1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại công ty cổ phần chăn nuôi ánh dương, huyện hòa an, tỉnh cao bằng

77 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài (9)
      • 1.2.1. Mục đích (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
  • Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (10)
      • 2.1.1. Cơ cấu tổ chức của trang trại (10)
      • 2.1.2. Cơ sở vật chất của trang trại (10)
      • 2.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại (13)
      • 2.1.4. Thuận lợi và khó khăn của trang trại (15)
    • 2.2. Cơ sở khoa học của đề tài (16)
      • 2.2.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái (16)
      • 2.2.2. Đối với lợn con (24)
      • 2.2.3. Những hiểu biết về công tác phòng trị, bệnh cho lợn (33)
    • 2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (43)
      • 2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (43)
      • 2.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài (43)
  • Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH (72)
    • 3.1. Đối tượng (0)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (0)
    • 3.3. Nội dung tiến hành (0)
    • 3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện (45)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (45)
      • 3.4.2. Phương pháp thực hiện (46)
      • 3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (46)
  • Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (0)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ánh Dương từ năm 2019 đến tháng 11/2020 (47)
    • 4.2. Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con của trang trại (48)
      • 4.2.1. Số lượng lợn được phân công chăm sóc và nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập (48)
      • 4.2.3. Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi con tại trang trại trong thời gian thực tập (61)
      • 4.2.4. Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu của lợn con (0)
    • 4.3. Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn tại trang trại Ánh Dương (63)
      • 4.3.1. Thực hiện quy trình vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại (63)
      • 4.3.2. Thực hiện quy trình phòng bệnh bằng vắc-xin cho đàn lợn tại trang trại:58 4.3.3. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái và lợn con tại trang trại Ánh Dương (65)
    • 4.4 Kết quả thực hiện một số công tác khác tại trang trại (0)
  • Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (0)
    • 5.1. Kết luận (72)
    • 5.2. Đề nghị (73)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)
  • PHỤ LỤC (76)

Nội dung

BÙI THỊ LỆ Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI ÁNH DƯƠNG, HUYỆN

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trang trại chăn nuôi Ánh Dương được khởi công xây dựng năm 2017 Trang trại có tổng diện tích 7 ha, nằm trên địa bàn thôn Khuổi Quân, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Phía đông giáp xã Nguyễn Huệ, phía tây giáp xã Đại Tiến, phía nam giáp thành phố Cao Bằng và xã Quang Trung, phía bắc giáp huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh Trang trại Ánh Dương cách thành phố Cao Bằng 16km, cách cửa khẩu Trà Lĩnh 60km, cách quốc lộ 3 khoảng 6km, địa hình bao quanh là núi, rừng và suối

Cơ cấu tổ chức trang trại gồm 3 nhóm:

+ Nhóm quản lý bao gồm ông Mạc Văn Dũng, trưởng trại phụ trách công việc chung

+ Nhóm kỹ thuật bao gồm 3 kỹ sư chăn nuôi, 2 kỹ thuật điện, 1 kế toán + Nhóm công nhân bao gồm 10 công nhân sản xuất, 1 bảo vệ, 1 đầu bếp,

3 sinh viên thực tập cùng thực hiện các công việc chuyên môn

Với đội ngũ nhân công như trên, trang trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ cai sữa, tổ chuồng thịt bên trong khu sản xuất và tổ phụ trách các công việc khác ở bên ngoài

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt đời sống của công nhân, trang trại được chia làm 3 khu riêng biệt, mỗi khu đều trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm:

Khu nhà bảo vệ, phòng tắm sát trùng, nhà phun sát trùng xe Khu này được trang bị máy phun áp lực để phun khử trùng xe trước khi ra vào trại, có phòng tắm sát trùng và tủ UV khử khuẩn, sau khi sát trùng ở khu này xong mới được phép di chuyển vào bên trong trang trại

Tiếp theo là khu sinh hoạt chung bao gồm văn phòng, phòng họp, các nhà ở cho quản lý, kỹ sư, công nhân, bếp ăn tập thể, nhà ăn ca, nhà vệ sinh chung, các công trình phục vụ sinh hoạt cho công nhân và những hoạt động khác của trang trại

Trong cùng là khu chăn nuôi có vị trí tách biệt hoàn toàn với bên ngoài, chỉ công nhân tham gia sản xuất mới được phép vào khu vực này Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi, trang trại có xây dựng 2 phòng tắm sát trùng cho kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 nhà ăn và nghỉ trưa, 1 kho thuốc, 1 kho chứa dụng cụ, 1 kho chứa thức ăn có chiếu đèn UV, 1 phòng vệ sinh Trước khi đi vào chuồng nuôi hàng ngày đều phải thực hiện phun sát trùng và tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo bảo hộ và đi ủng dành riêng cho khu chăn nuôi Tất cả mọi khu vực trong trang trại đều có hệ thống camera giám sát Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với phương hướng chăn nuôi công nghiệp hiện đại, hệ thống chuồng nuôi chia thành từng ô riêng, có nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước uống tự động và máng ăn Chuồng nuôi được thiết kế xây dựng để đảm bảo an toàn sinh học ở mức cao nhất, bao gồm:

+ Chuồng bầu 1 và 2: Mỗi chuồng gồm 164 ô chuồng chia làm 02 dãy, mỗi dãy có 82 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo tuần phối giống và các kỳ mang thai khác nhau thuận tiện cho việc quản lý và theo dõi

+ Chuồng bầu 3: Bao gồm 138 ô chia làm 02 dãy chuồng, trong đó có 05 ô đực và 1 ô khai thác tinh ở đầu chuồng, 05 ô thử lên giống, và 128 ô dành cho lợn nái chờ phối giống Cuối dãy chuồng, gần quạt hút gió có khu vực tách riêng những lợn nái bị bệnh để điều trị

- Ba chuồng nái đẻ: Mỗi chuồng có 48 ô chia làm 2 dãy, mỗi dãy có 46 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ, cuối mỗi dãy có 1 ô sàn nhựa dành cho lợn con cai sữa sớm

- Một chuồng cai sữa: chuồng chia làm 3 dãy, mỗi dãy 10 ô, 9 ô lớn và 1 ô nhỏ để cách ly những lợn con bị bệnh

- Tám chuồng thịt: 2 chuồng kép, mỗi chuồng 2 dãy, mỗi dãy 8 ô chuồng, 7 ô lớn và 1 ô nhỏ; 6 chuồng đơn, mỗi chuồng 1 dãy, mỗi dãy 7 ô lớn

1 ô nhỏ Các ô nhỏ ở cuối dãy chuồng dùng để cách ly lợn bị bệnh

Trong hệ thống nuôi lợn, chuồng cách ly gồm một dãy 3 ô chuồng dùng để nuôi lợn hậu bị nhập từ trại giống trong thời gian cách ly trước khi đưa vào chuồng chính Chuồng cách ly được đặt ở khu vực riêng biệt và có đội ngũ công nhân riêng chăm sóc, vận hành chuồng, nhằm đảm bảo an toàn sinh học và quản lý hiệu quả đàn lợn hậu bị.

- Khu nhà chứa phân và vận hành máy ép phân, bể biogas và các ao xử lý nước thải

Hệ thống chuồng nuôi được xây dựng khép kín hoàn toàn: phía đầu chuồng là giàn mát và cuối chuồng có hệ thống các quạt hút gió Giữa chuồng có lắp đặt thiết bị cảm biến nhiệt độ, độ ẩm và khí CO2 để theo dõi từng chuồng, từ đó thông qua hệ thống biến tần tự động điều chỉnh tốc độ quạt gió sao cho phù hợp với sự chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài chuồng nuôi Mỗi chuồng đều có đèn và còi báo động khi quạt gió ngừng hoặc khi mất điện Có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, lồng úm và thảm lót, ván lót cho lợn con, riêng chuồng đẻ và chuồng bầu có thêm các lò sưởi chạy bằng khí biogas đảm bảo cho chuồng nuôi thoáng mát về mùa Hè và ấm áp về mùa Đông Thông qua hệ thống cảm biến, điều chỉnh biến tần, kỹ sư và công nhân phụ trách chuồng có thể duy trì tốt tiểu khí hậu trong chuồng sao cho phù hợp với sự phát triển của từng lứa tuổi lợn

