Vấn đề này xảy ra khi các loạirác thải nhựa thải ra trong quá trình sinh hoạt, sản xuất không được xử lý đúng cách.Chúng tồn đọng trong môi trường và gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm khôn l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÀI TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI NHỰA
TẠI VIỆT NAM
TP Hồ Chí Minh, 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÀI TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI NHỰA
TẠI VIỆT NAM
TP Hồ Chí Minh, 2022
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 3
2.1 Rác thải nhựa là gì? 3
2.2 Nguồn gốc của rác thải nhựa 3
2.3 Thực trạng phát sinh rác thải nhựa trên thế giới 4
2.4 Thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam 7
2.4.1 Sản xuất và tiêu thụ nhựa tại Việt Nam 7
2.4.2 Thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam 8
2.4.3 Thực trạng xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam 10
CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM 12
3.1 Thời gian để rác thải nhựa có thể phân hủy 12
3.2 Tác hại của rác thải nhựa đối với sinh vật biển 13
3.3 Tác hại của rác thải nhựa đối với con người 16
3.4 Tác hại của rác thải nhựa đối với môi trường 19
3.5 Tác hại của rác thải nhựa đối với nền kinh tế 22
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM 25
4.1 Khó khăn trong công tác quản lý rác thải nhựa tại Việt Nam 25
4.1.1 Về cơ chế, chính sách 25
4.1.2 Về mô hình quản lý 26
4.1.3 Về cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương 26
4.1.4 Về nguồn vốn đầu tư và kinh phí thực hiện 27
4.1.5 Về công nghệ xử lý 27
4.1.6 Về dự báo, cập nhật dữ liệu, truyền thông và giáo dục cộng đồng 28
4.2 Giải pháp hạn chế phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam 28
4.2.1 Thúc đẩy hoàn thiện các nghị định và thông tư chính hướng dẫn Luật BVMT 28
4.2.2 Tăng hiệu quả thu gom và phân loại chất thải nhựa 30
4.2.3 Cải thiện khả năng tiếp cận tài chính cho các dự án tái chế 31
Trang 44.2.6 Cải thiện sự minh bạch về dữ liệu trên thị trường nhựa 32
4.2.7 Tăng khả năng tái chế cơ học và hóa học và không khuyến khích thải bỏ nhựa 32
4.2.8 Thiết lập yêu cầu cụ thể theo ngành để giúp tăng tỷ lệ thu gom và tái chế chất thải nhựa 33
4.2.9 Nâng cao công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương 33
CHƯƠNG 5: CÁC CHƯƠNG TRÌNH VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA NHẰM HẠN CHẾ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM 35
5.1 Chương trình Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa (NPAP) 35
5.2 Dự án Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương tại Việt Nam 35
5.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ 36
5.2.2 Tác động của dự án 37
5.3 Dự án giảm ô nhiễm rác thải nhựa với các giải pháp địa phương (LSPP) 38
5.4 Chương trình tái chế rác thải đô thị nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm chất thải nhựa 41
Trang 5WHO : Tổ chức y tế Thế Giới
EPA : Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
UNEP : Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
WWF : Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên
CFR : Tỷ lệ thu gom tái chế
TNMT : Tài nguyên môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
EHS : Môi trường - Sức khỏe - An toàn
NPAP : Chương trình Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa
LSPP : Dự án giảm ô nhiễm rác thải nhựa với các giải pháp địa phươngWEF : Diễn đàn Kinh tế Thế giới
GPAP : Chương trình Hợp tác Hành động Toàn cầu về Nhựa
PHA : Đối tác hành động về Nhựa và sức khỏe
Trang 6Bảng 3.1………12Bảng 5.1………42
Trang 7Hình 2.1……… 3
