1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách tại trường dự bị đại học tp.hcm

86 338 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Tổ Chức Và Quản Lý Học Sinh, Sinh Viên Diện Chính Sách Tại Trường Dự Bị Đại Học Tp.Hcm
Tác giả Nguyễn Thanh Long
Người hướng dẫn TS. Trương Văn Sinh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Lý Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Giáo Dục Học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 880,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó kết quả đào tạo của các trường Dự Bị Đại học sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho các dân tộc ít người, cho các vùng sâu, vùng xa, vù

Trang 1

Nguyễn Thanh Long

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỌC SINH, SINH VIÊN DIỆN CHÍNH SÁCH TẠI TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC TP.HCM

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:TS TRƯƠNG VĂN SINH

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2006

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Ban giám hiệu, Hội đồng khoa học, Phòng khoa học công nghệ – sau đại học, Khoa tâm lý – giáo dục, Quý giáo sư, Giảng viên, Cán bộ, Công nhân viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Ban Giám hiệu, Cán bộ – Công nhân viên, Giảng viên Trường Dự bị đại học Thành phố Hồ Chí Minh

- Đặc biệt là Thầy hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trương Văn Sinh

- Các bạn cùng khóa

Đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý kiến, cung cấp tài liệu và tạo nhiều thuận lợi giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, Tháng 04 năm 2006

Trang 3

Trang phụ bìa

Lời cảm tạ

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Mục lục

Mở đầu 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan 5

1.1.1 Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và dự bị đại học 5

1.1.1.1 Khái niệm "giáo dục" 5

1.1.1.2 Khái niệm "đào tạo" 5

1.1.1.3 Khái niệm "bồi dưỡng" 6

1.1.1.4 Khái niệm "dự bị đại học" 6

1.1.2 Tổ chức, hoạt động, quản lý và quản lý giáo dục 6

1.1.2.1 Khái niệm "tổ chức" 6

1.1.2.2 Khái niệm “hoạt động" 7

1.1.2.3 Khái niệm "quản lý" 7

1.1.2.4 Quản lý giáo dục 8

1.2 Quan điểm của Đảng ta về phát triển giáo dục-đào tạo cho đồng bào các dân tộc thiểu số 8

1.2.1.Gắn chặt quan điểm phát triển giáo dục-đào tạo với quan điểm và chính sách dân tộc 9

1.2.2 Phát triển giáo dục dân tộc phải gắn bó chặt chẽ 10

1.2.3 Phát triển giáo dục dân tộc phải được triển khai trên nhiều bình diện, 12

1.2.4 Phát triển giáo dục dân tộc phải phù hợp với từng vùng, từng dân tộc 12

1.3 Vai trò và vị trí của Trường Dự bị đại học 13

1.3.1 Vai trò của Trường Dự bị đại học 13

1.3.1.1 Tính khách quan của sự ra đời các trường dự bị đại học 13

Trang 4

1.3.1.3.Vai trò của trường dự bị đại học 15

a) Vai trò của Trường Dự bị đại học nói chung 15

b) Vai trò của Trường Dự bị đại học Tp Hồ Chí Minh đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long 16

1.3.2 Vị trí của trường dự bị đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 18

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN QUA 22

2.1 Tổng quan về Trường Dự bị đại học TP.HCM 22

2.1.1 Quá trình thành lập trường Dự bị Đại học Tp.HCM 22

2.1.2.Chức năng và nhiệm vụ của trường Dự bị Đại học TP.HCM 22

2.1.2.1 Chức năng 22

2.1.2.2 Nhiệm vụ 23

2.1.3 Tổ chức của trường Dự bị Đại học TP.HCM 23

2.2 Hoạt động đào tạo của Trường Dự bị đại học Tp.HCM thời gian qua 24

2.2.1 Hoạt động tuyển sinh 24

2.2.2 Hoạt động đào tạo 27

2.2.2.1 Tổ chức lớp học 27

2.2.2.2 Chương trình học 27

2.2.2.3 Nội dung học tập và phương pháp cung cấp kiến thức cho sinh viên 28 2.2.2.4 Phương pháp đáng giá học sinh – sinh viên 28

2.2.3 Đánh giá 29

2.2.3.1 Một số kết quả 29

2.2.3.2 Một số tồn tại 30

2.2.3.3 Nguyên nhân của tồn tại 32

a) Nguyên nhân khách quan 32

b) Nguyên nhân chủ quan 32

2.3 Công tác quản lý đào tạo của Trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh

Trang 5

2.3.2 Xây dựng và triển khai nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo 32 2.3.3 Việc bố trí, sắp xếp cán bộ, GV quản lý và đào tạo cho HS diện chính

sách 34

2.3.4 Thiết lập quan hệ chặt chẽ giữa trường DBĐH với các địa phương và các trường THCN, CĐ, ĐH 34

2.3.5 Đánh giá về tổ chức và quản lý đào tạo 35

2.3.5.1 Một số kết quả 35

a) Về tổ chức 35

b) Tổ chức giảng dạy và học tập 35

2.3.5.2 Một số tồn tại 38

2.3.5.3 Nguyên nhân của tồn tại 39

Chương 3: ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỌC SINH, SINH VIÊN DIỆN CHÍNH SÁCH Ở TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43

3.1 Cơ sở để xây dựng giải pháp 43

3.1.1 Cơ sở lý luận 43

3.1.1.1 Tầm quan trọng của vấn đề dân tộc và đào tạo nguồn nhân lực cho các dân tộc trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 43

3.1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về dân tộc và phát triển giáo dục-đào tạo cho vùng dân tộc 44

a) Quan điểm của Đảng ta về dân tộc 44

b) Quan điểm của Đảng ta về phát triển giáo dục-đào tạo cho vùng dân tộc 44 3.1.2 Cơ sở pháp lý 48

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 49

3.2 Một số nguyên tắc và yêu cầu khi xây dựng các giải pháp 49

3.2.1 Một số nguyên tắc 49

3.2.1.1 Nguyên tắc 1 49

3.2.1.2 Nguyên tắc 2 51

3.2.1.3 Nguyên tắc 3 52

Trang 6

3.2.2.2 Có tính khả thi trong giai đoạn sắp tới 54

3.3 Một số giải pháp 54

3.3.1 Nhóm giải pháp đổi mới về tổ chức 54

3.3.1.1 Đổi mới về tổ chức bộ máy của trường DBĐH TP.HCM 54

3.3.1.2 Đổi mới tổ chức tuyển sinh 55

3.3.1.3 Đổi mới công tác tổ chức đào tạo 59

a) Đổi mới về chương trình và nội dung đào tạo 60

b) Đổi mới về bố trí đội ngũ giảng viên để giảng dạy những nội dung

đào tạo 62

3.3.1.4 Đổi mới phương thức chuyển giao học sinh hệ DBĐH cho các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học 62

3.3.2 Nhóm giải pháp đổi mới về quản lý 64

3.3.2.1 Đổi mới về phân cấp quản lý, tạo cho trường DBĐH chủ động trong công tác đào tạo 65

3.3.2.2 Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan và đơn vị hữu quan đối với công tác đào tạo học sinh hệ DBĐH 66

