TRẦN THANH TÙNG Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ NUÔI TẠI TRẠI BÒ KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LU
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Đối tượng
- Đàn bò nuôi tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa diểm: Tại trại bò của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Nội dung tiến hành
- Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng cho đàn bò tại trại bò của khoa Chăn nuôi Thú y
- Thực hiện công tác chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh cho đàn bò tại trại bò của khoa Chăn nuôi Thú y
- Tham gia một số công tác khác tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y.
Phương pháp thực hiện và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Số lượng bò được nuôi tại trại bò của khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2018 đến năm 2020
- Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn bò tại trại bò
- Kết quả phòng bệnh bằng khử trùng tiêu độc chuồng trại
- Kết quả công tác tiêm phòng vaccine cho đàn bò tại trại
- Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên đàn bò tại trại
- Kết quả thực hiện một số công việc khác
3.4.2.1 Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng cho đàn bò tại khoa Chăn nuôi Thú y
Trong thời gian thực tập tại trại bò khoa Chăn Nuôi Thú y em đã trực tiếp chăm sóc đàn bò theo quy trình như sau:
+ Cách cho ăn: 4 bữa/ngày như sau: Sáng chăn khoảng 3 giờ, trưa cho ăn bã đậu và cỏ tươi Chiều chăn khoảng 3 - 4 giờ, tối cho ăn cỏ tươi
+ Loại thức ăn: Cỏ VA06, cỏ tự nhiên, một số loại thân lá cây, rau, bã đậu
3.4.2.2 Phương pháp chế biến thức ăn cho bò tại trại
- Công thức phối trộn thức ăn cho đàn bò của khoa Chăn nuôi Thú y như sau:
+ 100 kg thức ăn xanh gồm: Cỏ VA06 hoặc cỏ ghine
+ 8 kg thức ăn tinh gồm: Bã đậu + bột ngô + bột sắn + cám Thức ăn trộn xong cho ăn trong ngày
Bảng 3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của bê sau giai đoạn cai sữa đến hậu bị
Thành phần dinh dưỡng 7 - 12 tháng tuổi 13 - 24 tháng tuổi
Nặng lượng (DVTA/kg VCK) 0,7 - 0,9 0,7 - 0,9
(Nguồn: Khoa Chăn nuôi Thú y) 3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel 2016 trên máy tính.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi bò tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tình hình chăn nuôi của đàn bò nuôi tại trại trong qua 3 năm (2018 -
2020) được thể hiện qua bảng 4.1:
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò của trại trong 3 năm qua Đơn vị: Con
(Nguồn: Khoa Chăn nuôi Thú y)
Qua quá trình tìm hiểu và thực tập tại trại, em nhận thấy cơ cấu đàn bò của trại khá ổn định trong 3 năm qua Cụ thể, năm 2018 có 8 con, gồm 5 bò cái sinh sản và 3 con bê con; năm 2019 có 3 con bò cái sinh sản.
Trong trại có 3 con bê con Năm 2020, bò cái sinh sản cho ra 4 con và có 3 con bê được sinh ra Trung bình đàn bò trong trại dao động từ 7 đến 8 con trong 3 năm qua, bởi diện tích đất chăn nuôi và bãi trồng cỏ làm thức ăn còn hẹp nên không thể tăng quy mô đàn.
Số lượng bò trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y
Trong 5 tháng thực tập tại Trại bò của Khoa Chăn nuôi Thú y, em đã tham gia chăm sóc và nuôi dưỡng đàn bò tại trại Quá trình này được tích lũy qua các hoạt động quản lý chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng và theo dõi sự phát triển của đàn bò Kết quả của quá trình thực tập được trình bày trong Bảng 4.2.
Bảng 4.2 Số lượng đàn bò trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại
Số bò cái đẻ, nuôi con (con)
Tổng số bê con (con)
Số bò còn lại (con)
(Nguồn: Khoa Chăn nuôi Thú y)
Trong quá trình thực tập tại trại nuôi bò, em trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đàn bò gồm 4 bò cái và 3 bê con Trong đó, một con bò cái đẻ ra một bê con; tổng số bê con sinh ra là 1 và số bê con còn sống là 1, tỷ lệ nuôi sống đạt 100%.