Mỗi chuồng được lắp đặt các vòi nước, van nước phục vụ vệ sinh và chăn nuôi, có hệ thống van xả gầm, rãnh thoát phân và nước thải Nước dùng cho chăn nuôi được lấy từ suối đầu nguồn, đưa vào các bể chứa nước ở vị trí cao hơn khu vực chuồng nuôi, qua hệ thống lọc, xử lý clorin và có áp lực đủ mạnh để dẫn nước trực tiếp tới các vòi uống tự động và van xả nước ở từng ô chuồng rất thuận tiện trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn Tiếp giáp chuồng bầu có xây dựng phòng pha chế tinh lợn với đầy đủ tiện nghi như: Kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, máy rã đông, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, nồi cất nước, tủ để đồ, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng đều được đổ bê tông và cứ cách 1 ngày lại tưới nước vôi 1 lần Từ kho thức ăn vào chuồng nuôi có hố vôi rộng để sát trùng xe kéo thức ăn mỗi khi đi qua Tại mỗi cửa chuồng nuôi đều có đặt chậu nước vôi để sát trùng ủng, đồng thời có giá phơi ủng, mỗi chuồng đều có ủng và dép riêng biệt để đi trong chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, di chuyển lợn giữa các dãy chuồng

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ như: Tủ lạnh bảo quản vắc-xin, tủ thuốc để dự trữ và bảo quản thuốc của trang trại, xe nâng và xe kéo chở thức ăn từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng cố định đặt giữa khu chăn nuôi và máy nén khí di động dùng để bơm nước xịt rửa và sát trùng từng chuồng Nhìn chung khu vực chăn nuôi được xây dựng hợp lý và thuận lợi cho công việc chăn nuôi và sản xuất, cơ sở vật chất của trang trại tương đối hoàn chỉnh và đạt yêu cầu đối với chuồng chăn nuôi kín hiện nay

2.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất sản phẩm thịt lợn hữu cơ cung cấp ra thị trường Với quy mô sản xuất 600 nái và thực tế đang có 410 nái đang trong giai đoạn sinh sản (Tháng 2/2021) Hiện nay trong trang trại có 04 con lợn đực giống, những lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để phục vụ thụ tinh nhân tạo Tuy nhiên tinh phục vụ cho phối giống đa phần được cung cấp từ trại giống của công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam, kết hợp với tinh khai thác tại trang trại Lợn nái được phối 2 - 3 lần trên một chu kỳ động dục và được luân chuyển nguồn giống cũng như con đực

Thức ăn sử dụng cho lợn tại trang trại là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh chất lượng cao, được Công ty cổ phần Greenfeed Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn từ tập ăn cho đến xuất chuồng, lợn nái ở các giai đoạn mang thai và nuôi con

- Công tác vệ sinh thú y của trang trại

Cơ sở khoa học của đề tài

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Đặc điểm của giống lợn nái trong nước và tại trang trại

Theo Trần Văn Phùng và cs (2014) [13], Lê Đức Nhanh (2015) [23] cho biết:

Nguồn gốc xuất xứ: Giống lợn có nguồn gốc từ vùng Yorksire và được Hoàng gia Anh công nhận vào năm 1884 Hiện nay giống lợn này đang được nuôi phổ biến nhất trên thế giới và cả ở nước ta Lợn Yorksire được nhập về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1920 Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire toàn thân có màu trắng, lông màu trắng ánh vàng, đầu nhỏ và dài, mặt rộng, tai to và hướng về phía trước, thân dài lưng hơi cong lên, chân cao khỏe, vận động tốt, tầm vóc lớn

Giống lợn Yorkshire có tính di truyền ổn định, tầm vóc to, khả năng sản xuất cao và khả năng thích nghi tốt Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành của con đực từ 250 - 300 kg, con cái từ

Khả năng sản xuất: Lợn nái đẻ từ 10 - 12 con/lứa, có lứa đạt từ 17 -

18 con Trọng lượng sơ sinh trung bình 1- 1,2kg/con Đây là giống lợn cho nhiều nạc

Nguồn gốc xuất xứ: Được tạo ra bằng cách lai giữa hai giống lợn Youthland (Đức) và Yorksire (Anh) Hình thành vào khoảng năm 1924 - 1925 tại Đan Mạch, lợn được nuôi phổ biến ở châu Âu và được coi là giống lợn tốt nhất, tỷ lệ nạc cao nhất thời bấy giờ Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có thân và lông màu trắng tuyền Tầm vóc to, mình dài, bụng thon ngực rộng, mông đùi phát triển Đầu dài hơi hẹp, tai to, rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu

Khả năng sản xuất: Landrace là giống lợn có năng suất cao Trọng lượng sơ sinh trung bình đạt 1,2 - 1,3kg/con Khối lượng cơ thể của lợn đực từ 280 - 320 kg, lợn nái từ 220 - 250 kg Landrace là giống lợn có khả năng sinh sản cao và nuôi con khéo, là giống lợn hướng nạc và thường được chọn làm dòng nái trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau

*Dòng lợn nái GF24 tại trang trại Ánh Dương

Trang web của công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương cho biết hiện nay công ty đang ứng dụng dòng lợn nái GF24 Theo Greenfeed Việt Nam (2020) [25], đây là dòng lợn nái được Greenfeed hợp tác chuyển giao công nghệ với Pig Improvement Company (PIC) – công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới về di truyền giống dựa trên công nghệ đánh dấu gen, mang đến dòng lợn hậu bị và tinh lợn có năng suất vượt trội thông qua lai tạo và đột biến gen giữa giống Landrace và Yorkshire, nhằm tạo ra lợn nái GF24 cho năng suất tốt Số lợn con sinh ra trên một nái trung bình khoảng 14,4 con, trọng lượng sơ sinh trung bình khoảng 1,4 kg/con, và số lứa đẻ của một nái trong năm trung bình là 2,4 lứa.

2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:

Buồng trứng của lợn nái có hai buồng hình hạt đậu, đường kính trung bình 0,8–1,2 cm Buồng trứng được cấu tạo bởi hai vùng: phía trong là tủy chứa mạch máu và dây thần kinh; phía ngoài là vỏ, nơi chứa vô số các noãn bao đang phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong các noãn bao có chứa tế bào trứng Các noãn bao phát triển qua từng giai đoạn, khi thành thục và chín, noãn bao vỡ ra, trứng rụng xuống loa kèn, tại vị trí của noãn bao cũ sẽ hình thành thể vàng (hoàng thể) Mỗi lần động dục, buồng trứng lợn nái có thể rụng một số noãn.

- Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng là ống dài ngoằn ngoèo, một đầu loe rộng tạo thành loa kèn để đón trứng từ buồng trứng rụng xuống, đầu kia nối liền với sừng tử cung Ống dẫn trứng dài 15 - 30cm

- Tử cung: Tử cung lợn nái bao gồm 1 thân và 2 sừng Sừng tử cung là nơi chứa thai, 2 sừng tử cung dài khoảng 1m, thân tử cung dài khoảng 5cm Phần cuối của tử cung là cổ tử cung Đây là một cái eo, thường khép kín Tận cùng của bộ máy sinh dục cái là âm hộ Trong âm hộ có lỗ thông ra ngoài của ống dẫn nước tiểu gọi là lỗ đái và tuyến tiết dịch nhờn

* Sự thành thục về tính:

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản, theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như tử cung, buồng trứng, âm đạo,… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì đồng thời ở bên ngoài các tuyến sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn còn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện bên ngoài cũng như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng

- Giống: Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn

- Điều kiện nuôi dưỡng và quản lý: Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái

- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Tuy nhiên, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm sự thành thục về tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm Lợn cái hậu bị được nuôi chăn thả sẽ có tuổi động dục ngắn hơn lợn cái hậu bị nuôi nhốt hoàn toàn

- Điều kiện bên ngoài: Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu ôn đới thường thành thục về tính muộn hơn những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông Điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi, mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức, thời gian chiếu sáng trong ngày về mùa đông thấp hơn so với các mùa khác trong năm, cũng làm chậm tuổi thành thục về tính

- Cùng với những yếu tố trên thì sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục về tính của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính ở gần ô chuồng của con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Tại trang trại Ánh Dương, lợn hậu bị thường được tiếp xúc đực ở tuần tuổi 24 - 26 vì lúc này cũng là giai đoạn lợn hậu bị bắt đầu thành thục về tính

* Sự thành thục về thể vóc:

Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về thể chất và ngoại hình đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên, lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính nếu ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng ở đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng đẻ khó (theo Nguyễn Đức Hùng và cs 2003) [7] Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Vì vậy, không nên cho phối giống quá sớm Giống lợn GF24 tại trang trại Ánh Dương được phối giống lần đầu khi từ 7 tháng tuổi trở lên, trọng lượng cơ thể từ 135 kg và chỉ phối giống vào lần động dục thứ 3 trở đi

* Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp:

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của nái mà còn có khả năng làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [17], tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ trên 8 lứa

Lợn con ở giai đoạn theo mẹ có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh

So với khối lượng sơ sinh, lợn con 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần và 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, trong khi sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm rõ, do đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng lớn và khuyến cáo xác định thời điểm cai sữa có ý nghĩa quan trọng cho số lứa đẻ/năm cũng như sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau cai Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ mỗi năm lên khoảng 2,5 so với 8 tuần là 1,8–2 lứa; tùy tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, cai sữa ở 19 ngày (Mỹ) hoặc 23–28 ngày (Australia) là khả thi, nhưng tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21–28 ngày tuổi Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu, vì vậy cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn và máng uống đồng thời áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh đường tiêu hóa cao hơn.