3.4 Một số đề xuất, kiến nghị 70

3.4.1 Hội đồng dân tộc của Quốc hội và Ủy ban dân tộc của chính phủ 70

3.4.2 Với Bộ Giáo dục và đào tạo 70

3.4.3 Với chính quyền địa phương trong vùng tuyển sinh 71

3.4.4 Với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp 71

Kết luận 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KT-XH : Kinh tế xã hội

KH-KT : Khoa học kỹ thuật

QLNN : Quản lý Nhà nước

THCN : Trung học chuyên nghiệp

THPT : Trung học phổ thông

THCS : Trung học cơ sở

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

Trang

Bảng 2.3 Kết quả vào ĐH, CĐ, THCN, từ 2001-2005 36

Bảng 2.4 Vào các trường Y Dược TP.HCM, Cần Thơ, Tây Nguyên 37

Bảng 2.6 Vào Trường Đại học Bách khoa 37

Trang 9

Trường Dự bị Đại học

Học sinh dân tộc

Bộ

Giáo dục-Đào tạo

Các trường THCN, CĐ, ĐH

cGiai đoạn tuyển sinh

( giai đoạn tiền DBĐH)

eGiai đoạn chuyển giao ( giai đoạn hậu DBĐH)

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Một trong những quan điểm của Đảng ta về các dân tộc là bình đẳng giữa các dân tộc Bình đẳng dân tộc trong quan điểm của Đảng ta được thể hiện qua 5 mặt sau: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và cơ hội phát triển

Sự ra đời một loạt trường dân tộc nội trú và các trường Dự Bị Đại Học Dân Tộc là một trong những hình thức (biện pháp) nhằm góp phần thực hiện quan điểm trên đây của Đảng

1.2 Khác với các trường Dân tộc nội trú, các trường Dự Bị Đại học có chức năng và nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao cho học sinh các dân tộc ít người, học sinh các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt khó khăn về kiến thức văn hoá phổ thông để các em có đủ điều kiện theo học các trường cao đẳng và đại học Có thể coi Trường Dự Bị Đại học như ''lò'' đào tạo tiền Cao Đẳng và Đại học cho học sinh dân tộc Do đó kết quả đào tạo của các trường Dự Bị Đại học sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho các dân tộc ít người, cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn - những vùng luôn luôn gặp khó khăn trong phát triển giáo dục và đào tạo nói chung, trong việc phát triển nguồn nhân lực nói riêng phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các địa phương

1.3 Như nhiều Trường Dự Bị Đại học trong cả nước, thời gian qua, bên cạnh nhiều thành tựu đã được ghi nhận, Trường Dự Bị Đại học Thành phố Hồ Chí Minh còn có những hạn chế, tồn tại xung quanh việc đào tạo học sinh dân tộc

Trang 11

Có nhiều nguyên nhân đưa đến những hạn chế, tồn tại ấy, trong đó có nguyên nhân về tổ chức và quản lý đào tạo Để nhanh chóng đào tạo được một đội ngũ lao động có trình độ cao cho các dân tộc, cho các vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn sắp tới, đã đến lúc cần phải đổi mới toàn diện về tư duy, về tổ chức, quản lý và công tác đào tạo,… Trên tinh thần ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài "ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HỌC SINH, SINH VIÊN DIỆN CHÍNH SÁCH TẠI TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC TP HỒ CHÍ MINH " nhằm góp phần giải

quyết vấn đề đặt ra

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, phân tích đánh giá khách quan quá trình tổ chức và quản lý đào tạo của trường Dự Bị Đại học TP.HCM thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp tổ chức và quản lý đào tạo nhằm góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc để đạt được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế xã – hội; góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong giáo dục của Đảng và Nhà nước

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: tổ chức và quản lý đào tạo tại trường Dự Bị Đại học TP Hồ Chí Minh

- Khách thể nghiên cứu: Trường Dự Bị Đại học TP Hồ Chí Minh

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức và quản lý đào tạo trong 5 năm qua và đề ra các giải pháp đổi mới tổ chức và quản lý đào tạo đến năm 2010 tại Trường Dự Bị Đại học TP.Hồ Chí Minh

5 Đóng góp của đề tài:

Trang 12

- Về lý luận: góp phần làm rõ vấn đề đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Về thực tiễn: nêu được thực trạng tổ chức và quản lý đào tạo tại Trường, từ đó đề ra được giải pháp tổ chức và quản lý đào tạo học sinh Dân tộc tại Trường Dự Bị Đại học TP.Hồ Chí Minh nói riêng các trường Dự Bị Đại học Dân tộc nói chung

6 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:

6.1 Nội dung nghiên cứu:

Như đã giới hạn trên đây, ở luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung cơ bản sau:

- Tìm hiểu các quan điểm, chính sách của Đảng về giáo dục- đào tạo nói chung cho đồng bào các dân tộc nói riêng; vai trò và vị trí của các trường Dự bị Đại học

- Chỉ rõ một cách khách quan về tổ chức và quản lý đào tạo Học sinh phổ thông ở trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và quản lý đào tạo tại Trường Dự Bị Đại học TP.Hồ Chí Minh trong thời gian tới

6.2 Phương pháp nghiên cứu:

6.2.1 Phương pháp luận: Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhìn nhận vấn đề được đặt ra trong các mối quan hệ biện chứng: việc gắn nhà trường với nhu cầu đào tạo của xã hội, phục vụ nguồn nhân lực cho địa phương, giữa giáo dục- đào tạo nói chung và giáo dục - đào tạo vùng dân tộc nói riêng

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu: để triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

Trang 13

+ Phương pháp thống kê + Phương pháp miêu tả + Phương pháp đối chiếu so sánh (đầu vào, đầu ra, kết quả tại các trường Đại học)

+ Phương pháp phỏng vấn (qua phiếu điều tra, trực tiếp)

+ Phương pháp biểu đồ

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được tổ chức thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Tổ chức và quản lý đào tạo của Trường Dự bị Đại học TP.Hồ

Chí Minh thời gian qua

Chương 3: Đổi mới tổ chức và quản lý đào tạo học sinh, sinh viên diện

chính sách tại Trường Dự Bị Đại Học TP Hồ Chí Minh

] ^

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và dự bị đại học

1.1.1.1 Khái niệm "Giáo dục"

Trong các từ điển giải thích, thuật ngữ "giáo dục" được hiểu là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội" [Văn Tân: chủ biên - từ điển tiếng Việt Nxb KHXH, Hà Nội, 1976, tr.440] Từ góc độ giáo dục học, "giáo dục" là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng trong hoạt động nghề nghiệp, là một trong những yếu tố góp phần hình thành nhân cách con người

Giáo dục là một hoạt động diễn ra liên tục trong một môi trường hoạt động của con người, mọi đơn vị tổ chức xã hội như gia đình, nhà trường, xã hội, trong đó giáo dục nhà trường đóng vai trò quyết định

Lâu nay, trong đời sống xã hội Việt Nam, "giáo dục" được hiểu theo hai nghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, "giáo dục được hiểu bao gồm giáo dục phổ thông và giáo dục sau phổ thông (giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học) Theo nghĩa hẹp, "giáo dục" được hiểu chỉ là giáo dục phổ thông

1.1.1.2 Khái niệm "đào tạo"

Cũng theo từ điển đã dẫn, "đào tạo" được hiểu đơn giản là "gây dựng, bồi dưỡng cho thành” (tr.342) Nhưng trong giáo dục học "đào tạo" là lĩnh vực

