Trước sự phát triển không ngừng của đời sống sản xuất; tốc độ gia tăng dânsố, đô thị hóa mạnh mẽ; và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm củangười tiêu dùng và thị t
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ––––––––––––––––––––––––
ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG,
AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ MUỐI
TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011-2015
(Kèm theo Tờ trình số 857/TTr-BNN Ngày 31 tháng 3 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC ii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng đề án 1
II Cơ sở pháp lý xây dựng đề án: 4
III Phạm vi của đề án: 5
PHẦN 1 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN 6
I Hệ thống văn bản QPPL, tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật quản lý an toàn thực phẩm 6
II Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản 7
III Nguồn nhân lực 9
IV Về cơ sở vật chất và đầu tư cho quản lý chất lượng, ATTP 10
V Về cơ chế tài chính 12
PHẦN 2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN13 I MỤC TIÊU CHUNG 13
II MỤC TIÊU CỤ THỂ ĐẾN 2015 14
III NHIỆM VỤ 14
IV GIẢI PHÁP 17
PHẦN 3 CÁC DỰ ÁN THUỘC ĐỀ ÁN 19
PHẦN 4 KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN 21
PHẦN 5 TỔ CHỨC THỰC HIỆN 23
I Thời gian thực hiện 23
II Phân công trách nhiệm 23
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
4 CoC Quy tắc nuôi thủy sản có trách nhiệm
5 Codex Tiêu chuẩn thực phẩm
7 Cục BVTV Cục Bảo vệ thực vật
8 Cục CBTM NLTS Cục Chế biến, Thương mại Nông sản và Nghề muối
9 Cục CN Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
10 Cục QLCLNLS&TS Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản
11 Cục TT Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
12 Cục TY Cục Thú y – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
13 DANIDA Hỗ trợ Phát triển Quốc tế Đan Mạch
15 FAO Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc
16 FDA Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
17 FSPS Chương trình Hỗ trợ ngành Thủy sản
18 GAP Quy phạm thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
19 GAqP Quy phạm thực hành nuôi thủy sản tốt
20 GHP Quy phạm thực hành vệ sinh tốt
21 GMP Quy phạm thực hành sản xuất tốt
22 HACCP Chương trình Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
23 IPPC Công ước bảo vệ thực vật quốc tế
24 ISO Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế
25 NAFIQAD Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản
26 NLTS&M Nông lâm thủy sản và muối
27 NTTS Nuôi trồng thủy sản
28 QLCL Quản lý chất lượng
29 QPPL Quy phạm pháp luật
30 SSOP Quy phạm vệ sinh chuẩn
31 SPS Vệ sinh và kiểm dịch động thực vật
32 TBT Hàng rào kỹ thuật về thương mại
34 VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
35 Vụ KHCN Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường
36 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 4BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
––––––––––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2011
ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG,
AN TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ MUỐI
TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011-2015
–––––––––––––––––––––––
PHẦN MỞ ĐẦU
I Bối cảnh và sự cần thiết xây dựng đề án.
Ở Việt Nam, thực phẩm không đảm bảo an toàn đã dẫn đến hàng ngàn lượtngười bị ngộ độc thực phẩm cấp tính, trung bình hơn 60 người chết mỗi năm;trung bình mỗi người dân bị 1,5 lần/năm nhiễm bệnh đường tiêu hóa; lạm dụngthuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất là một trong những nguyên nhân dẫnđến bệnh ung thư, tổn thương não, máu trắng, suy thận … thậm chí dẫn đến tửvong Sản xuất và sử dụng thực phẩm không an toàn ảnh hưởng tiêu cực đến sứckhỏe, khả năng lao động, chất lượng cuộc sống của con người hàng ngày và lâudài Không đảm bảo an toàn thực phẩm còn làm giảm khả năng tiếp cận thị trườngcho các mặt hàng nông sản có giá trị cao mà Việt Nam có tiềm năng Nhiều thịtrường xuất khẩu lớn đã bị bỏ lỡ và rủi ro cao trong việc nắm giữ thị trường nộiđịa trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt
Trước sự phát triển không ngừng của đời sống sản xuất; tốc độ gia tăng dânsố, đô thị hóa mạnh mẽ; và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm củangười tiêu dùng và thị trường quốc tế thì vấn đề quản lý, kiểm soát và đảm bảo antoàn thực phẩm cũng như an toàn thực phẩm nông sản càng được đặt ra hết sứccấp bách, đòi hỏi phải có chiến lược đồng bộ, mang tính định hướng chỉ đạo, tổchức thực hiện các biện pháp nhằm kiểm soát hữu hiệu hoạt động sản xuất nôngsản thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tếngành nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp
Để bảo vệ sức khỏe nhân dân và nâng cao uy tín, thúc đẩy xuất khẩu sảnphẩm nông nghiệp ra thị trường thế giới, công tác quản lý chất lượng, ATTP luônđược Đảng và Nhà nước quan tâm Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rõ
Trang 5“Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến Ứng dụng công nghệ sạch trong nuôi, trồng và chế biến rau quả, thực phẩm, hạn chế việc sử dụng hoá chất độc hại trong nông nghiệp” Quốc hội đã ban hành Luật Chất lượng sản phẩm hàng
hoá, Luật An toàn thực phẩm và Nghị quyết 34/2009/QH12 về đẩy mạnh thựchiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP; Chính phủ và Thủ tướngChính phủ đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật, cơ chế chính sách, đềán, dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về an toàn thực phẩm
Quán triệt ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng,ATTP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chú trọng xây dựng các cơ chếchính sách và chỉ đạo triển khai các biện pháp tăng cường kiểm soát, từng bướccải thiện việc quản lý chất lượng, ATTP nông lâm sản và thủy sản Tuy nhiên bêncạnh những kết quả đạt được cũng còn những tồn tại hạn chế, chưa đáp ứng đượcyêu cầu ngày càng cao của xã hội, còn nhiều vấn đề về chất lượng và ATTP chưađược giải quyết triệt để, khả năng cạnh tranh của nhiều mặt hàng nông sản, thủysản Việt Nam còn chưa ổn định trên thị trường quốc tế, đơn cử:
Tình trạng ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong thịt và sản phẩm thịt còn ởmức cao Kết quả kiểm tra ô nhiễm vi sinh vật trong 269 mẫu thịt gia súc, gia cầmtại các cơ sở giết mổ tại 41 tỉnh/thành phố trong phạm vi cả nước cho thấy:
28,62% mẫu thịt lợn, thịt gà được kiểm tra bị nhiễm Salmonella; 26,76% mẫu thịt nhiễm Staphylococcus aureus lớn hơn giới hạn cho phép Tại các cơ sở kinh
doanh, kết quả kiểm tra ô nhiễm vi sinh vật trong 105 mẫu thịt gia súc, gia cầm tại
41 tỉnh/thành phố trong phạm vi cả nước cho thấy 30,48% mẫu thịt nhiễm
Salmonella; 33,33% mẫu thịt nhiễm Staphylococcus aureus lớn hơn giới hạn cho
phép Bên cạnh tình trạng ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong sản phẩm thịt, tìnhtrạng ô nhiễm hóa chất cấm như Salbutamol và Clenbuterol vẫn còn tồn tại
Hiện nay nước ta sản xuất khoảng 12 triệu tấn rau các loại Tuy nhiên diệntích đất đủ điều kiện trồng rau an toàn mới chỉ đạt 8,5% tổng diện tích rau cảnước, diện tích trồng cây ăn quả an toàn đạt khoảng 20%, số còn lại do sản xuấtnhỏ lẻ, không trong vùng quy hoạch nên khó kiểm soát về chất lượng Số mô hìnhsản xuất quả an toàn theo hướng GAP đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP cònhết sức hạn chế Kết quả kiểm tra dư lượng thuốc BVTV năm 2009 trong 512 mẫurau tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh rau tại 40 tỉnh/thành phố trong phạm vicả nước cho thấy có 33 mẫu có dư lượng thuốc BVTV vượt quá giới hạn dư lượngcho phép, chiếm tỷ lệ 6,44%, trong đó tại cơ sở sản xuất phát hiện 6,86% mẫu rau
Trang 6có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép, tại cơ sở kinhdoanh là 5,26%
Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất kinh doanh thuỷ sản đã xuất hiện vàtiềm ẩn các nguy cơ Tình trạng không đảm bảo an toàn thực phẩm vẫn còn cóchiều hướng phức tạp, nhiều lô hàng thủy sản xuất khẩu bị phát hiện dư lượng hóachất, kháng sinh cấm; nhiễm độc tố sinh học, kim loại nặng do ô nhiễm môitrường; lạm dụng hóa chất bảo quản thủy sản sau thu hoạch đối với thủy sản tiêuthụ nội địa Nhiều vùng nuôi đã bùng phát dịch bệnh do quy hoạch vùng nuôichưa đồng bộ, nuôi nhiều vụ với mật độ cao, chưa chủ động được khâu sản xuấtgiống, chưa kiểm soát được dịch bệnh trong sản xuất và lưu thông giống Kết quảgiám sát về chất lượng, an toàn thực phẩm cho thấy tỷ lệ mẫu thủy sản không đạtyêu cầu vẫn còn 3,5% năm 2010 và năm 2009 là 10,11%
Việc quản lý các sản phẩm thực phẩm nông, lâm, thủy sản nhập khẩu đượcthực hiện theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thựcvật cũng như các quy định về thương mại, hải quan Trong năm 2010, kim ngạchnhập khẩu sản phẩm nông lâm thủy sản ước đạt 4,7 tỉ USD, tập trung các mặthàng chính là nguyên liệu sản xuất thức ăn, sữa, dầu mỡ động thực vật, thủy sản,rau quả, muối Theo thống kê cho đến thời điểm hiện tại, đã có 22 nước với 2049
cơ sở sản xuất thủy sản;13 nước với 18.879 cơ sở sản xuất đăng ký xuất khẩuđộng vật vào Việt Nam; trong đó những đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ có16.930 cơ sở, Canada: 1.599 cơ sở, Australia: 92 cơ sở, EU: 99 cơ sở (Anh, Pháp,Italia ), Nhật: 293, Trung Quốc: 419 cơ sở sản xuất nông sản và thủy sản Bêncạnh các hoạt động xuất nhập khẩu được quản lý kiểm tra chính thức (chínhngạch), vẫn còn một lượng lớn sản phẩm nông lâm thủy sản xuất nhập khẩu theodiện hàng hóa trao đổi cư dân biên giới (tiểu ngạch), thậm chí xuất nhập khẩu lậuqua các đường mòn, lối mở biên giới không được kiểm tra chất lượng, an toànthực phẩm Mặt khác, các cửa khẩu nhập khẩu đều không có cơ sở vật chất phục
vụ kiểm nghiệm hàng hóa tại chỗ nên hiệu quả kiểm soát chưa cao
Năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm còn hạn chế là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế đó Vì vậy, việc tăngcường năng lực quản lý thông qua hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nănglực tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất, cơ chế hoạt động nhằm đảm bảo hiệu lực vàhiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản và muối làyêu cầu cấp thiết hiện nay
Căn cứ Luật ATTP số 55/2010/QH12, Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày
19/6/2009 của Quốc hội khóa XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về
Trang 7quản lý chất lượng, ATTP, Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số
34/2009/QH12, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) xây dựng
Đề án “Tăng cường năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối từ trung ương đến địa phương giai đoạn 2011-2015” nhằm
xác định lộ trình và các giải pháp kiện toàn, tăng cường năng lực quản lý chấtlượng an toàn vệ sinh nông, lâm, thủy sản và muối
II Cơ sở pháp lý xây dựng đề án:
- Nghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII vềđẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;
- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12; Luật Chất lượng sản phẩmhàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Qui chuẩn kỹ thuật và các Nghị định hướng dẫn thihành;
- Pháp lệnh Thú y; Pháp lệnh BVTV; Pháp lệnh giống cây trồng; Pháp lệnhgiống vật nuôi; Luật Thủy sản và các Nghị định hướng dẫn thi hành;
- Nghị định 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 và Nghị định số75/2009/NĐ-CP ngày 10/9/2009 của Chính phủ sửa đổi Điều 3 Nghị định số01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Nghị định số 67/2009/NĐ-
CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật vàNghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 quy định chi tiết thi hành một sốđiều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá;
- Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2008 của Chính phủQui định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về vệ sinh ATTP;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hànhchương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hànhTrung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Trang 8- Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 phê duyệt Kế hoạch thực hiệnNghị quyết số 34/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội khóa XII về đẩymạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng, ATTP;
- Các cam kết hội nhập quốc tế về TBT/SPS trong lĩnh vực nông nghiệp,phát triển nông thôn và ATTP
III Phạm vi của đề án:
Thời gian thực hiện đề án trong giai đoạn 2011-2015 để đồng bộ và thống nhấtvới kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015
Phạm vi của đề án giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước về an toàn thựcphẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo Luật An toàn thực phẩm số
55/2010/QH gồm: Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ.