Trong quá trình thực tập tại trại bò, em chăm sóc đàn bò cái sinh sản hàng ngày và nắm vững quy trình chăm sóc, dinh dưỡng đúng giai đoạn để đảm bảo đàn bò ăn đủ lượng thức ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển Em luôn giữ vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, bơm tiêu độc khử trùng chuồng trại và tiêm vaccine phòng chống các bệnh nguy hiểm như tụ huyết trùng và lở mồm long móng nhằm bảo vệ sức khỏe đàn bò và nâng cao hiệu quả nuôi dưỡng.
Hằng ngày, trước khi thả đàn bò em thường quan sát những biểu hiện, trạng thái và hoạt động của bò
Khi bò chửa sắp đẻ, các biểu hiện bắt đầu từ 5–7 ngày trước sinh: bầu vú bò mẹ từ từ căng lên; 1–3 ngày trước sinh bầu vú căng tròn hơn và tiết nhiều sữa; âm hộ chảy nhiều dịch nhờn màu trắng và có hiện tượng sụt hông, sụt mông thấy rõ ở hai gốc đuôi, đuôi lệch sang một bên và ít cử động Ngày bò đẻ, bò bồn chồn đứng ngồi không yên, đi tiểu nhiều lần và nước ối vỡ.
Trong giai đoạn bò động dục, bò thường ăn ít hơn và có hành vi như nhảy lên lưng bò khác hoặc để bò khác nhảy lên lưng mình; âm hộ sưng đỏ, chảy nước nhờn trong, và trạng thái lỏng của âm đạo dần trở nên đặc lại theo thời gian Những dấu hiệu này giúp quản lý đàn bò hiệu quả, xác định thời điểm phối giống và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho động vật.
- Hằng ngày tiến hành hót phân và dọn chuồng, vì thời gian em thực tập vào mùa đông nên cách 2 - 3 hôm phải quét và rửa chuồng một lần
Em đã trực tiếp chăm sóc đàn bò tại trại theo từng giai đoạn của bò:
Đối với bò cái sinh sản, trong ba tháng đầu của chu kỳ sinh sản vào mùa mưa nên cho bò ăn cỏ VA06 và bổ sung thêm cỏ ủ kết hợp với bã đậu; vào giai đoạn chửa kỳ cuối cần bổ sung 0,5–1,0 kg thức ăn tinh mỗi ngày (cám, gạo, ngô xay hoặc các nguồn tinh bột khác) và 20–30 g muối để đảm bảo dinh dưỡng và cân bằng muối khoáng cho thai kỳ.
Trong hai tháng mùa khô, chu trình chăn nuôi bò của tôi cho bò ăn cỏ tự nhiên hai lần mỗi ngày; sau đó bổ sung thêm cỏ ủ, bã đậu và thức ăn tinh để đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho đàn bò.
Đối với bò cái nuôi con, ngoài khẩu phần ăn như đã nêu ở trên, cần bổ sung thêm 1–2 kg thức ăn tinh (cám, gạo, ngô xay) để tăng sản lượng sữa cho bê con.
Đối với bê, hàng ngày chăn thả ăn cỏ tự nhiên đến chiều tối và bổ sung thêm thức ăn thô xanh, cỏ VA06 tại chuồng Bổ sung thêm bã đậu khoảng 0,5 kg cho mỗi bê để tăng cường dinh dưỡng và cân bằng dinh dưỡng.
- Đối với bê con mới sinh:
+ Ngay sau khi bê con được sinh ra, em trực tiếp lau chùi cho bê Đặc biệt là ở phần mũi và mõm của bê con
+ Sau khi đẻ 1 giờ, bê con phải được bú sữa đầu, bú mẹ trực tiếp ít nhất
4 - 5 lần/ngày và được nuôi nhốt ở tại chuồng trong 1 tuần
+ Sau tuần tuổi đầu tiên bê được thả đi theo đàn tập cho bê ăn sớm thức ăn tinh, sau đó thêm cỏ non như cỏ chỉ, cỏ sao,
+ Kết hợp chăn thả và bổ sung thức ăn thô xanh tại chuồng, đặc biệt là vào mùa khô
Trong thời gian thực tập tại trại chăn nuôi, em đã phát hiện một con bò bị ngã và chân bị trầy xước Em đã dùng thuốc xanh methylen để sát trùng vết thương cho bò.