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Bệnh sinh sản gặp ở lợn nái không chỉ là mối quan tâm riêng của nước ta mà cũng có rất nhiều nghiên cứu mới về tình hình bệnh sinh sản ở nước ngoài như: Theo Bidwell và Williamson (2005) [47], đã có những nghiên cứu về tình hình mắc bệnh sinh sản của lợn nái do virus, vi khuẩn gây ra Các ông cũng đưa ra các biện pháp nhằm phát hiện và giảm khả năng mắc bệnh PRRS trên lợn nái sinh sản: Để điều tra nguyên nhân gây nhiễm trùng của bệnh sinh sản cần có hồ sơ điều trị bệnh, triệu chứng lâm sàng, trật tự xuất hiện các triệu chứng Kết hợp của các xét nghiệm chẩn đoán thích hợp là cần thiết Gửi tất cả các mẫu lấy từ lợn con bị hủy bỏ, chết non và nhau thai đến phòng thí nghiệm hoặc gửi ít nhất một lít huyết thanh từ các con lợn bị tiêu hủy

Các phân tích từ phòng thí nghiệm là rất cần thiết để có biện pháp hạn chế sự bùng phát của dịch

Theo Andrew Gresham (2003) [21], điều tra tình hình mắc bệnh sinh sản tại Vương Quốc Anh thì bệnh sinh sản ở lợn có một căn nguyên không nhiễm trùng và thường liên quan đến yếu tố managemental, dinh dưỡng hay môi trường Tuy nhiên, bệnh enzootic và bệnh dịch sinh sản truyền nhiễm kéo dài có thể gây thiệt hại đáng kể Bệnh truyền nhiễm sinh sản ở Anh thương là do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus và đôi khi nấm và động vật nguyên sinh cư trú trong đàn gia súc Thỉnh thoảng, bệnh sinh sản xảy ra do nhiễm các mầm bệnh như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, parvovirus, leptospires (đặc biệt là leptospira interrogans serovar bratislava)

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 3.1 Đối tượng

Lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trang trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

- Thời gian tiến hành: Từ ngày 28/05/2020 đến ngày 28/11/2020

- Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại

- Thực hiện một số công tác khác trong thời gian thực tập

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Cơ cấu đàn lợn của trang trại trong 2 năm từ 2019 đến tháng 11/2020

- Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái tại trang trại

- Công tác vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn cho đàn lợn tại trang trại

- Kết quả phòng bệnh bằng vắc-xin cho đàn lợn của trang trại

- Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nái sinh sản của trang trại

- Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản của trang trại

- Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn con của trang trại

- Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con của trang trại

- Kết quả thực hiện một số công tác khác tại trang trại

3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại, em tiến hành thu thập thông tin từ các báo cáo hàng ngày của trang trại, kết hợp với tự theo dõi tình hình thực tế một cách độc lập

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Tỉ lệ lợn mắc bệnh:

Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100

- Tỷ lệ lợn khỏi bệnh:

Các số liệu thu thập được xử lý bằng máy tính cầm tay và phần mềm Microsoft Excel 2016 trên máy tính cá nhân

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ánh Dương từ năm 2019 đến tháng 11/2020

Trong quá trình thực tập tại trang trại, em đã tiến hành theo dõi tình hình chăn nuôi của trang trại từ năm 2019 đến hết tháng 11/2020, thông qua số liệu ghi chép trực tiếp tại thời điểm thực tập và hệ thống sổ sách thống kê các báo cáo của trang trại

Kết quả về tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ năm 2019 đến hết năm

2020 được trình bày ở bảng sau:

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ánh Dương, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, Cao Bằng năm 2019 – 2020 (con)

2 Lợn hậu bị nhập mới 55 110

(nguồn: Kỹ sư trang trại)

Qua bảng trên cho thấy: Cơ cấu đàn lợn tại trang trại từ khi bắt đầu đi vào sản xuất cho đến hiện tại có sự biến động rõ rệt

Năm 2018 trang trại mới đi vào xây dựng và hoàn thiện Là một trong những trang trại nuôi lợn quy mô lớn đầu tiên của tỉnh Cao Bằng nên bước đầu quá trình xây dựng đàn nái và phát triển trang trại còn gặp nhiều khó khăn Đến tháng 3/2019 trang trại mới bắt đầu đón những lứa lợn con sơ sinh đầu tiên, vì vậy quy mô trang trại còn nhỏ, số lượng nái không lớn, số lợn xuất bán thịt ít Cũng trong năm 2019 nước ta trải qua đợt bùng phát dịch tả châu Phi, khiến cho tổng đàn lợn cả nước sụt giảm nghiêm trọng Nguồn cung hạn chế nhưng nhu cầu tăng cao khiến cho giá thịt lợn cũng tăng theo Nắm bắt được diễn biến thị trường, bước sang năm 2020 là thời điểm ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn phát triển mạnh, đó là lý do vì sao bước sang năm 2020 quy mô đàn liên tục được tăng lên, trang trại mở rộng thêm các chuồng thịt và chuồng bầu, đẻ mới Trang trại cũng được xây dựng và mở rộng quy mô liên tục, nhập hậu bị mới và cải thiện chất lượng đàn nái.Số lợn đực ít và không tăng do trang trại chủ yếu sử dụng tinh do công ty cổ phần Greenfeed cung cấp để phối giống Cho đến hết tháng 2/2021, quy mô trại đã mở rộng lên đến 600 nái và 5000 thịt, cùng với 2 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng cai sữa và 2 chuồng thịt mới đang trong quá trình xây dựng

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con của trang trại

4.2.1 Số lượng lợn được phân công chăm sóc và nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập

Số lượng lợn nái và lợn con em được phân công chăm sóc và nuôi dưỡng trong 6 tháng thực tập được thể hiện trong bảng 4.2:

Bảng 4.2 Kết quả theo dõi số lượng lợn trực tiếp chăm sóc tại trang trại Ánh Dương trong 6 tháng thực tập

Tháng theo dõi Số lợn nái

Từ tháng 6 đến tháng 11, em đã tiến hành chăm sóc cho 320 lượt nái đẻ, 3983 lợn con dưới sự hướng dẫn của kỹ sư và công nhân phụ trách chuồng Do yêu cầu của công việc và số lượng công nhân làm trong các chuồng nên em không trực tiếp chăm sóc đàn lợn nái hậu bị và lợn thịt

4.2.2 Quy trình làm việc chung tại chuồng đẻ

Thời gian làm việc và công việc hàng ngày ở khu chuồng đẻ như sau:

+ Chiều: 13 giờ 30 phút - 17 giờ 30 phút

+ Kiểm tra môi trường chuồng nuôi

+ Kiểm tra sức khỏe lợn mẹ và lợn con

+ Thu phân, chất thải, cho lợn mẹ ăn

+ Chăm sóc nái đẻ, đỡ đẻ, vệ sinh chuồng, rắc vôi, quét dọn hành lang, tắm lợn nái

+ Úm lợn con, cho lợn con bú sữa đầu, tách ghép lợn con

+ Cho lợn con tập ăn và uống

+ Làm công tác ngoại khoa thú y, chăm sóc và điều trị bệnh

+ Ghi chép sổ sách, làm báo cáo kết quả

+ Kiểm tra tổng thể lợn trong chuồng, đếm lợn con, chỉnh bảng theo dõi và giao ca

4.2.2.1 Đối với lợn nái đẻ

Mỗi một trang trại đều sẽ có một quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái riêng Tùy thuộc vào con giống, điều kiện thực tế và khả năng đáp ứng của mỗi trang trại mà lên kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp Chuồng đẻ là nơi lợn nái lưu lại từ những ngày gần đẻ cho đến khi cai sữa xong, đây là giai đoạn rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất con non và sức khỏe của lợn mẹ Đồng thời quy trình chuồng đẻ cần phải được thực hiện chính xác, đạt kết quả cao thì chất lượng đàn con mới tốt, lợn nái động dục lại đúng chu kỳ, đảm bảo số lứa đẻ trên năm và duy trì khai thác nái được lâu dài Ngoài việc đưa ra được một quy trình chung phù hợp, còn phải luôn theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện, xử lý kịp thời những vấn đề còn thiếu sót