Trang 15

trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để hình thành chuyên môn cho người lao động Cách hiểu này, "đào tạo" là giáo dục sau phổ thông Như vậy, giữa "giáo dục" và "đào tạo" có mối liên hệ mật thiết với nhau, song không hoàn toàn đồng nhất với nhau Đây là hai mặt, hai khâu nối tiếp nhau của một quá trình hoạt động có mục đích chung là trang bị kiến thức (phổ thông và chuyên môn sâu), kỹ năng, kỹ thuật cho người học

1.1.1.3 Khái niệm "bồi dưỡng"

Gắn với giáo dục và đào tạo là "bồi dưỡng", thông thường "bồi dưỡng" được hiểu là "gìn giữ và tăng thêm sức khoẻ, khả năng, đạo đức" [từ điển đã dẫn, tr.107] Giáo dục học hiểu: "bồi dưỡng" là quá trình cung cấp thêm, bổ sung thêm trên cơ sở kiến thức đã có Khi hoàn tất quá trình bồi dưỡng, người học được cấp giấy chứng nhận (chứng chỉ) về phần kiến thức đã được bồi dưỡng 1.1.1.4 Khái niệm "dự bị đại học"

Khái niệm "dự bị" thông thường được hiểu theo nhiều nghĩa "1 sửa soạn sẵn, …, 3 Chưa chính thức, đang ở thời kỳ thử thách" [Văn Tân, từ điển đã dẫn, tr 323] Theo đó, "dự bị đại học" là giai đoạn chuẩn bị sẵn (qua đào tạo bồi dưỡng) những kiến thức, tri thức để người học có đủ điều kiện học đại học Nói gọn hơn, nôm na, "dự bị đại học" là "tiền đại học"

1.1.2 Tổ chức, hoạt động, quản lý và quản lý giáo dục

1.1.2.1 Khái niệm "tổ chức"

"Tổ chức" được hiểu từ hai hướng:

Từ hướng hoạt động, "tổ chức" được hiểu là một quá trình liên kết các cá thể thành một thể thống nhất hoặc sắp xếp các cá thể trong một thể thống nhất theo một kiểu, quy cách nhất định: Tổ chức lại các phòng ban, Tổ chức đại hội thi đua

Trang 16

Từ hướng kết cấu quan hệ, "tổ chức" là một cơ quan, một đơn vị xã hội trong đó các thành viên có cùng chức năng, nhiệm vụ Ví dụ: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một tổ chức của thanh niên Việt Nam Phòng tổ chức

"Tổ chức" được dùng trong luận văn này được hiểu theo cả hai hướng 1.1.2.2 Khái niệm "hoạt động"

Thông thường, "hoạt động" được hiểu là làm một việc hay tham gia vào một việc nào đấy Có hai loại hoạt động: hoạt động chân tay và hoạt động trí óc (hoạt động nhận thức)

Con người là chủ thể lao động, nhận thức và giao lưu được hình thành trong quá trình hoạt động Hoạt động làm cho con người nhận thức được hiện thực, kích thích hứng thú niềm say mê sáng tạo và làm nảy sinh những nhu cầu mới

1.1.2.3 Khái niệm "Quản lý"

Có nhiều cách hiểu khác nhau về "Quản lý" Một số nhấn mạnh mặt tổ chức và điều hành của "Quản lý" Ví dụ: Quản lý các dự án, quản lý nhà nước Một số nhấn mạnh mặt kỹ thuật của "Quản lý" Ví dụ: Quản lý mạng, quản lý Internet Dù hiểu theo hướng nào, "quản lý" là một hoạt động riêng của con người Nó vừa là một khoa học (khoa học quản lý), vừa là một nghệ thuật (nghệ thuật quản lý) Đã nói đến quản lý là nói đến hoạt động có ý thức của con người nhằm tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các sự vật, hiện tượng và con người phát triển phù hợp với quy luật khách quan và chủ định của người quản lý Trong hoạt động quản lý có mối quan hệ chặt chẽ giữa: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, nội dung quản lý, mục đích quản lý và phương pháp quản lý

Trang 17

Quản lý có nhiều loại: quản lý hành chính nhà nước (quản lý hành chính công), quản lý lãnh thổ, quản lý lĩnh vực, … Quản lý giáo dục (QLGD) là loại quản lý lĩnh vực

Phương pháp quản lý

Mục đích quản lý

Nội dung quản lý

Khách thể quản lýChủ thể quản lý

1.1.2.4 Quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là một loại quản lý lĩnh vực mà đối tượng của nó là các quá trình giáo dục và mọi người gắn với quá trình này

Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động (thông qua các chủ trương, chính sách, …) có mục đích, có kế hoạch của các cơ quan quản lý Nhà nước (QLNN) từ Trung ương đến địa phương nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục phục vụ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO CHO ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trang 18

- Quyết định số 69/CT, ngày 04-03-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay 1à Thủ tướng chính phủ) về lập chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng cao phía Bắc

- Quyết định số 611/QĐ , ngày 29-06-1985 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về việc chuyển loại trường thiếu nhi vùng cao (ở miền Bắc) và trường phổ thông nội trú (ở miền Nam) thành trường phổ thông dân tộc nội trú

- Quyết định số 1450/TCCB, ngày 25-06-1991 của Bộ trưởng bộ Giáo dục

& Đào tạo về việc thành lập ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu VII về ''Củng cố và phát triển giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng sâu, hải đảo và những vùng có nhiều khó khăn''

Chỉ thị số 68/CT-TW, ngày 18-04-199l của ban Bí thư trung ương Đảng về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của các cơ quan, tổ chức đoàn thể hữu quan

Có thể nói quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta tựu trung thành một số điểm cơ bản sau đây:

1.2.1 Gắn chặt quan điểm phát triển giáo dục - đào tạo với quan điểm và

chính sách dân tộc

Quan điểm dân tộc của Đảng và Nhà nước ta dựa trên nguyên tắc cơ bản của chính sách bình đẳng đoàn kết và tình hình đặc điểm của vấn đề dân tộc ở Việt Nam Văn kiện Đại hội VII đã nêu lên một cách cụ thể: ''Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc Các chính sách kinh tế

Trang 19

xã hội phải phù hợp với đặc thù từng vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số

Đi từ quan điểm này, trong tình hình mới khi đất nước tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì chính sách dân tộc tập trung vào phát triển tất cả các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng dân tộc ít người, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc, xoá dần sự cách biệt và chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc ít người với nhau, giữa các dân tộc ít người với dân tộc Kinh, giữa miền núi với miền xuôi Mục tiêu của chính sách dân tộc phải được quán xuyến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Hiến pháp 1992 cũng khẳng định "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số"

Trên cơ sở này, phát triển giáo dục dân tộc trước hết nhằm thực hiện quan điểm dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Phát triển giáo dục dân tộc để nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc và thông qua giáo dục phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội cho đồng bào, cho miền núi, vùng sâu, vùng xa Phát triển giáo dục còn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào các dân tộc gìn giữ và phát triển những đặc sắc của văn hoá dân tộc mình

1.2.2 Phát triển giáo dục dân tộc phải gắn bó chặt chẽ trong mối quan hệ tương tác với "Phát triển toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, trong đó trọng tâm là phát triển kinh tế - xã hội " [Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ chính trị]

Quan điểm này nói lên rằng, khi phát triển toàn diện miền núi, Đảng và Nhà nước coi việc phát triển kinh tế - xã hội là nội dung trọng tâm, là nội dung đầu tiên

Trang 20

Có phát triển kinh tế - xã hội, có "quan tâm đúng mức đến việc giải quyết vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân'' thì mới có điều kiện phát triển các lĩnh vực khác Ngược lại phát triển giáo dục - đào tạo, văn hoá, an ninh; quốc phòng, sẽ có tác dụng tích cực vừa đảm bảo vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, từ đó các dân tộc ít người xác lập được quyền bình đẳng của mình Mối tương tác này được xác định rất rõ ràng tại Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ chính trị: ''Để thực hiện trên thực tế quyền bình đẳng giữa các dân tộc, một mặt, pháp luật phải đảm bảo quyền bình đẳng đó, mặt khác, phải có chính sách và tạo điều kiện để nhân dân các dân tộc miền núi vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh tế, văn hoá, từng bước nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”

Như vậy, khi giải quyết chương trình VII - chương trình “Củng cố và phát triển giáo dục miền núi và vùng khó khăn”, đòi hỏi cả hai mặt của một vấn đề có quan hệ ràng buộc với nhau:

- Một là: Muốn củng cố và phát triển giáo dục - đào tạo phải đặt và gắn

chương trình này với một loạt chương trình kinh tế - xã hội khác (chương trình định canh định cư, giao đất giao rừng; chương trình giải quyết lương thực, phát triển chăn nuôi, chương trình chuyển hướng cây trồng ở miền núi; chương trình xoá đói giảm nghèo; chương trình đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ công tác ở vùng cao, do nhiều đơn vị hữu quan chủ trì)

- Hai là: Phải có sự phối hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ của các

ngành, các đơn vị hữu quan

Mọi chương trình kinh tế - xã hội cho miền núi, cho đồng bào dân tộc nếu không chú ý hai mặt vừa nêu thì khó lòng đạt kết quả cao

Trang 21

1.2.3 Phát triển giáo dục dân tộc phải được triển khai trên nhiều bình diện, nhiều nội dung, với nhiều khâu, song trước mắt nội dung trọng tâm là nâng cao dân trí, là dạy chữ

Quan điểm phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước ta là hướng tới cả ba mục đích: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; và nội dung, chương trình giáo dục - đào tạo phải chú trọng cả ba mặt: dạy chữ, dạy người, dạy nghề Nhưng đi từ những đặc điểm của đồng bào các dân tộc ít người, không thể cùng lúc thực hiện cả ba mục đích và cả ba mặt Chú trọng tới mục đích "nâng cao dân trí" và mặt "dạy chữ" là chú trọng tới mục đích, mặt cơ bản, có tác dụng làm cơ sở cho những mục đích và những mặt khác 1.2.4 Phát triển giáo dục dân tộc phải phù hợp với từng vùng, từng dân tộc Quan điểm thứ nhất của Nghị quyết 22/NQ-TW đã chỉ rõ điều này: ''Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện những chủ trương chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nói chung của cả nước Mặt khác, việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện những chủ trương và chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ đến đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc, trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở" Đảng và Nhà nước ta đưa ra các chủ trương riêng phát triển giáo dục cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, cho đồng bào Khmer, là đi từ quan điểm này

Trang 22

1.3 VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC

1.3.1 Vai trò của trường Dự bị Đại học

1.3.1.1 Tính khách quan của sự ra đời các trường dự bị đại học

Trong mấy chục năm qua bên cạnh các trường phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) là các trường cao đẳng, đại học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người và cung cấp lực lượng lao động cho các lĩnh vực kinh tế – xã hội (KT-XH), Đảng và Nhà nước ta còn cho mở một loạt các Trường phổ thông Dân tộc nội trú (DTNT) và các trường Dự bị Đại học (DBĐH) dành riêng cho con em các dân tộc thiểu số và diện chính sách Hiện nay ở nước ta có 5 trường DBĐH

Sự ra đời của các trường DTNT và các trường DBĐH xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách khách quan:

- Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Hiện nay nước ta có 54 dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước nói chung , trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước hiện nay nói riêng, vai trò của 53 dân tộc thiểu số hết sức to lớn Tất cả các dân tộc, không phân biệt là dân tộc đa số (dân tộc kinh) hay dân tộc thiểu số (53 dân tộc còn lại) tập hợp thành một lực lượng chính trị vô cùng quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân Vì thế, Đảng

ta đã khẳng định: "Vấn đề dân tộc là có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của Đảng" (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI) Để cho các dân tộc thiểu số có vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của Dân tộc, Đảng ta chủ trương phải tạo điều kiện cho các dân tộc thực hiện quyền bình đẳng dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và cơ hội phát triển

Đến lượt mình, để có thể bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và cơ hội phát triển thì phải tạo điều kiện cho bà con các dân tộc thiểu số phát triển nhanh chóng về trình độ dân trí, về văn hoá, khoa học, giáo dục và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số

Trang 23

Sự phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học là nhằm đáp ứng những nhu cầu vừa nêu

- Mặt khác, các dân tộc thiểu số đang cư trú, sinh sống ở các vùng

KT-XH chiến lược của đất nước Vấn đề an ninh biên giới phụ thuộc rất lớn vào vai trò, khả năng và trách nhiệm của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với công cuộc giữ gìn an ninh quốc gia Chỉ khi nào đời sống vật chất và tinh thần, nhận thức xã hội và trình độ văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật của đồng bào các dân tộc có được cải thiện thì an ninh quốc gia mới bền vững lâu dài Với ý nghĩa ấy, việc mở rộng và phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú và các trường dự

bị đại học là một trong những hình thức để nâng cao vai trò trách nhiệm và khả năng bảo vệ an ninh quốc gia của đồng bào các dân tộc thiểu số

1.3.1.2 Sựï ra đời của các trường dự bị đại học là một trong những hình thức

góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là một thành tựu to lớn của Đảng

ta trong quá trình lãnh đạo Cách mạng Việt Nam Trong khối đại đoàn kết toàn dân do Đảng ta xây dựng nên có ba lực lượng: các dân tộc, các tôn giáo và không tôn giáo, các tổ chức chính trị xã hội, trong đó các dân tộc là lực lượng quan trọng Khối đại đoàn kết toàn dân có bền vững và phát triển hay không khi các lực lượng trong khối có đoàn kết chặt chẽ với nhau hay không và phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình hay không Nhưng vai trò, trách nhiệm của các lực lượng trong khối đại đoàn kết toàn dân lại phụ thuộc rất lớn vào sự cải thiện và nâng cao về đời sống vật chất, tinh thần cũng như sự phát triển dân trí, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của các lực lượng Theo đó, việc ra đời và phát triển các trường Dự bị Đại học là một phương thức tích cực và nhanh chóng nâng cao đội ngũ cán bộ và tri thức cho các dân tộc thiểu số

Trang 24

Từ đó, ta thấy vai trò của giáo dục-đào tạo đối với việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc là quan trọng, để làm được điều này chúng ta phải chú ý đến:

- Kiện toàn, củng cố hệ thống các trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số để nâng cao năng lực hoạt động

- Đa dạng hoá mô hình đào tạo, bồi dưỡng để nhanh chóng có thể trang

bị vốn kiến thức cần thiết cho cán bộ dân tộc thiểu số

- Chú ý đầy đủ đặc điểm đối tượng khi xây dựng nội dung, chương trình đào tạo

- Tránh khép kín trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số

- Tăng cường cơ sở vật chất, điều kiện dạy và học cho các trường đào tạo con em dân tộc thiểu số

1.3.1.3 Vai trò của trường dự bị đại học

a) Vai trò của Trường Dự bị đại học

Trường Dự bị đại học có vai trò là tạo nguồn cho các trường Đại học, Cao đẳng để đào tạo cán bộ cho các dân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn khoa học kỹ thuật Đồng thời còn nhằm đào tạo lực lượng lao động có trình độ văn hoá, kỹ thuật có sức khoẻ và phẩm chất tốt để tham gia vào công việc xây dựng quê hương miền núi, vùng dân tộc

- Tuyển chọn thí sinh thuộc đối tượng ưu tiên 1 và thuộc khu vực 1 đã tốt nghiệp Trung học phổ thông, trung học bổ túc, trung học chuyên nghiệp, trung học nghề đã dự thi Đại học các khối A, B hoặc C nhưng không trúng tuyển và ngay năm thi Đại học đạt điểm vào Dự bị đại học do các trường Đại học qui định, được tuyển chọn vào học ở trường Dự bị đại học

Trang 25

- Thí sinh là người dân tộc thiểu số đủ điều kiện qui định như trên nhưng chưa được tuyển chọn vào học Dự bị đại học tại các cơ sở giáo dục-đào tạo thì được tuyển chọn vào học tại các Trường Dự bị đại học

Căn cứ vào kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trong năm Dự bị đại học, căn cứ vào nguyện vọng của học sinh và chỉ tiêu đào tạo, các Trường Dự bị đại học phân bố học sinh vào học tại các trường Đại học, Học viện, các trường cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

b) Vai trò của Trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long

Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, trong những năm vừa qua việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, nhất là yêu cầu phát triển vùng dân tộc mà đặc biệt là vùng dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long

Số cán bộ khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội có trình độ học vấn cao là người dân tộc thiểu số còn quá ít so với đòi hỏi về nhiệm vụ công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1999, số người tốt nghiệp Trung học chuyên nghiệp trong cả nước có 1.530.851 trong đó người dân tộc thiểu số có 112.181 chiếm tỉ lệ 7,32% Số người có trình độ cao đẳng trong cả nước có 555.058 trong đó dân tộc thiểu số là 25.550 chiếm tỉ lệ 4,54% Số người có trình độ Đại học trong cả nước có 1.424.910 trong đó dân tộc thiểu số là 54.226 chiếm tỉ lệ là 3,8% Trong khi đó chắc chắn là đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỉ lệ thấp nhất về trình độ Đại học, Cao đẳng so với các vùng miền khác trong cả nước

Trang 26

Thực hiện Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27-1l-1999 của Bộ chính trị và Quyết định số 72/HĐBT ngày 13-03-1990 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Thực hiện văn bản số 1160/KHTV ngày 15-06-1990 của Bộ Giáo dục và đào tạo giao thêm nhiệm vụ cho Trường từ năm học 1990-1991 ''Đào tạo học sinh Dự bị đại học Dân tộc thiểu số''

- Tổng số học sinh được tuyển vào Trường từ năm 1990-2005 là 2622 học sinh

- Tổng số học sinh được chuyển vào các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp là 2403 Trong đó Đại học: 2024, Cao đẳng: 159, Trung học chuyên nghiệp : 220

- Trong đó số học sinh thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long được chuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp là 1654 chiếm tỉ lệ 68,83%

Xem phụ lục số 2, 3, 4

Điều đó nói lên rằng:

- Nhà trường đã tạo được nguồn tuyển học sinh dân tộc vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tăng nhanh về số lượng ở các tỉnh phía Nam (từ Ninh Thuận, Lâm Đồng trở vào) đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, đạt yêu cầu về chất lượng

- Góp phần tích cực làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số thấy rõ chính sách của Đảng và Nhà nước ưu ái đối với con em của họ, củng cố lòng tin của đồng bào dân tộc đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 27

- Bước đầu tạo nguồn nhân lực được đào tạo có hệ thống qua các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trở về địa phương phục vụ cho công cuộc phát triển nông thôn, vùng dân tộc, vùng sâu, miền núi

Trong văn bản số 141BC/HĐDT của Hội đồng Dân tộc Quốc hội khoá XI ngày 12 tháng 05 năm 2003 đã có đánh giá về đào tạo học sinh dân tộc của Trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh như sau:

“Trong những năm qua, nhà Trường đã làm tốt công tác đào tạo học sinh dân tộc thiểu số Việc tuyển sinh được thực hiện dân chủ, công khai, từng bước nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào Học sinh được tuyển vào trường đúng đối tượng, có chú ý tới các địa phương có ít dân tộc thiểu số hoặc dân tộc rất ít người Việc tổ chức giảng dạy, học tập, thi và xét tuyển vào đại học, cao đẳng được đặc biệt chú trọng và thực hiện theo qui trình khép kín thích hợp và công khai, đảm bảo công bằng Chất lượng dạy và học ngày được nâng lên, tỉ lệ học sinh giỏi hàng năm từ 20%-30%, khá và trung bình khoảng 60% Nhiều học sinh khi được phân luồng vào các Trường Đại học, Cao đẳng trở thành học sinh khá, giỏi và được các trường đánh giá cao (tỉ lệ sinh viên có kết quả học tập đạt từ trung bình trở lên ở Đại học Cần Thơ là 76%; Đại học Y Dược 91%, Đại học Sư phạm TP.HCM 92% )

1.3.2 Vị trí của trường Dự bị Đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, giáo dục ở miền núi, ở các vùng dân tộc ít người vẫn có những cố gắng vươn lên và đạt những thành tựu to lớn góp phần đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ đông đảo cán bộ người dân tộc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc

Ngày 19-06-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã thông báo về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Trang 28

Nghị quyết Trung ương 4 đã làm cho xã hội và các ngành các cấp nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục, nhờ đó mà có được nhiều sự quan tâm mạnh mẽ hơn trước Qui mô giáo dục phát triển cùng với tỉ lệ học sinh bỏ học giảm đi đáng kể ở các bậc học và dấu hiệu chấm dứt sự suy thoái và chuyển sang trạng thái phát triển mới

Cơ cấu mới của hệ thống giáo dục quốc dân được thể chế hoá trong Nghị định 90/CP của Chính phủ, trong đó các Trường phổ thông dân tộc nội trú được củng cố và phát triển nhanh (các trường phổ thông dân tộc nội trú được thống nhất tên gọi từ Quyết định 661/QĐ ngày 29/06/1985 của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Những nhân tố này đòi hỏi phải đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục Cuộc vận động xã hội hoá giáo dục đang được thực hiện rộng rãi và mạnh mẽ ở khắp các địa phương với những hình thức đa dạng thích hợp

Việc đầu tư có trọng điểm theo các ''chương trình - mục tiêu'' là cách giải quyết tối ưu mâu thuẫn giữa nhu cầu cao và khả năng ngân sách có hạn theo hướng sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước

Từ khi có Nghị quyết 22/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 27/11/1989 cũng như Quyết định 72-HĐBT của Chính phủ ngày 13-03-1990 đã thừa nhận tính ưu việt của loại trường này ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc, đã nhắc nhở ''mở rộng và củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú '' Bộ giáo dục và đào tạo đã thành lập ban chủ nhiệm chương trình VII là chương trình ''củng cố và phát triển giáo dục miền núi, vùng ít người, vùng sâu, hải đảo và những nơi có nhiều khó khăn '' Ban chủ nhiệm đã nêu mục tiêu, nhiệm vụ, các biện pháp để thực hiện Biện pháp số 1 được nêu là ''củng cố và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cụm xã ''

Trang 29

Từ năm 1990 Trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh được giao thêm nhiệm vụ là đào tạo học sinh dân tộc thiểu số từ các tỉnh từ Lâm Đồng, Ninh Thuận trở vào với trình độ là tốt nghiệp phổ thông trung học, thi rớt Đại học và có điểm sàn theo qui định của Trường Dự bị Đại học Học sinh học 1 năm nếu đạt yêu cầu sẽ chuyển vào các Trường Đại học, Cao đẳng khu vực phía Nam theo chỉ tiêu hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Sau đó, hệ thống các Trường Dự bị đại học được đưa vào luật Giáo dục ở mục 3 điều 56

Mục 3: Các loại trường chuyên biệt

Điều 56: Trường phổ thông dân tộc nội trú, Trường phổ thông dân tộc bán trú, Trường Dự bị Đại học

1 Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, Trường Dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần đào tạo cán bộ cho các vùng này

2 Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường Dự bị đại học được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách

Trang 30

TIỂU KẾT

Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng trong những năm qua Trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh đã đào tạo được một số lượng học sinh dân tộc thiểu số cho các vùng dân tộc mà đặc biệt là các vùng dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ dân tộc thiểu số vẫn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là yêu cầu phát triển vùng dân tộc và miền núi

Thực trạng vùng dân tộc thiểu số đang là khu vực phát triển thấp về mọi mặt so với các vùng khác trong cả nước Điều này đã gây khó khăn cho việc tiếp nhận và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đưa các kiến thức khoa học-kỹ thuật phục vụ cho cuộc sống và sản xuất Đội ngũ trí thức dân tộc thiểu số cả về số lượng và chất lượng cũng chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nước

Như vậy, các Ngành các cấp cần đầu tư nhiều hơn nữa cho các Trường Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú và Dự bị Đại học không những chỉ là cơ sở vật chất mà còn đầu tư trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập Ngoài ra, các Trường Dự bị Đại học cần phải đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách để tạo nguồn đưa vào các Trường Đại học, Cao đẳng số học sinh có chất lượng hơn hầu góp phần tăng cường số học sinh dân tộc khá giỏi tại các Trường Đại học, Cao đẳng nhằm tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cho các vùng dân tộc thiểu số đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long

Trang 31

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN QUA

2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC TP HCM

2.1.1 Quá trình thành lập trường Dự bị Đại học TP.HCM

Sau khi đất nước thống nhất, thực hiện các quan điểm và chủ trương của Đảng đối với các dân tộc thiểu số, Hội đồng chính phủ quyết định thành lập một số trường Dự bị Đại học Trường dự bị đại học thành phố Hồ Chí Minh là một trong số ấy

Ngày 06 tháng 12 năm 1976, Hội đồng chính phủ có quyết định số 240/CP chuyển Viện Đại học Cộng Đồng Tiền Giang (được thành lập từ trước 30/4/1975) thành trường Dự bị Đại học Tiền Giang, sau đổi tên thành trường Dự

bị Đại học TP Hồ Chí Minh, đặt cơ sở tại số 91 Nguyễn Chí Thanh, Quận 5, TP HCM Như vậy đến nay, trường Dự bị Đại học TP.HCM có lịch sử 30 năm hoạt động và phát triển

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của trường Dự bị Đại học TP.Hồ Chí Minh

- Bồi dưỡng ngoại ngữ cho học sinh được cử tuyển du học nước ngoài

- Bồi dưỡng kiến thức cho học sinh diện chính sách được cử tuyển vào các trường Cao đẳng và Đại học

Trang 32

Từ năm học 1990 – 1991 trở đi, thực hiện Nghị quyết số 22/NQ – TW ngày 27/11/1989 của Bộ chính trị và quyết định số 72/HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về một số chủ trương chính sách lớn phát triển KT-XH miền núi, ngày 15/6/1990 Bộ Giáo dục–Đào tạo có văn bản số 1160/KHTV giao thêm cho trường nhiệm vụ "Đào tạo học sinh dự bị đại học dân tộc thiểu số" Như vậy, hiện nay trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh có hai chức năng chủ yếu:

- Tạo nguồn đào tạo cán bộ, tri thức các dân tộc thiểu số cho các trường THCN, CĐ, ĐH, trước hết đội ngũ giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo và quản lý, đội ngũ cán bộ chuyên môn KHKT

- Đào tạo hệ dự bị đại học cho các đối tượng thuộc diện chính sách (con

em thương binh, liệt sĩ, …)

2.1.2.2 Nhiệm vụ:

Hiện nay, trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh có hai nhiệm vụ:

Một là: Tổ chức dạy hệ dự bị đại học cho các đối tượng chính sách ưu tiên trong tuyển sinh, tạo điều kiện cho những đối tượng đạt được một trình độ nhất định để họ có thể đáp ứng yêu cầu khi được tuyển vào các trường Cao đẳng, Đại học

Hai là: Dạy ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nga) cho số sinh viên được Nhà nước tuyển chọn du học nước ngoài

2.1.3 Tổ chức của trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh

1 Nhân sự của trường: Đến năm học 2005-2006, trường Dự bị Đại học

Tp Hồ Chí Minh có 60 người, trong đó giáo viên có 42 người (18 nữ)

Trình độ Đại học:

Trong đó có: + 2 Tiến sĩ

+ số còn lại là cử nhân

Trang 33

2 Tổ chức bộ máy của trường: Hiện nay trường có 4 phòng, 2 trung tâm,

1 ký túc xá, 6 bộ môn (xem phụ lục 1)

3 Mối quan hệ giữa các phòng, bộ môn trong hoạt động quản lý và đào tạo Mối quan hệ tương đối tốt, làm cho các hoạt động quản lý và đào tạo được tổ chức khá chu đáo và nhịp nhàng, đi đúng hướng và đạt được kết quả tương đối khả quan

2.2 HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG DỰ BỊ ĐẠI HỌC TP HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN QUA

2.2.1 Hoạt động tuyển sinh:

Trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh các năm qua đã kết hợp với các địa phương, các Sở giáo dục và đào tạo, Ban dân tộc, các Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú và các phương tiện thông tin đại chúng thông báo rộng rãi đến học sinh biết chủ trương, đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn được tuyển vào học hệ Dự bị đại học sao cho tuyển được học sinh có điểm thi Đại học từ cao xuống đến hết chỉ tiêu, tránh trường hợp những học sinh khá hơn không được tuyển

Từ năm 1999-2004, trường Dự bị Đại học TP Hồ Chí Minh tuyển sinh theo Quyết định số 37/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/9/1999 của Bộ Giáo dục và đào tạo về việc ban hành qui chế "Tuyển chọn, tổ chức đào tạo và xét tuyển vào hệ Đại học, Cao đẳng đối với học sinh Dự bị đại học" Và từ năm 2005 trường tuyển sinh theo Quyết định số 09/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/3/2005 về việc ban hành qui chế "Tuyển chọn, tổ chức đào tạo học sinh hệ Dự bị đại học và xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp đối với học sinh Dự bị đại học"

Từ 1990 đến nay trường đã tuyển được 16 khóa với tổng số học sinh nhập học là 2622 học sinh, và số học sinh được chuyển vào các trường được phân bố như sau:

Trang 34

• Bảng 2.1: Phân bố theo địa phương

4 Kiên Giang 248 14 Bà rịa-Vũng tàu 25

“Nguồn: Trường Dự bị Đại học Tp.HCM”

• Bảng 2.2: Phân bố theo dân tộc

STT Dân tộc Số lượng STT Dân tộc Số lượng

13 Rắc lây (Raglai) 8 Tổng cộng 2403

“Nguồn: Trường Dự bị Đại học Tp.HCM”

Trang 35

Đối tượng tuyển sinh của Trường là học sinh dân tộc thiểu số thuộc diện ưu tiên 1 và thuộc khu vực 1; vùng tuyển từ Ninh Thuận, Lâm Đồng đến Cà Mau có chú ý đến các địa phương có ít dân tộc thiểu số hoặc dân tộc rất ít người

- Về nhận thức: Ban giám hiệu, Cán bộ, Giáo viên, Công nhân viên của trường nhận thức một cách sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của việc đào tạo sinh viên dự bị đại học trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo học sinh dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Từ đó, Ban giám hiệu, Cán bộ, Giáo viên, Công nhân viên của trường nâng cao vai trò trách nhiệm của mình đối với công tác đào tạo được giao Trường đã tổ chức cử các cán bộ, giáo viên đến các vùng sâu, vùng

xa để tìm hiểu hoàn cảnh sống và điều kiện học tập của học sinh dân tộc để từ đó có được những phương thức và phương pháp quản lý, giảng dạy sao cho tốt hơn, sát hợp với học sinh dân tộc

Ngoài việc giúp cho các em nhận thức đầy đủ về chủ trương, chính sách

ưu tiên của Đảng, Nhà nước, xác định nhiệm vụ của năm học dự bị, trường đã: một là củng cố kiến thức phổ thông, tiếp cận một phần kiến thức gắn với năm thứ nhất ở Đại học; hai là tạo bước chuyển về phương pháp học tập, giúp cho các em phương pháp học chủ động bằng cách đọc sách, học tổ nhóm và quan trọng hơn là tự học có thầy, cô trực tiếp hướng dẫn, kèm cặp

Bên cạnh việc tìm hiểu kỹ về những đặc điểm tâm lý, cá tính, trình độ nhận thức và hoàn cảnh của các em để tìm ra phương pháp giảng dạy thích hợp, tạo mọi điều kiện cho các em học tập tốt hơn Trường còn bồi dưỡng, nâng cao kiến thức (trên cơ sở kiến thức phổ thông Trung học) để các em nhanh chóng tiếp cận được phần kiến thức đại cương ở năm thứ nhất Đại học

Trường tổ chức thi kiểm tra và đánh giá theo đúng qui định một cách nghiêm túc; điểm thi thể hiện đúng học lực của học sinh, điểm kiểm tra và thi đều được công bố công khai cho mọi học sinh dân tộc biết để đảm bảo công bằng khi xét chuyển vào Đại học, Cao đẳng

Trang 36

2.2.2 Hoạt động đào tạo

2.2.2.1 Tổ chức lớp học:

Mỗi lớp biên chế từ 30 đến 45 học sinh tuỳ theo khối (A, B, C) Mỗi lớp đều có giáo viên chủ nhiệm Phân đều trình độ các em vào các lớp cùng khối 2.2.2.2 Chương trình học:

- Thực hiện quyết định số 37/1999-QĐ-BGD&ĐT ngày 30/9/1999 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành qui chế “Tuyển chọn, tổ chức đào tạo và xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng đối với học sinh Dự bị đại học” thì chương trình học được thực hiện theo từng khối:

• Khối A: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Anh văn, Tiếng Việt, Tin học, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất (thi học kỳ cho các môn: Toán, Lý, Hoá)

• Khối B: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Anh văn, Tiếng Việt, Tin học, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất (thi học kỳ cho các môn: Toán, Hoá, Sinh)

• Khối C: Toán, Văn, Sử, Địa, Anh văn, Tiếng Việt, Tin học, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất (thi học kỳ cho các môn: Văn, Sử, Địa)

- Thực hiện Quyết định số 09/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 29/3/2005 về việc ban hành qui chế "Tuyển chọn, tổ chức đào tạo học sinh hệ Dự bị đại học và xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp đối với học sinh Dự bị đại học" thì chương trình được thực hiện như sau:

* Các môn học chính khoá của các khối như sau:

- Khối A: Toán, Lý, Hoá, Tiếng Việt, Tin học

- Khối B: Toán, Hoá, Sinh, Tiếng Việt, Tin học

- Khối C: Văn - Tiếng Việt, Sử, Địa, Tin học

* Các môn học ngoại khoá của 3 khối: Anh văn, Giáo dục công dân, Giáo dục thể chất

Trang 37

2.2.2.3 Nội dung học tập và phương pháp cung cấp kiến thức cho sinh viên:

- Nội dung học tập: dạy theo đúng chương trình của Bộ giáo dục & đào tạo ban hành sau khi có sự thống nhất giữa các trường Dự bị đại học

- Phương pháp cung cấp kiến thức cho sinh viên chủ yếu dựa trên phương pháp giảng dạy truyền thống kết hợp với ngoại khoá (băng hình, thực tế) Riêng trong năm 2004-2005, nhà trường tạo điều kiện để các giáo viên ở các bôï môn bước đầu thực hiện giáo án điện tử

2.2.2.4 Phương pháp đánh giá học sinh - sinh viên

Mỗi môn học chính khoá trong mỗi học kỳ có 2 lần kiểm tra viết, thời lượng làm bài cho mỗi môn là 60 phút Học sinh chưa đủ số lần kiểm tra của mỗi môn học, được phép kiểm tra bổ sung

Cuối mỗi học kỳ tổ chức thi viết một lần cho các môn sau đây: môn thi khối A là Toán, Lý, Hoá; khối B 1à Toán, Hoá, Sinh; khối C là Văn, Sử, Địa Thời gian làm bài cho mỗi môn là 120 phút Học sinh chưa thi đủ 3 môn được phép thi bổ sung

Điểm bài kiểm tra tính hệ số 1, bài thi tính theo hệ số 2

Việc ra đề thi, đề kiểm tra, coi thi và tổ chức chấm bài thi, bài kiểm tra

do Hiệu trưởng qui định

Căn cứ vào kết quả học tập sau khi kết thúc năm học Dự bị đại học và căn cứ qui chế hiện hành đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, những học sinh có đủ các điều kiện sau đây được xét tuyển vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp:

- Được xét tuyển vào Đại học:

+ Xếp loại hạnh kiểm cả năm đạt khá trở lên

Trang 38

+ Điểm tổng kết cuối năm của các môn chính khoá đạt từ 5,0 trở lên

- Được xét tuyển vào Cao đẳng:

+ Xếp loại hạnh kiểm cả năm đạt khá trở lên

+ Điểm tổng kết cuối năm của các môn chính khoá đạt từ 4,0 trở lên

- Được xét tuyển vào Trung học chuyên nghiệp:

+ Xếp loại hạnh kiểm cả năm đạt khá trở lên

+ Điểm tổng kết cuối năm của các môn chính khoá đạt từ 3,0 trở lên 2.2.3 Đánh giá

2.2.3.l Một số kết quả

a) Từ năm 1990 đến nay, trường đã tuyển được 16 khóa dự bị đại học học sinh dân tộc thiểu số với 2622 học sinh So với nhiều trường Cao đẳng, Đại học thì số lượng học sinh được tuyển như vậy quả là khiêm tốn, thậm chí là quá ít Tuy nhiên xuất phát từ chức năng của trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh mà Bộ Giáo dục-Đào tạo đã giao và thực trạng học tập của học sinh dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, ở Tây Nguyên và một số tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ thì đào tạo được hơn 2000 học sinh dân tộc thiểu số đã góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có trình độ Cao đẳng, Đại học như vậy là không nhỏ

b) Trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh đã triển khai đầy đủ và có kết quả những nhiệm vụ được giao đối với việc đào tạo học sinh dân tộc hệ dự bị Từ khâu tuyển sinh đến khâu tổ chức đào tạo, từ khâu bố trí nội dung chương trình đến phương pháp đào tạo,… trường một mặt vừa tuân thủ quy chế chung

do Bộ Giáo dục-Đào tạo đưa ra vừa có những vận dụng thích hợp vào tình hình cụ thể của đơn vị Ví dụ: dựa trên cơ sở thông tin của các địa phương và kết quả khảo sát của trường tại các vùng (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông

Trang 39

Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ), trường đã sắp xếp các lớp theo khối A,

B, C và theo từng vùng, đồng thời cử giáo viên kèm cặp học sinh theo từng vùng

Qua một năm được đào tạo tại trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh, học sinh dân tộc củng cố được kiến thức phổ thông, tiếp cận được một phần kiến thức ít nhiều gần gũi, quan hệ với nội dung, chương trình năm thứ nhất ở Cao đẳng, Đại học Đồng thời, học sinh dân tộc bước đầu làm quan với phương pháp học tập ở Cao đẳng, Đại học Về phương diện này, học sinh dân tộc khi bước vào trường Cao đẳng, Đại học sẽ ít bỡ ngỡ, lúng túng Vì thế, trong 4-5 năm theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học, phần lớn học sinh dân tộc theo học không quá khó khăn Trường đã đánh giá chính xác, khách quan năng lực học tập của học sinh dân tộc

2.2.3.2 Một số tồn tại:

Theo chúng tôi, hoạt động đào tạo của trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh thời gian qua, có hai tồn tại chủ yếu:

a) Trường còn khá lúng túng và bị động trong quá trình triển khai hoạt động đào tạo

Mặc dù hàng năm, chỉ tiêu tuyển sinh Bộ Giáo dục-Đào tạo giao cho trường tăng dần (2004: 400 học sinh, 2005: 500 học sinh, 2006: 540 học sinh), nhưng điều đó không có nghĩa là Bộ cho phép trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh chủ động tuyển sinh Từ đầu vào (tuyển sinh) đến nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động đào tạo, trường luôn luôn phụ thuộc vào Bộ Hầu như trường thiếu hẳn những thông tin, đầu vào về đối tượng mà mình đào tạo: không nắm được hoàn cảnh gia đình, năng lực học tập của học sinh dân tộc Đối với các trường Cao đẳng, Đại học khác, nhu cầu nắm bắt đối tượng học tập (học sinh,

Trang 40

sinh viên) có thể không cần, hoặc nếu cần cũng không lớn và không bức thiết Nhưng đối với trường Dự bị Đại học việc nắm chắc đầu vào về đối tượng học tập (học sinh) là cực kỳ cần thiết Do không nắm được đầu vào nên nhiều giáo viên của trường vừa phải lên lớp giảng dạy theo nội dung, chương trình do Bộ Giáo dục-Đào tạo đưa ra vừa phải tìm hiểu năng lực học tập, hoàn cảnh của học sinh và theo đó vừa điều chỉnh nội dung, chương trình vừa phải tìm kiếm phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với học sinh dân tộc Đúng là “vừa chạy vừa xếp hàng”

Do bị động đầu vào (chỉ tiêu tuyển sinh, năng lực học tập của học sinh dân tộc,…), nên trường không khỏi lúng túng khi xếp lớp, xếp khối cho học sinh và bố trí giáo viên dạy Cùng là học sinh dân tộc, song thực tế cho thấy học sinh dân tộc Tày, Mường, Thái, Khơme, Chăm nhận thức nhanh hơn học sinh các dân tộc khác Vì thế sắp xếp lớp sao cho học sinh các dân tộc Tày, Mường, Thái, Khơme, Chăm có thể phát huy được khả năng của mình, còn học sinh các dân tộc khác có thể theo kịp chương trình học tập quả là không dễ dàng

b) Chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế Chất lượng đào tạo của các trường Cao đẳng, Đại học ở nước ta nhìn chung là thấp Đối với các trường Dự bị Đại học, chất lượng đào tạo càng đáng quan ngại hơn bởi:

- Đối tượng học tập (học sinh dân tộc) còn nhiều hạn chế về năng lực học tập

- Thời gian đào tạo quá ngắn (chỉ 10 tháng)

- Cái gọi là dự bị đại học còn chưa xác định rõ về chức năng: đào tạo hay bồi dưỡng hay ôn tập và luyện thi đại học?

Mặc dù, số học sinh dân tộc trong 16 khóa đã qua đào tạo ở trường Dự bị Đại học Tp Hồ Chí Minh vào các trường Cao đẳng, Đại học, Trung học chuyên nghiệp có tỷ lệ rất cao: 2403HS/2622 (tức bằng 91,6%) Song điều đó không có

Ngày đăng: 18/02/2014, 15:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Vào các Trường Y Dược Tp.HCM, Cần Thơ, Tây Nguyên - đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách tại trường dự bị đại học tp.hcm
Bảng 2.4 Vào các Trường Y Dược Tp.HCM, Cần Thơ, Tây Nguyên (Trang 45)
Bảng 2.3: Kết quả vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp - đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách tại trường dự bị đại học tp.hcm
Bảng 2.3 Kết quả vào Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp (Trang 45)
Bảng 2.5: Vào các Trường Sư Phạm - đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách tại trường dự bị đại học tp.hcm
Bảng 2.5 Vào các Trường Sư Phạm (Trang 46)
Bảng 2.6:  Vào Trường Đại học Bách khoa. - đổi mới tổ chức và quản lý học sinh, sinh viên diện chính sách tại trường dự bị đại học tp.hcm
Bảng 2.6 Vào Trường Đại học Bách khoa (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w