Kết quả công tác phòng và trị bệnh cho đàn bò tại trại bò khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh
Trong suốt thời gian thực tập tại trại bò thuộc Khoa Chăn nuôi Thú y, em đã tham gia công tác vệ sinh, khử trùng và tiêu độc chuồng trại nhằm đảm bảo môi trường chăn nuôi an toàn và hạn chế lây nhiễm mầm bệnh Quá trình thực hiện được tuân thủ đúng quy trình và kết quả được trình bày ở bảng 4.3.
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh khử trùng, tiêu độc chuồng trại
Nội dung công việc Định mức
Kết quả thực hiện (lần)
Vệ sinh máng ăn, máng uống 150 120 80,00
Chuyển phân ra vườn cỏ 150 90 60,00
Dọn đường nước thải phân 6 3 50,00
Phun thuốc diệt ngoại ký sinh trùng 20 10 50,00
Kết quả cho thấy vệ sinh, tiêu độc và khử trùng chuồng trại là công việc bắt buộc phải thực hiện thường xuyên và nghiêm túc để tạo môi trường sống tốt nhất cho vật nuôi Trong thời gian thực tập tại Trại bò, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tuân thủ đúng quy trình phòng bệnh mà trại đề ra để đảm bảo an toàn sinh học Trong quá trình thực tập có hai người tham gia, nên chúng em đã phân công công việc và em đảm nhận các nhiệm vụ tại trại với tỉ lệ cao nhất là 83,33%.
Trong thời gian thực tập tại trại, em thực hiện công tác vệ sinh chuồng trại theo định mức một ngày dọn vệ sinh một lần Kết quả cho thấy em đã hoàn thành 120/150 lượt vệ sinh, tương đương tỷ lệ 80,0%.
+ Dọn vệ sinh máng ăn máng uống theo định mức 150 lần trong 5 tháng em đã thực hiện được 120 lần đạt tỷ lệ 80,00%
+ Chuyển phân ra ngoài vườn cỏ theo định mức 150 lần trong 5 tháng em đã thực hiện được 90 lần kết quả đạt tỷ lệ 60,00%
+ Dọn vệ sinh, khơi thông cống rãnh nước thải phân là 6 lần em đã thực hiện được 3 lần kết quả đạt tỷ lệ 50,00%
+ Phun thuốc tiêu độc khử trùng chuồng trại theo định mức 24 lần em đã thực hiện 13 lần kết quả đạt tỷ lệ 54,16%
+ Phun thuốc diệt ngoại ký sinh trùng theo định mức 20 lần em đã thực hiện được 10 lần kết quả đạt tỷ lệ 50,00%
+ Cắt cỏ cho bò theo định mức 300 lần em đã thực hiện được 250 lần kết quả đạt tỷ lệ 83,33%
4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vaccine cho đàn bò tại trại
Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh, con bò có giá trị rất cao nên nếu để sảy ra dịch bệnh, chết sẽ thiệt hại lớn về kinh tế Vì vậy, việc phòng bệnh bằng vaccine cho bò tại trại bò Khoa chăn nuôi Thú y luôn được thực hiện một cách nghiêm túc và chủ động, đúng quy trình Kết quả thực hiện công tác tiêm phòng cho đàn bò tại trại được trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng vaccine cho đàn bò của trại
Loại bò Bệnh được phòng
Số con được tiêm (con)
Số lượng an toàn (con)
Bò cái Tụ huyết trùng 4 4 100
(Nguồn: Khoa Chăn nuôi Thú y)
Qua quá trình thực tập tại trại em thấy kết quả tiêm phòng cho đàn bò của trại luôn được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định Trong đàn bò có 7 con nhưng đạt điều kiện tiêm phòng là 6 con thì được tiêm phòng đầy đủ Còn 1 con bê con mới sinh không đây một tháng nên không đủ điều kiện để tiêm phòng.
Thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho đàn bò tại trại
4.4.1 Kết quả chẩn đoán một số bệnh cho đàn bò
Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn bò của khoa được trình bày ở bảng 4.5
Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán một số bệnh cho đàn bò của trại
STT Tên bệnh Số bò theo dõi
Số bò mắc bệnh (con)
(Nguồn: Khoa Chăn nuôi Thú y)
Kết quả bảng 4.5 cho thấy trước khi tiêm phòng tụ huyết trùng cho bò có 1 con mắc bệnh với tỷ lệ 14,28%, và bệnh giun đũa có 3 con mắc với tỷ lệ 42,85% Vì vậy, việc phòng bệnh bằng vaccine là vô cùng cấp thiết và cần được thực hiện đầy đủ và chính xác nhằm nâng cao sức khