinh có năng khiếu, có thể vận dụng hình thức
tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục phù hợp nhằm phát triển các năng khiếu đó
Giáo viên cần chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình thức
tổ chức giáo dục cho phù hợp với nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể
Hình thức tổ chức giáo dục trung học cơ sở bao gồm tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục trên lớp, trong và ngoài nhà trường Các hình thức giáo dục phải đảm bảo cân đối, hài hòa giữa dạy học các môn học và hoạt động giáo dục; giữa dạy học theo lớp, nhóm và cá nhân, bảo đảm chất lượng giáo dục chung cho mọi đối tượng và tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân của học sinh
1.3.3 Vai trò của Hiệu trưởng trong việc quản lý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh THCS
Trong nhà trường Hiệu trưởng là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi tích cực của bản thân họ trong tổ chức các hoạt động TNST, là người có tác động chủ yếu để thay đổi nhận thức, hành
Trang 38vi của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh khi triển khai hoạt động TNST
Là người thường xuyên chỉ đạo tổ, nhóm chuyên môn và giáo viên tổ chức phân tích hoạt động của học sinh sau khi tham gia hoạt động TNST, từ đó rút kinh nghiệm cho việc tổ chức các hoạt động tiếp theo sao cho học sinh có cơ hội được hình thành và phát triển những kiến thức thực tiễn gắn bó với đời sống và cộng đồng, những kỹ năng phong phú, mềm dẻo, linh hoạt
Tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất cho các tổ, nhóm chuyên môn, giáo viên, học sinh triển khai các hoạt động TNST
Chủ động chỉ đạo thực hiện các hoạt động TNST, hiệu trưởng trở thành người coi việc hình thành năng lực, phẩm chất, kỹ năng cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm là biện pháp quan trọng để thay đổi chất lượng học tập của học sinh, từ đó xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường
Khi Hiệu trưởng biểu dương, khuyến khích các mô hình tổ chức hoạt động TNST, khẳng định sự cần thiết và những lợi ích mà hoạt động TNST mang lại sẽ tạo động lực to lớn để giáo viên và HS tích cực tham gia và đổi mới cách thức tổ chức hoạt động TNST
Là người nắm rõ được đặc điểm tình hình nhà trường, gia đình và xã hội
Trên cơ sở đó xác định những nhu cầu cần thiết của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh
Xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo của từng năm học, bậc học và khối học, môn học Mục tiêu phải cụ thể mang tính hoạch định, và tính khả thi, có thước đo đánh giá được Mục tiêu phải phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội và phát triển giáo dục
Đánh giá thực hiện kế hoạch Kết quả của tổ chức thực hiện chương trình giáo dục nhà trường; việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Chủ động trong việc tham gia thực hiện xây dựng và phát triển chương trình nhà trường nhằm phát triển tối ưu các phẩm chất và năng lực của học sinh, phát triển xã hội để nâng cao chất lượng phát triển giáo dục, phải làm cho chương
Trang 39trình, nội dung, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh, các điều kiện học tập cụ thể
Xây dựng nội dung chương trình gắn với địa phương, những hoạt động tham gia vào công tác thực tiễn và đời sống, chỉ đạo và biên soạn theo các chủ đề
Việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp phát huy được những tiềm năng của toàn xã hội tham gia vào việc thực hiện chương trình giáo dục nhà trường để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Mục tiêu của phối hợp các lực lượng giáo dục là tạo ra sự thống nhất, đồng thuận và gắn trách nhiệm của cộng đồng xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục, tăng cường các lực lượng tham gia làm giáo dục tạo nên sức mạnh tổng hợp cùng chăm lo cho giáo dục
Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm thực hiện chương trình giáo dục nhà trường là tác động vào các đối tượng tạo ra mối liên hệ tác động hướng đích có tính thống nhất, tập trung để huy động sức mạnh tổng hợp của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh
Để tạo ra sự phối hợp trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường, cần:
Tổ chức mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm giáo dục cho học sinh là sự thể hiện tác động qua lại một cách biện chứng Một mặt nhà trường cần giúp đỡ hỗ trợ cụ thể cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục, giúp họ nắm được nội dung và phương pháp giáo dục trong gia đình làm cho họ nắm được tri thức về chính sách giáo dục đồng thời cho họ thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của các bậc phụ huynh trong việc nuôi dạy con cái Mặt khác với tư cách là một chủ thể giáo dục, gia đình tiêu biểu là các bậc phụ huynh học sinh có trách nhiệm chủ động hợp tác với nhà trường trong việc tổ chức hoạt động giáo dục, hiểu rõ nhiệm vụ của mình tránh tư tưởng khoán trắng cho nhà trường hoặc tự đề ra những yêu cầu giáo dục đi ngược lại mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường quy định
Trang 40Thông qua việc phối hợp giữa nhà trường và các lực lương xã hội mà tạo nên một môi trường giáo dục đúng đắn, rộng khắp trong toàn xã hội, đồng thời tạo
ra quá trình giáo dục thống nhất và liên tục trong không gian và theo thời gian, có tác động trực tiếp đến việc hình thành nhân cách và phát triển nâng cao các tố chất
và tiềm năng của bản thân cho thế hệ trẻ, vừa tạo những điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc giáo dục của nhà trường và của gia đình
Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội sao cho gia đình phát huy được tác dụng định hướng, tổ chức cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm xã hội vì xã hội là môi trường GD rất tốt cho trẻ Bên cạnh đó gia đình còn giúp trẻ có nhận thức đúng và hướng tới hình thành năng lực và phẩm chất cần có của một công dân thế kỷ 21
Huy động, khai thác nguồn lực vật chất phục vụ cho hoạt động giáo dục không đơn giản chỉ là sự đóng góp tài chính của các gia đình, địa phương cần phải
có một quy hoạch khai thác, tính toán giữa khả năng nguồn lực và mức độ cần đầu
tư cho giáo dục phổ thông trong một tổng thể chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển giáo dục ở phạm vi từng trường, đồng thời phải có một cơ chế chính sách cụ thể về huy động và sử dụng nguồn lực
Trong thực tiễn, những năm gần đây việc đầu tư ngân sách Nhà nước cho giáo dục chưa tương xứng với sự phát triển của nó, đồng thời đang tồn tại những bất hợp lý trong việc đầu tư nói trên trong việc phân bổ ngân sách Nhà nước cho giáo dục
Cần tham mưu với các ban ngành có liên quan điều chỉnh mức chi ngân sách cho giáo dục phổ thông đảm bảo sự bình đẳng như các bậc học khác, đồng thời tăng tỷ lệ chi đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Thực tiễn cho thấy bất kỳ một ngành học nào muốn phát triển đều đảm bảo tính cân bằng về đầu
tư phù hợp với các mặt hoạt động, đặc biệt có sự chú trọng tới việc đầu tư cơ sở vật chất để tu sửa và nâng cấp các phòng học, các công trình phụ trợ và trang thiết
bị phục vụ cho hoạt động dạy và học