Hình 2.2……… 4
Hình 2.3……… 5
Hình 2.4……… 7
Hình 3.1……… 14
Hình 3.2……….15
Hình 3.3……….18
Hình 3.4……….20
Hình 3.5……….21
Hình 4.1……….30
Trang 8Biểu đồ2.1……… 6
2.2……… 9
3.1……….23
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Thời gian qua, trên các chương trình thời sự, báo đài… luôn nhắc đến vấnđề: “Ô nhiễm trắng” Vậy “Ô nhiễm trắng là gì?” hiện đang là câu hỏi mà rất nhiềungười quan tâm Đây là cụm từ được các nhà khoa học dùng để chỉ về ô nhiễm gây
ra bởi túi nilon hay nói rộng hơn là chất thải nhựa Vấn đề này xảy ra khi các loạirác thải nhựa thải ra trong quá trình sinh hoạt, sản xuất không được xử lý đúng cách.Chúng tồn đọng trong môi trường và gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm khôn lường.Tuy nhiên, các sản phẩm làm từ nhựa đã và đang trở thành một phần thiếtyếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân Nhựa được sử dụng để làm bao bì,túi, ly, quần áo, đồ chơi, đồ gia dụng, các sản phẩm công nghiệp, thậm chí vật liệuxây dựng Việc sản xuất và tiêu thụ nhựa gia tăng trong khi tỷ lệ tái chế thấp dẫnđến tăng lượng rác thải nhựa rò rỉ ra môi trường bên ngoài và đây đang là vấn đề vôcùng nhức nhối của toàn cầu, hầu hết ai cũng biết rằng chúng mang đến nhiều nguyhiểm cho nhân loại thế nhưng để hiểu rõ tác hại của rác thải nhựa không phải aicũng nắm được Nó không những tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗiquốc gia, đến hoạt động hàng hải, đánh bắt hải sản, du lịch, môi trường sống… màcòn ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của con người
Theo báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy mỗi năm lượng nhựa thải ra môitrường đủ để bao quanh trái đất bốn lần, trong đó có 13 triệu tấn chất thải nhựađược đổ ra đại dương Mỗi phút sẽ có một triệu túi nhựa được tiêu thụ, nhưng mớichỉ có 27% trong số đó được xử lý và tái chế Theo số lượng thống kê, mỗi hộ giađình Việt Nam thường thải ra hơn một túi ni-lông mỗi ngày Như vậy sẽ có hàngtriệu túi ni-lông được sử dụng và thải ra môi trường Đây chính là gánh năng chomôi trường, thậm chí còn dẫn đến thảm họa cho các thế hệ tương lai của chúng ta Bạn hãy tự tưởng tượng xem, nếu một ngày trên thế giới tràn ngập rác thảinhựa và túi nilon khó phân hủy, các loài sinh vật biển, vi sinh vật có lợi dưới đất
Trang 11không còn tồn tại, nguồn đất, nguồn nước bị ô nhiễm, các loài cây cối cũng chết dần
vì các mảnh đất khô cằn chứa toàn rác thải Liệu cuộc sống của chúng ta khi đó sẽnhư thế nào?
Việc lạm dụng sử dụng sản phẩm nhựa, nhất là túi ni-lông khó phân huỷ, sảnphẩm nhựa dùng một lần đã để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường,vấn đề ô nhiễm nhựa thật sự đáng báo động, đã, đang và sẽ gây thiệt hại to lớn chomôi trường sinh thái ở nước ta Vì vậy, nhằm làm rõ hơn thực trạng về rác thảinhựa, nghiên cứu các giải pháp trong việc thu gom, xử lý rác thải nhựa hiện nay tại
Việt Nam, nhóm chúng tôi chọn đề tài tiểu luận là: “Ảnh hưởng của rác thải nhựa
tại Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về rác thải nhựa, nguồn gốc của rác thải nhựa
- Tìm hiểu thực trạng rác thải nhựa trên thế giới và tại Việt Nam
- Tìm hiểu về ảnh hưởng của rác thải nhựa tại Việt Nam
- Tìm hiểu về công tác quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam
- Đưa ra một số giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa tại Việt Nam
1.3 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: rác thải nhựa
- Phạm vi nghiên cứu: đánh giá, phân tích hiện trạng, chính sách và thực tiễn quản lý chất thải nhựa hiện nay tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
2.1 Rác thải nhựa là gì?
Rác thải nhựa là tổng hợp toàn bộ vật dụng làm bằng nhựa (mà chủ yếu lànhựa PE) được thải ra môi trường Đặc tính của rác thải nhựa là chúng không thểphân hủy được trong nhiều môi trường và tồn tại trong thời gian rất dài
Hình 2.1 – Rác thải nhựa
2.2 Nguồn gốc của rác thải nhựa
Tại Việt Nam, các loại rác thải nhựa chủ yếu là túi ni-lông, vỏ chai nhựa bẩn,các sản phẩm nhựa sử dụng một lần, sản phẩm nhựa khó thu hồi, khó tái chế… phátsinh từ các nguồn sau:
- Chất thải sinh hoạt của dân cư, khách vãng lai, du lịch: các túi nilon, chainhựa, ống hút nhựa, thùng nhựa, hộp đựng thức ăn bằng nhựa…
Trang 13- Chất thải nhựa từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, khu vuichơi giải trí, khu văn hoá, …
- Chất thải nhựa sinh hoạt từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, …
- Chất thải nhựa từ các hoạt động sản xuất, nông nghiệp, thi công trong cácnhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp: 40% nhựa được sản xuất dùng để đóng gói,bao bì đựng các thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt gia đình, các sản phẩm công nghiệp
Về nông nghiệp thì chất thải nhựa có thể phát sinh từ quá trình trồng trọt như lông che phủ đất và để bọc hoa quả, bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật - tồn tại
ni-ở dạng chai nhựa, túi nhựa tráng kẽm khó phân hủy và được xếp vào danh mục chấtthải nguy hại
- Chất thải nhựa từ sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cảitạo và nâng cấp, …: nhựa được sử dụng rất nhiều làm khung cửa, cửa nhựa, cổng,dàn giáo, bàn ghế, tủ, vải nhựa che phủ các công trình
- Chất thải nhựa từ khu vực y tế, bệnh viện: kim tiêm, gang tay, chai, lọthuốc
Hình 2.2 - Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải nhựa
Rác thải nhựa
Khu dân
cư, khách
du lịch
Nhà hàng, khách sạn
Trang 142.3 Thực trạng phát sinh rác thải nhựa trên thế giới
Minh chứng rõ ràng nhất về thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa toàn cầu đangđược thể hiện qua những con số thống kê sau:
Về lượng tiêu thụ các đồ dùng nhựa: theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) cho biết mỗi phút cả thế giới tiêu thụ 1 triệu chai nhựa, mỗi năm có 5.000 tỷtúi nilon được sử dụng… Chưa kể đến các loại sản phẩm làm từ nhựa khác như: đồdùng, bàn, ghế, tã, đồ chơi…
Về lượng rác thải đổ ra môi trường: Đến nay thế giới đã sản xuất ra 8,3 tỉ tấnnhựa, trong đó có 6,3 tỷ tấn là rác thải nhựa Trung bình mỗi năm thế giới thải ramôi trường khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó có khoảng 8 triệu tấn bị thải
ra biển Tổ chức Bảo vệ môi trường biển Ocean Conservancy còn dự báo là tới năm
2025, cứ 3 tấn cá sẽ có 1 tấn rác thải nhựa
Về tốc độ tăng trưởng: trong 50 năm qua lượng nhựa được sử dụng tăng 20lần, dự báo có thể gấp đôi trong 20 năm nữa Chúng ta hãy cũng xem qua vài số liệuthống kê khác về lượng nhựa được tiêu thụ và thải ra của một số nước như Mỹ,Anh, New Zealand qua hình sau:
Trang 15Hình 2.3 - Tình trạng rác thải nhựa của một số nước trên thế giới
Những con số khổng lồ này chắc hẳn sẽ khiến chúng ta phải giật mình Chỉ
vì thói quen và sự tiện dụng của đồ nhựa mà mỗi người sử dụng hằng ngày lại đã vàđang góp phần gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường sống của chính chúng
ta Đồ dùng nhựa càng được ưa chuộng thì thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa hiệnnay sẽ không thể dừng lại Đặc biệt là khi mà rác thải nhựa là loại rác thải khó phânhủy, vì thế chúng đang là sức ép không hề nhỏ đối với việc xử lý rác của các quốcgia trên thế giới
Hiện chưa có thống kê nào về tổng số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải
ra môi trường Tuy nhiên một báo cáo cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) đãthống kế được số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải ra biển như sau:
Biểu đồ 2.1 – Top 12 quốc gia xả rác thải nhựa ra biển nhiều nhất trên thế giới
Cụ thể, Trung Quốc và Indonesia lần lượt là 2 quốc gia xả nhiều rác thảinhựa ra biển nhất hiện nay với 8,8 triệu tấn và 3,2 triệu tấn mỗi năm Việt Nam hiệnđứng thứ 4 sau Philippines với 1,8 triệu tấn rác thải nhựa
Trang 16Nhiều khu vực biển khác trên khắp thế giới cũng đang phải đương đầu vớitình trạng ô nhiễm rác thải không kém phần nghiêm trọng Chẳng hạn như chínhquyền tại Hawaii (nơi nghỉ mát ưa thích của người dân Mỹ) đã phải đưa ra nhữnglời cảnh báo, khi phát hiện nhiều hòn đảo nổi lớn gồm toàn những rác thải bằng chấtdẻo đang tiến sát bờ biển của mình từ phía Tây Bắc, với diện tích lên tới 1.6 triệukm2, được các nhà khoa học đặt tên là “Bãi rác Khổng lồ của Thái Bình Dương”.
Hình 2.4 – Rác thải nhựa trên bãi biển Mỹ
Chúng ta đã thấy rõ nhưng con số về lượng tiêu thụ, sử dụng đồ nhựa và cảlượng rác thải nhựa thải ra môi trường nhiều tới mức nào Thế mà hiệu quả công tác
xử lý lượng rác thải đó lại vô cùng khiêm tốn Theo thống kê từ các tổ chức nhưWHO và EPA cho thấy trong số 6,3 tỉ tấn là rác thải nhựa đang tồn tại trong môitrường thì chỉ có: 9% rác thải nhựa được tái chế, 12% rác thải nhựa được đốt và79% còn lại tồn tại trong môi trường tự nhiên, bao gồm cả môi trường biển Dự báonăm 2050 sẽ có hơn 13 tỷ tấn rác thải nhựa được chôn lấp hoặc xả thẳng ra đạidương
Số liệu trên đang cho thấy việc xử lý, tái chế rác thải nhựa chưa mang lạihiệu quả cao Chính thực trạng này đã khiến việc ô nhiễm rác thải nhựa trở nên báođộng trên toàn cầu
Trang 172.4 Thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam
2.4.1 Sản xuất và tiêu thụ nhựa tại Việt Nam
Năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa; nguyênliệu chủ yếu là nhập khẩu (khoảng 80%), trong đó bao gồm phế liệu nhựa nhậpkhẩu Đến năm 2017, ngành nhựa Việt Nam đã tiêu thụ khoảng 5,9 triệu tấn nguyênliệu nhựa nguyên sinh
Hiện cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp nhựa, trong đó 450 doanhnghiệp sản xuất bao bì, tạo ra lượng lớn chất thải nhựa hàng ngày bao gồm cả túi ni-lông khó phân hủy Với số lượng doanh nghiệp và chủng loại sản phẩm đa dạng, sảnlượng nhựa Việt Nam năm 2008 đạt 2,3 triệu tấn, tốc tộ tăng trưởng trung bình15%/năm Trong năm 2018, sản lượng sản xuất ngành nhựa tăng 7%, đạt 8,3 triệutấn, trong đó sản xuất nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị củangành, đạt khoảng 36%; nhựa vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và các loại dành chocác ngành công nghiệp khác như điện tử, điện, giao thông vận tải lần lượt chiếmkhoảng 16%, 36% và 12% tương ứng
Việc tiêu thụ, sử dụng nhựa bình quân trên đầu người tại Việt Nam tăngnhanh từ 1990-2018 là 3,8 - 41,3 kg/người; điều này phù hợp với thành phần nhựatrong chất thải rắn sinh hoạt của Việt Nam tăng từ 5,5% trong năm 2009 lên 13,9%trong năm 2017
Một thống kê cho thấy, trung bình mỗi gia đình Việt Nam hàng ngày sử dụngkhoảng 10 túi ni-lông các loại, bình quân mỗi hộ sử dụng khoảng 1kg túi ni-lông/tháng Tại các đô thị của Việt Nam, tổng khối lượng các túi nhựa sử dụng là10,48-52,4 tấn/ngày; chỉ khoảng 17% số túi này được tái sử dụng
Số lượng bao bì nhựa và túi ni-lông sử dụng ngày càng gia tăng trở thànhgánh nặng cho môi trường, đe doạ nghiêm trọng đến môi trường đất, nước, khôngkhí và đại dương, thậm chí dẫn tới thảm họa ô nhiễm trắng
Trang 182.4.2 Thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam
Như trong phần phân tích về thực trạng rác thải nhựa trên thế giới ở trên,chúng ta biết rằng Việt Nam hiện nằm trong 4 quốc gia có lượng phế phẩm nhựathải ra môi trường nhiều nhất thế giới
Lượng rác thải nhựa gia tăng nhanh chóng, năm 2014 khoảng 1,8 triệutấn/năm, năm 2016 khoảng 2,0 triệu triệu/năm và hiện nay khoảng 3,27 triệutấn/năm được tạo ra tại Việt Nam Lượng chất thải nhựa và túi ni-lông của cả nướcchiếm khoảng 10-12% chất thải rắn sinh hoạt Riêng hai thành phố lớn là TP HàNội và TP HCM, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa vànilon
Xét riêng trong lĩnh vực y tế, quá trình khám, chữa bệnh và sinh hoạt hàngngày như các hoạt động sinh hoạt của nhân viên y tế, người bệnh và người nhàngười bệnh, người sử dụng dịch vụ y tế từ các hoạt động chuyên môn như bao bì,dụng cụ bao gói, chứa, đựng thuốc, hóa chất, trang thiết bị, vật tư, vật liệu, đồ dùngtrong y tế hoặc các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh thuốc, nguyên liệulàm thuốc, hóa chất… cũng làm phát sinh rác thải nhựa ra ngoài môi trường Theothống kê chưa đầy đủ của Bộ y tế, có khoảng 5% rác thải y tế là rác thải nhựa Mỗingày, có khoảng 22 tấn chất thải nhựa được thải ra từ các hoạt động y tế Trong số
đó lẫn với rác thải nguy hại (thuốc, hóa chất …) Thu gom, tái chế và chôn lấp loạirác thải nhựa này đều ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường.Cùng với sự tăng lên của rác thải nhựa từ trong nước, lượng phế liệu nhựa từcác quốc gia trên thế giới đổ vào Việt Nam cũng đang ở mức đáng báo động Chúng
ta có thể thấy rõ lượng phế liệu nhựa được nhập khẩu vào Việt Nam đang tăng dầnqua các năm qua biểu đồ bên dưới
Trang 19Biểu đồ 2.2 – Tình trạng phế liệu nhựa được nhập khẩu vào Việt NamTình trạng này xảy ra là do nguyên liệu trong nước hiện nay vẫn không đủcung cấp cho ngành nhựa Việt Nam nên hằng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩumột số lượng lớn phế liệu nhựa để trộn với nhựa nguyên sinh nhằm giảm giá thànhsản phẩm Tuy nhiên, quy định hiện hành về vấn đề nhập khẩu phế liệu nhựa vàoViệt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Theo văn bản luật, những loại phế liệu chophép nhập khẩu được quy định rất thuần chất Nhưng trên thực tế không có loại phếthải nhựa nào được phân ra chi tiết như vậy vì hầu hết đều bị nhiễm bẩn trong quátrình sử dụng Lợi dụng lỗ hổng này, một số nước đã tìm cách đưa một số lượng lớnphế liệu nhựa kém chất lượng vào Việt Nam.
2.4.3 Thực trạng xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam
Mặc dù hiện nay nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa của người dân còn caonhưng khả năng phân loại, thu hồi, tái chế và xử lý rác thải nhựa ở Việt Nam vẫn rấthạn chế, chỉ khoảng 27% nhựa phế thải được tái chế đúng cách và hiệu quả Mộtphần là do lĩnh vực xử lý và tái chế nhựa ở Việt Nam chưa phát triển, nên đa số rácthải được chôn lấp, đốt hoặc thải thẳng ra môi trường Đơn cử ở thành phố Hồ Chí
Trang 20Minh, trong 250.000 tấn rác thải nhựa thì có 48.000 tấn được đem đi chôn lấp, hơn200.000 tấn được tái chế hoặc thải thẳng ra môi trường
Việc phân loại, thu gom chất thải nhựa và túi ni-lông có thể tái chế thườngmang tính chất tự phát ở quy mô hộ gia đình, người thu gom rác và nhặt phế liệu tựdo; chất thải nhựa không có giá trị hoặc có giá trị tái chế thấp (ví dụ như hộp xốpcác loại, ống hút nhựa và đặc biệt là túi ni-lông mỏng) bị thải ra môi trường hoặcđưa vào bãi rác, lò đốt Rác thải nhựa được chôn lấp chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ chất thảibao bì, túi ni-lông trung bình tại bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt chiếm 6-8% Tại các bãi rác ở một số đô thị lớn (Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh và BắcNinh), tỷ lệ rác thải nhựa dao động từ 12% đến 16%, đứng thứ 2 sau rác thải hữu
cơ Chỉ riêng đối với chất thải nhựa và túi ni-lông từ hoạt động công nghiệp hầu hếtđều được các cơ sở sản xuất phân loại, thu hồi để quay vòng sản xuất hoặc được báncho các đơn vị khác để tái chế
Qua việc phân tích thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam, chúng ta nhận rarằng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do chất thải nhựa tại Việt Nam có xu hướnggia tăng Chất thải nhựa nếu không kiểm soát tốt sẽ đe dọa cuộc sống của các loàiđộng thực vật thủy sinh, động vật biển, làm ô nhiễm môi trường, tác động lớn đếnphát triển kinh tế - xã hội như du lịch, giao thông vận tải, nông nghiệp Vì vậy,Việt Nam cần đưa ra các giải pháp hiệu quả để quản lý tốt hơn loại chất thải này
Trang 21CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT
NAM
3.1 Thời gian để rác thải nhựa có thể phân hủy
Với tình hình rác thải nhựa đáng lo ngại như vậy, việc quan tâm đến thờigian phân hủy của nhựa là điều cần thiết để biết cách điều chỉnh việc sử dụng Mỗisản phẩm làm từ nhựa sẽ có khoảng thời gian để phân hủy khác nhau bởi còn tùythuộc vào cấu trúc cũng như các loại nguyên liệu làm nên mỗi sản phẩm đó Một sốsản phẩm làm từ nhựa phổ biến trong cuộc sống hàng ngày cùng thời gian phân hủyđược thể hiện qua bảng sau:
Sản phẩm nhựa từ nguyên liệu
dầu mỏ truyền thống
Thời gian phân hủy
Các sản phẩm thay thế
Thời gian phân hủy
Túi nilon hay bao nhựa mỏng loại
thường
10 – 100 năm
Túi sinh học phân hủy hoàn toàn 6 – 12 thángTúi nhựa dày và dai 500 – 1000 năm Túi sinh học phân hủy hoàn toàn 6 – 12 tháng
Các loại chai nhựa 450 – 1000 năm – –
Các chai chất tẩy rửa 500 – 1000 năm – –
Trang 22Ống hút làm từ nhựa 100 – 500 năm Ống hút sinh học phân hủy hoàn toàn 6 – 12 thángThìa, dĩa làm từ nhựa 100 –
500 năm
Thìa, dĩa sinh học phânhủy hoàn toàn 6 – 12 thángCốc sữa chua từ nhựa 100 – 1500 năm – –
Bàn chải đánh răng 100 – 500
Cốc/ly làm từ xốp 50 – 500 năm – –
Dây cước câu cá 600 năm – –
Nắp chai nhựa 100 – 500 năm – –
Vòng nhựa cố định ở cổ chai 90 năm – –
Tã lót, băng vệ sinh 250 – 500 năm –
Bảng 3.1 – Thời gian phân hủy của một số sản phẩm nhựa
Qua thông tin từ bảng trên, chúng ta biết được thời gian phân hủy của rácthải nhựa thật sự là rất lâu, có thể lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn năm Như vậy
có thể khẳng định rằng nhựa là loại rác thải để lại hậu quả lâu dài nhất, vì chúng rấtkhó phân hủy nhưng lại dễ sản xuất Loại rác thải này có tuổi thọ cao hơn chúng tarất nhiều, thậm chí gấp 10 lần chúng ta Một ví dụ điển hình là chai nhựa đựng nướcbạn uống hằng ngày chẳng hạn, chúng có thể tồn tại lên đến 10 thế kỷ Và khichúng bị phân rã không có nghĩa là đã bị loại trừ hoàn toàn, chỉ là từ một mảnh lớnbây giờ chúng tách thành những mảnh nhỏ xíu và tiếp tục phá hủy môi trường từngchút một Những tác hại mà chúng mang lại, gây ra ảnh hưởng cho sức khỏe, môitrường, nền kinh tế là rất nhiều và khó mà có thể đong đếm được
3.2 Tác hại của rác thải nhựa đối với sinh vật biển
Kể từ khi được sản xuất thương mại đầu tiên vào những năm 1950, sản lượngnhựa toàn cầu đã tăng theo cấp số nhân và đạt 359 triệu tấn vào năm 2018 Việc sảnxuất và tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm từ nhựa, cùng với công tác quản lý rácthải chưa thật sự hiệu quả đã gây ra thực trạng ô nhiễm rác nhựa đáng báo động trêncác đại dương hiện nay
Trang 23Rác thải nhựa xâm nhập vào đại dương từ các nguồn trên biển và trên đấtliền Ước tính 80% rác thải nhựa đổ ra đại dương có nguồn gốc từ đất liền và giảđịnh 20% còn lại có nguồn gốc từ các hoạt động hàng hải như đánh bắt hải sản, giảitrí, du lịch trên biển và vận chuyển Đáng chú ý, phải mất đến hàng trăm đến hàngnghìn năm mới có thể phân hủy được nhựa và các thành phần vi nhựa.
Vi nhựa đã được tìm thấy trong nước mặt và trầm tích đáy ở các đại dương,sông, hồ, hồ chứa Vi nhựa có thể là những hạt nhỏ được sử dụng trong các sảnphẩm chăm sóc cá nhân như sữa rửa mặt, kem đánh răng hoặc được dùng làmnguyên liệu đầu vào trong ngành công nghiệp nhựa Vi nhựa cũng có thể được tạothành từ sự chia nhỏ của các mảnh nhựa lớn hơn do chịu tác dụng của các tác nhânphong hóa như bức xạ cực tím hay quá trình mài mòn cơ học và các tác dụng sinhhọc Ngoài ra, vi nhựa cũng có thể là những sợi được tạo ra từ việc mặc và mài mòncác loại vải sợi tổng hợp Do đó, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, đặc biệt lànước thải chưa qua xử lý được xem là một nguồn thải vi nhựa ra môi trường nước.Qua đó có thể thấy rằng rác thải nhựa đã và đang tác động xấu đến các loạisinh vật khác trên trái đất, trong đó ảnh hưởng nghiêm trọng nhất phải kể đến là cácloại sinh vật biển là điều không thể tránh khỏi Bởi khi rác thải đổ ra đất, biển sẽphá hủy hoặc suy giảm đa dạng sinh học, chúng sẽ làm chết các loại sinh vật biểnnếu như chúng không may mắc hoặc ăn phải Theo báo cáo của Chương trình Môitrường Liên hợp quốc (UNEP) ước tính đã có khoảng hơn 100 triệu động vật biển
đã chết bởi vì rác thải nhựa Trong đó, hơn 260 loài sinh vật biển đã bị vướng hoặc
ăn phải rác thải nhựa, trong đó có cả cá voi
Trang 24Hình 3.1 – Cá voi chết vì ăn phải nhựa
Ở Việt Nam có 112 cửa biển, đây chính là nguồn để rác trôi ra đại dương.Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, rác thải nhựa chiếm khoảng từ50% đến 80% lượng rác thải biển Nhiều sinh vật nhầm tưởng rác thải là thức ănhoặc mắc kẹt giữa các ngư cụ dẫn đến việc sinh cảnh bị phá hủy Theo thống kê của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm môi trường biển trong những năm gần đây
đã làm cho nhiều loài sinh vật biển giảm mạnh về số lượng, có loài đã tuyệt chủngcục bộ Có đến 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở cấp độ khác nhau, trong đó,
có hơn 70 loài sinh vật biển đã bị liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam Nguồn lợi hải sản
bị khai thác ngày càng cạn kiệt cả số lượng và chất lượng Các nguồn cá dự trữ bịsuy giảm từ 4 triệu tấn vào năm 1990 xuống còn 3 triệu tấn như hiện nay Kíchthước trung bình của cá và tính đa dạng loài cũng giảm đáng kể Điều đau lòngtrong các hệ quả của ô nhiễm, phải kể đến sự biến mất của quần thể các loại rùatrong nước Việt Nam có năm trong số bảy loài rùa của thế giới Đó là vích, đồi mồi,quản đồng, rùa da, đồi mồi dứa, hiện cả 5 loài đều được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.Nhiều loài đã gần như tuyệt chủng Trước đây rùa biển được phân bố hầu hết trên
Trang 25các vùng biển của nước ta với mật độ cao Hiện nay cả năm loài rùa biển của ViệtNam đều suy giảm đáng kể về số lượng Trong suốt thời gian từ năm 2008 đến
2013, chỉ ghi nhận được một cá thể rùa da lên đẻ trên bãi Cát Dài tại huyện CamLâm (tỉnh Khánh Hòa) và Hải Lăng (Quảng Trị) vào năm 2013 Tại các địa phươngkhác đã từng có rùa da lên đẻ như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… hoàn toànkhông còn dấu vết của rùa da lên bờ làm tổ đẻ trứng
Hình 3.2 – Rùa bị mắc kẹt trong lưới nhựa và bao ni-lông
Sự có mặt của một lượng lớn vi nhựa trong các hệ sinh thái thủy sinh có tácđộng tiêu cực đến sức khỏe sinh vật thủy sinh Động vật phù du hoặc động vật ở cácbậc dinh dưỡng thấp có thể ăn vi nhựa do kích thước của các hạt vi nhựa nhỏ, sẽ đểlại những hậu quả chưa xác định được đối với sức khỏe của sinh vật Ví dụ, việc ănphải các hạt polystyrene (~ 100 nm) của nhóm sinh vật nhuyễn thể hai mảnh vỏtăng
lên đáng kể khi chúng được tìm thấy ở các vùng có keo tụ vi nhựa trong nước biển
tự nhiên Sự hình thành các mảng keo tụ là một quá trình quan trọng để truyền nănglượng giữa môi trường sống của sinh vật nổi và sinh vật đáy, khi chúng chìm trêncác lớp trầm tích Các sinh vật sống trong trầm tích, ví dụ như giun đũa, có khảnăng xáo trộn sinh học Do đó, vi nhựa đã lắng đọng trong lớp trầm tích đáy có thể
bị xáo trộn trong các lớp trầm tích, từ đó chúng có thể tiêu thụ bởi hệ động vật.Các loài động vật thủy sinh như tôm, cá, nghêu, vẹm, và hàu có thể lầmtưởng vi nhựa với thức ăn của chúng và vô tình ăn phải Trên thực tế, vi nhựa đã
Trang 26được tìm thấy trong các cơ quan khác nhau của các loài sinh vật, trong đó cơ quantiêu hóa và mang là nơi tích lũy phần lớn các vi nhựa Sự tích lũy vi nhựa trong cơthể sinh vật có thể gây ra các nguy cơ đối với sức khỏe sinh vật như làm giảm việctiêu thụ thức ăn, tăng áp lực ôxi hóa và gây thương tổn cơ quan tiêu hóa Hơn nữa,sinh vật còn bị nhiễm độc bởi các chất phụ gia được thêm vào trong quá trình sảnxuất nhựa hoặc các chất độc hại khác hấp thụ trên bề mặt của vi nhựa trong suốtthời gian chúng tồn tại và phát tán trong môi trường, bao gồm chất ô nhiễm hữu cơkhó phân hủy và kim loại nặng Điều này có thể dẫn đến việc lan truyền và tích lũy
vi nhựa cũng như các chất ô nhiễm khác từ các sinh vật bậc thấp đến các sinh vậtbậc cao và thậm chí là trong cơ thể con người thông qua chuỗi thức ăn
3.3 Tác hại của rác thải nhựa đối với con người
Tác hại của việc sử dụng rác thải nhựa là rất lớn đối với cuộc sống của chúng
ta Bởi, đa phần chúng chỉ được xử lý theo kiểu chôn lấp hoặc bị bỏ và thải ra môitrường, thậm chí đốt sẽ để lại vô vàn nguy hại cho cuộc sống nhân loại
Qua phần phân tích về hậu quả mà rác thải nhựa đã tác động đến các sinh vậtbiển ở Việt Nam cũng đã phản ánh phần nào sự ảnh hưởng của rác thải nhựa đối vớisức khỏe con người
Tại Việt Nam, nghiên cứu về ô nhiễm vi nhựa trong sinh vật thủy sinh đãđược thực hiện ở loài vẹm xanh châu Á ở vùng nước lợ tỉnh Thanh Hóa và các loài
cá, tôm tự nhiên trên sông Lòng Tàu - hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai Mật độ vinhựa ở vẹm xanh châu Á là 0,29 (± 0,14) vi nhựa trên 1 gam trọng lượng ướt của
mô mềm và 2,60 (± 1,14) vi nhựa trên mỗi cá thể Trong đó, loại vi nhựa chủ yếu làPolypropylene (PP) có thể có nguồn gốc từ các sản phẩm nhựa dung một lần nhưbao bì và Polyester có nguồn gốc từ vải sợi tổng hợp Ở các loài tôm và cá tự nhiênnhư: tôm đất, tôm bạc, cá lưỡi trâu, cá lù đù, cá phèn, cá kèo, cá cơm và cá bốngcát, vi nhựa có trong tất cả các loài và vi nhựa dạng sợi chiếm đa số Cụ thể hơn,mật độ sợi vi nhựa trung bình trong cá, tôm nằm trong khoảng từ 0,33 đến 1,41 sợitrên một gam trọng lượng ướt của sinh vật, với mật độ thấp nhất và cao nhất là ở cá