* Chuyển lợn nái lên chuồng đẻ:

- Chuẩn bị chuồng trại và đỡ đẻ

Chuồng trại được vệ sinh xịt rửa sạch sẽ sau mỗi lứa nuôi, kết hợp sử dụng sút pha loãng trong quá trình cọ rửa Ưu tiên sử dụng nước nóng và máy xịt rửa áp lực cao trong quá trình vệ sinh chuồng

Sau mỗi lứa cai sữa, toàn bộ sàn nhựa sẽ được mang ra bể, ngâm sút pha loãng trong 03 ngày, sau đó mới xịt rửa, phơi khô và phun khử trùng trước khi sử dụng cho lứa sau

Toàn bộ sàn và nền chuồng sau khi xịt rửa sạch sẽ và khô ráo, tiến hành phun thuốc sát trùng chuồng nuôi, sau đó dội nước vôi sao cho trắng xóa nền chuồng, sàn chuồng Quét vôi trắng đường đi, gầm chuồng, tường, kiểm tra bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị trong chuồng Thông rửa nước trong đường ống, không để tắc nghẽn chất bẩn, kiểm tra và liệt kê chuẩn bị các vật dụng phục vụ cho lợn đẻ như: Bột lăn, khay đựng, thảm lót, bóng đèn úm, bao tay, thuốc, thức ăn, vắc-xin, quây úm lợn…

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Ngày đăng: 12/04/2022, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Archie Hunter (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh, Nguyễn Đức Tâm dịch), Nxb Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 204 - 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dịch bệnh động vật
Tác giả: Archie Hunter
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2000
2. Sa Đình Chiến, Cù Hữu Phú (2016), “Một số đặc điểm bệnh tiêu chảy của lợn con dưới 2 tháng tuổi ở Sơn La”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XXIII(2), tr. 40 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm bệnh tiêu chảy của lợn con dưới 2 tháng tuổi ở Sơn La"”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Sa Đình Chiến, Cù Hữu Phú
Năm: 2016
3. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái. Để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái. Để sản xuất "lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình "sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
5. Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới (2009), Sinh sản vật nuôi, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ Hằng, Đào Đức Thà, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
6. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012), Bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Nông nghiệp, tr. 398 – 407 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
7. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003), Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
9. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2003), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn "và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
10. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thú y
Tác giả: Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La Văn Công
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
11. Lê Văn Năm (2013), Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn, Nxb Lao động - Xã hội, Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm phổi địa phương - suyễn lợn
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2013
13. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo "trình Chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
14. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi (2005), Chăn nuôi lợn trang trại, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn trang trại
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Quế Côi
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2005
15. Phạm Ngọc Thạch (1996), Một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng ở gia súc, viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 20 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu lâm sàng, phi lâm sàng ở gia súc, "viêm ruột ỉa chảy và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1996
16. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
17. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010), “Tình hình bệnh tử cung trên đàn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí KHKT thú y, XVII(1), tr. 72 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tình hình bệnh tử cung trên đàn nái ngoại và các biện pháp phòng trị"”, Tạp chí KHKT thú y
Tác giả: Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
18. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
19. Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Bá Hiệp (2013), “Vai trò của escherichia coli và salmonella spp. trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp”, Tạp chí khoa học và phát triển 2013, 11(3), tr. 318 – 327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Vai trò của "escherichia coli" và "salmonella spp." trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con trước và sau cai sữa nghiên cứu trên mô hình trại nuôi công nghiệp"”, Tạp chí khoa học và phát triển 2013
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Bá Hiệp
Năm: 2013
20. Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường (2017), Giáo trình chăn nuôi chuyên khoa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn "nuôi chuyên khoa
Tác giả: Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Mai Anh Khoa, Bùi Thị Thơm, Nguyễn Thu Quyên, Hà Thị Hảo, Nguyễn Đức Trường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2017
21. Andrew Gresham (2003), Infectious reproductive disease in pigs, in practice, pp.466 - 473 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Infectious reproductive disease in pigs, in practice
Tác giả: Andrew Gresham
Năm: 2003
22. Glawisschning E., Bacher H. (1992), The Efficacy of Costat on E. coli infectedweaning pigs, 12th IPVS congress, August 17 - 22, tr. 182.III. Tài liệu trích dẫn từ INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Efficacy of Costat on E. coli "infectedweaning pigs
Tác giả: Glawisschning E., Bacher H
Năm: 1992

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w