Đồng thời để tránh trùng lặp với các chiến lược, chương trình, đề án, dự án
khác có liên quan (Chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm, Chương trình Mục tiêu quốc gia về ATTP và các chiến lược, chương trình, đề án tăng cường năng lực trong các lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt, thú y, bảo vệ thực vật, các
đề án thực hiện Nghị quyết trung ương 7 Khóa X về Nông nghiệp Nông dân Nông thôn) phạm vi của Đề án sẽ tập trung vào các mục tiêu và giải pháp tăng cường năng lực quản lý của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản và muối thuộc phạm vi quản lý của Ngành NN&PTNT,
-bao gồm:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật quản lý an toàn thực phẩm;
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý chất lượng an toàn thực phẩm nônglâm thủy sản; phân công, phân cấp quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm trongphạm vi quản lý;
- Tăng cường năng lực và phát triển nguồn nhân lực;
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật;
- Đảm bảo năng lực về tài chính
Trang 9PHẦN 1 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG AN
TOÀN THỰC PHẨM NÔNG LÂM THỦY SẢN
I Hệ thống văn bản QPPL, tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật quản lý an toàn thực phẩm.
Hệ thống văn bản QPPL của Việt Nam về chất lượng, an toàn thực phẩm(ATTP) đã và đang được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện Các luật, pháplệnh điều chỉnh về chất lượng, ATTP đã được xây dựng và sửa đổi như Luật Antoàn thực phẩm (2010), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), LuậtTiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (năm 2006), Pháp lệnh Thú y (sửa đổi, năm2004)
Nhìn chung số lượng văn bản QPPL quản lý chất lượng nông, lâm thủy sảnđược ban hành khá lớn, về cơ bản tạo cơ sở pháp lý để triển khai các hoạt độngquản lý Chỉ tính các văn bản QPPL do cơ quan trung ương ban hành, cả nướchiện có khoảng 259 văn bản điều chỉnh vấn đề về chất lượng, vệ sinh ATTP,trong đó có 19 văn bản do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành; 67văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và 173 văn bản do bộ,ngành ban hành (19 luật, pháp lệnh; 39 nghị định; 44 thông tư; 137 quyết định và
20 chỉ thị)
Tuy số lượng các văn bản QPPL lớn nhưng phạm vi và mức độ điềuchỉnh về chất lượng ATTP vẫn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngườitiêu dùng và thị trường nhập khẩu Một số ngành hàng chưa có đủ hệ thống vănbản quản lý toàn bộ chuỗi sản xuất do thiếu tính qui hoạch trong việc thiết kế hệthống pháp lý và năng lực xây dựng pháp luật theo hướng hội nhập và chuyển đổiphương thức quản lý còn hạn chế là nguyên nhân của việc cơ chế chính sách vàphân công phân cấp giữa các Bộ, Ngành vẫn còn có điểm bất cập, chồng chéo gâykhó khăn cho việc thực hiện
Về hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật: Tính đến hết năm 2009 có
400 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN, TCN) liên quan đến ATTP được ban hành Tỷ lệtiêu chuẩn Việt Nam hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt 63% (Theo báo cáo số 45/BC-CP ngày 07/4/2009 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách pháp luật vềquản lý chất lượng ATTP)
Cơ sở quan trọng cho quản lý là các tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật chưađược rà soát toàn diện; còn nhiều tiêu chuẩn chưa hài hòa với qui định quốc tế
Trang 10(CODEX, JECFA) Hệ thống qui chuẩn về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm
cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm còn thiếu đối với các cơ sở sản xuất kinhdoanh mặt hàng rau, chè, quả, thịt, muối và các quy chuẩn kỹ thuật về điều kiệnđảm bảo ATTP cơ sở giết mổ, sơ chế, chế biến và thủy sản phục vụ nội tiêu Tiến
độ chuyển đổi tiêu chuẩn thành qui chuẩn kỹ thuật chậm so với qui định Chế tài
xử lý vi phạm về ATTP còn thiếu; chưa có chế tài đủ mạnh buộc các cơ sở sảnxuất phải áp dụng và thực hiện các quy chuẩn về điều kiện đảm bảo ATTP cũngnhư chế tài để đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở không đáp ứng yêu cầu
II Hệ thống tổ chức quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủy sản
Theo phân công tại Luật An toàn thực phẩm, Bộ NN&PTNT được giao chủ
trì quản lý an toàn thực phẩm đối với sản xuất ban đầu nông lâm thủy sản và muối trong toàn bộ quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ.
1. Cấp Trung ương:
Do tính chất đa ngành, công tác quản lý chất lượng, ATTP nông lâm thủysản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện, về cơ bản đãbao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản theo 3 chuỗi ngành hàngđộng vật và sản phẩm động vật, thực vật và sản phẩm thực vật, thủy sản và sảnphẩm thủy sản Tại cấp Trung ương, công tác đảm bảo ATTP được giao cho 2Tổng Cục và 06 Cục chuyên ngành1, trong đó Cục QLCLNLS&TS thực hiện vaitrò đầu mối Các Tổng cục, Cục quản lý chuyên ngành về cơ bản đã có bộ máy tổchức quản lý và các tổ chức sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước
Nhìn chung bộ máy tổ chức quản lý chất lượng nông lâm thủy sản ở cấpTrung ương đã được hình thành để triển khai nhiệm vụ quản lý ATTP trong toàn
bộ quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển,xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các nhóm ngành hàng thực phẩm thuộcphạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT Riêng hệ thống thanh tra chuyên ngành về
1 Tổng Cục thủy sản, Tổng Cục Lâm nghiệp, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Chăn nuôi, Cục Thú y, Cục Chế biến thương mại Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối, Cục Trồng trọt; Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản.
Trang 11ATTP chưa được hình thành đủ gây khó khăn cho công tác quản lý dẫn đến hiệuquả quản lý chưa cao, chưa theo kịp được với sự phát triển của xã hội.
Hơn nữa, Luật An toàn thực phẩm (2010) đã mở rộng phạm vi và tráchnhiệm quản lý an toàn thực phẩm của Bộ NN&PTNT trên 9 nhóm ngành hàng vàtoàn bộ chuỗi sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu Để bảo vệ sức khỏenhân dân và đưa sản phẩm nông nghiệp xâm nhập thị trường thế giới, bộ máyquản lý chất lượng, an toàn thực phẩm cần được kiện toàn, tổ chức thực hiệnthống nhất, đồng bộ và có hiệu lực, hiệu quả cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất,kinh doanh và qui định mới của Luật An toàn thực phẩm, đảm bảo các cam kếthội nhập quốc tế
Năng lực quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm còn hạn chế là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong công tác này
2. Cấp tỉnh:
Hiện cả nước đã có 48 tỉnh/thành phố thành lập và đưa Chi cục Quản lýChất lượng Nông lâm sản và Thủy sản vào hoạt động với bình quân 12-15 biênchế hành chính/chi cục, các địa phương còn lại cũng đã có Phòng Quản lý chấtlượng nông lâm thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm đầumối tổ chức các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm với số lượngbiên chế 4-6 người Theo phân cấp các Chi cục Thú y, Chi cục BVTV và các đơn
vị trực thuộc (Trạm kiểm dịch động vật, Trạm Bảo vệ thực vật,…), cán bộ thú y,cán bộ BVTV tại cấp xã là những lực lượng chỉ đạo triển khai công tác quản lý antoàn thực phẩm Ở cấp Sở, ngoài Chi cục QLCL, Chi cục thú y, Chi cục bảo vệthực vật, các phòng Chăn nuôi, Trồng trọt, Chi cục Thủy sản cũng tham gia kiểmsoát chất lượng, ATTP
3. Cấp huyện :
Nhiệm vụ quản lý nhà nước về nông nghiệp và phát triển nông thôn đượcgiao cho Phòng NN&PTNT/Phòng Kinh tế Quận nhưng hầu như chưa có lựclượng cán bộ chuyên trách về đảm bảo ATTP Trạm thú y, Trạm BVTV cấphuyện phối hợp triển khai các nhiệm vụ quản lý nhưng không có cán bộ chuyêntrách về đảm bảo ATTP
4. Cấp xã :
Nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao cho UBND xã/phường Hiện cónhân viên thú y, nhân viên BVTV được giao kiêm nhiệm một số nhiệm vụ về chấtlượng vật tư nông nghiệp, ATTP, chưa có cán bộ chuyên trách về công tác ATTP
Trang 12Ở địa phương nhìn chung hệ thống tổ chức chưa đồng bộ, nhiệm vụ quản lývề ATTP do nhiều đơn vị thực hiện, tuy nhiên sự phân công nhiệm vụ giữa các cơquan, đơn vị còn nhiều nội dung chưa rõ, dẫn đến sự chồng chéo trong thực hiệnnhiệm vụ, quản lý không hiệu quả Tổ chức ở cấp huyện và cấp xã chưa đủ nănglực để triển khai nhiệm vụ Hệ thống thanh tra chuyên ngành về ATTP tại địaphương gần như chưa hình thành nên việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tracủa các địa phương còn hạn chế
Phân cấp quản lý giữa các cấp trong hệ thống còn có điểm cần làm rõ đểthuận lợi cho thực hiện; một số lĩnh vực chưa phân cấp mạnh cho địa phươnghoặc phân cấp chưa phát huy mạnh vai trò của các cơ quan chức năng địa phương
III Nguồn nhân lực
1 Cấp Trung ương
Tổng số cán bộ làm công tác về ATTP tại các cơ quan thuộc BộNN&PTNT khoảng 600 người, trong đó tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và trênđại học là 80%
Công tác đào tạo cán bộ được chú trọng do vậy hầu hết cán bộ đều nắmvững chuyên môn, nghiệp vụ, chủ động trong công việc Tuy nhiên, do số lượngcán bộ còn thiếu nên ở một số Cục chuyên ngành, nhiệm vụ quản lý chất lượng,ATTP được giao lồng ghép cho các bộ phận và cán bộ chuyên môn lĩnh vực kháctrong quá trình giao chức năng, nhiệm vụ và xây dựng kế hoạch hoạt động
Việc lồng ghép nhiệm vụ cũng có mặt thuận lợi do gắn kết được nhiệm vụquản lý chất lượng, ATTP với chỉ đạo sản xuất nông lâm thủy sản Tuy nhiên,cũng có hạn chế vì nhiệm vụ quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản chưađược xác định là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, chưa hình thành đầu mối chịu tráchnhiệm chính với nguồn lực phù hợp Hơn nữa hiện chưa có hệ thống tiêu chuẩnchức danh làm căn cứ tuyển dụng, đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Chưa có hệthống đào tạo chuyên ngành về quản lý chất lượng
2 Cấp Tỉnh:
Theo Báo cáo giám sát số 225/BC/BC-UBTVQH12 về việc thực hiện chínhsách pháp luật về quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhân lực thamgia công tác quản lý chất lượng ATTP cấp tỉnh ước khoảng 1.970 người, cấphuyện là 1.949 người và cấp xã là 11.516 người
Trang 13Lực lượng chính triển khai công tác chất lượng, ATTP là Chi cục Quản lýChất lượng Nông lâm sản và Thủy sản với bình quân 12-15 biên chế hànhchính/chi cục, các Phòng Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản thuộc Sở Nôngnghiệp và PTNT của địa phương còn lại với số lượng biên chế 4-6 người Chi cụcBVTV, Chi cục Thú y chủ yếu bố trí lực lượng tập trung vào công tác phòngchống, kiểm soát dịch bệnh, kiểm dịch và quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp,trung bình có 31,3 người/tỉnh Một số cán bộ các cơ quan địa phương đã được đàotạo kiến thức ATTP đáp ứng một phần năng lực thực thi nhiệm vụ
3 Cấp huyện:
Chưa có lực lượng cán bộ chuyên trách về đảm bảo ATTP Hiện tại, cán bộBVTV, cán bộ thú y thường được giao nhiệm vụ kiêm nhiệm về quản lý chấtlượng, ATTP, trung bình 3 người/huyện
4 Cấp xã:
Hiện không có cán bộ chuyên trách ATTP trong lĩnh vực nông nghiệp cấp
xã Nhiệm vụ này thường giao cho cán bộ khuyến nông hoặc cán bộ phụ tráchnông nghiệp kiêm nhiệm, song không được phân công theo dõi chất lượng thuốcBVTV, một số xã cán bộ thú y xã đảm nhận toàn bộ công tác có liên quan đếnchăn nuôi thú y, trung bình 1,05 người/xã
Lực lượng cán bộ chuyên trách quản lý chất lượng còn quá mỏng, ở nhiềuđơn vị chủ yếu là nhiệm vụ kiêm nhiệm chưa đảm bảo nguồn lực để thực thi cácnhiệm vụ quản lý chất lượng ATTP được giao Chưa có hệ thống tiêu chuẩn chứcdanh làm căn cứ tuyển dụng, đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Triển khai côngtác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về ATTP hiện nay chưa tập trung,công tác đào tạo cán bộ quản lý và kỹ thuật thiếu tính dài hạn và bài bản từ đó hạnchế trong việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực Chưa có hệ thống đào tạochuyên ngành về quản lý chất lượng ở các Trường Đại học, cao đẳng
IV Về cơ sở vật chất và đầu tư cho quản lý chất lượng, ATTP
1 Cấp Trung ương:
Tại Tổng Cục thủy sản và các Cục chuyên ngành thuộc Bộ NN&PTNT về
cơ bản đã được đầu tư xây dựng trụ sở làm việc (Bao gồm cả các đơn vị trựcthuộc)
Các Phòng kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước của các Cục chuyênngành đã được xây dựng và được trang bị thiết bị kiểm nghiệm, khảo nghiệm các
Trang 14chỉ tiêu về chất lượng thuốc thú y, thuốc BVTV, thức ăn chăn nuôi, và một số chỉtiêu ATTP (vi sinh vật, dư lượng thuốc thú y, dư lượng thuốc BVTV,…);
6 Trung tâm vùng thuộc Cục Quản lý CLNLTS được trang bị các phòngkiểm nghiệm khá hiện đại về vi sinh, sinh học phân tử, hóa học thông thường, hóahọc đặc biệt có đủ khả năng phân tích 90% các chỉ tiêu ATTP thủy sản, khoảng70% các chỉ tiêu ATTP đối với nông sản Các phòng kiểm nghiệm này đều đãđược công nhận hợp chuẩn ISO 17025 cấp quốc gia và quốc tế, được cơ quanthẩm quyền EU, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản công nhận
Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu quản lý ATTP hài hòa với các chuẩn mựcquốc tế, các phòng kiểm nghiệm này cần được đầu tư bổ sung về diện tích lắp đặtthiết bị, bổ sung thiết bị hiện đại kiểm nghiệm các chỉ tiêu dư lượng vi lượng vớigiới hạn phát hiện thấp Các thiết bị lạc hậu, đã hết thời gian khấu hao cần thaythế để đảm bảo chất lượng hoạt động thử nghiệm Mặt khác cần đẩy mạnh cácbiện pháp để xã hội hóa để phát huy các nguồn lực xã hội cho nhóm dịch vụ kỹthuật này
Theo Luật An toàn thực phẩm, nhà nước cần đầu tư các hệ thống kiểmnghiệm kiểm chứng về an toàn thực phẩm Hiện Ngành nông nghiệp chưa đượcđầu tư hệ thống kiểm chứng làm cơ sở giải quyết tranh chấp, nghiên cứu, đào tạochuyên sâu về các lĩnh vực kiểm nghiệm chuyên ngành
3 Cấp huyện và Cấp xã:
Ở cấp huyện và cấp xã, các cơ quan có liên quan đến quản lý chất lượnghầu như chưa được trang bị cơ sở vật chất và các thiết bị cần thiết làm công cụphục vụ kiểm soát Chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp cảm quan, chẩn đoán lâmsàng và một số test kit đơn giản
Trang 15Trên bình diện chung, cơ sở vật chất phục vụ cho quản lý chất lượng nônglâm thủy sản còn thiếu Diện tích làm việc, diện tích phòng kiểm nghiệm, trangthiết bị chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về cả danh mục thiết bị và công suất Đầu
tư cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực quản lý chấtlượng nông lâm thủy sản còn hạn chế Việc tiếp cận các công nghệ mới chưa kịpthời và đón đầu do hạn chế kinh phí đầu tư Đầu tư cho công tác đào tạo, truyềnthông, tăng cường nhận thức về đảm bảo chất lượng ATTP chưa tương xứng vớiyêu cầu
Nguồn lực đầu tư cho quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm còn phụ thuộcchủ yếu vào ngân sách nhà nước, thiếu giải pháp và chính sách phù hợp huy độngnguồn lực xã hội cho hoạt động đảm bảo chất lượng, ATTP Chưa thu hút tối đanguồn lực xã hội, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, hộinghề nghiệp và thành phần tư nhân để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xãhội trong hoạt động đảm bảo chất lượng, ATTP
Ngành NN&PTNT đã và đang nhận được những hỗ trợ rất tích cực từ cácnhà tài trợ song và đa phương trong việc phát triển năng lực kiểm soát ATTP,nhằm giúp Việt Nam tham gia hiệu quả vào các hoạt động thương mại quốc tế vàthực hiện tốt Hiệp định TBT, SPS Các chương trình, dự án tập trung nâng caonăng lực về TBT/SPS cho các cơ quan chủ chốt của Bộ và một số tỉnh Tuy nhiêngiữa các nhà tài trợ thiếu sự phối hợp, dẫn đến tình trạng chồng chéo và áp dụngcác phương thức tiếp cận khác nhau trong một số lĩnh vực như phân tích nguy cơvà xử lý sản phẩm
V Về cơ chế tài chính
1 Cấp Trung ương:
Các Tổng cục, Cục chuyên ngành thuộc Bộ NN&PTNT ngoài nguồn ngânsách hoạt động được cấp hàng năm theo định mức hiện được thu phí và lệ phítrong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý theo qui định của Bộ Tài chính và mộtsố nguồn khác theo Chương trình mục tiêu, các dự án sử dụng ngân sách và mộtsố dự án nước ngoài
Hầu hết các cơ quan đều gặp khó khăn do nguồn kinh phí hạn hẹp, khôngđảm bảo để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng nhiệm vụvà yêu cầu quản lý Cơ chế, nội dung và mức thu phí và lệ phí chưa bao quát toàndiện các nội dung, nhiều hoạt động có chi phí lớn nhưng mức thu thấp hoặc khôngthu phí cũng gây khó khăn rất lớn cho khả năng cân đối nguồn kinh phí
Trang 16Các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc Bộ áp dụng cơchế tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 đối với đơn vịquản lý nhà nước Riêng Cục BVTV, Cục Thú y và Cục QLCL NLS&TS đượccho phép vận dụng cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2010-2012 theo Nghị định43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006.
2 Cấp địa phương:
Các đơn vị đều áp dụng cơ chế tài chính theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 Trong khi đó kinh phí đầu tư cho công tác quản lý ATTP làrất thấp, chỉ có một số ít tỉnh có đầu tư từ nguồn ngân sách địa phương cho hoạtđộng này, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhànước về ATTP tại địa phương
Các qui định về phí, lệ phí chưa chú trọng các nội dung thu cho các hoạtđộng thực hiện ở cấp địa phương Hầu hết là các loại lệ phí với mức thu rất thấp,không đủ bù chi
Cấp huyện và cấp xã hầu như không có kinh phí riêng cho hoạt động quản
lý an toàn thực phẩm trong khi nhiệm vụ được phân cấp là khá lớn
Hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế áp dụng cho cơ quan hành chính
có nhiều điểm thiếu linh hoạt và hạn chế sự chủ động của các cơ quan quản lýchất lượng, an toàn thực phẩm trong tổ chức các hoạt động kiểm tra, kiểm soát cótính biến động cao theo yêu cầu của thị trường, sản xuất, các vấn đề phát sinh về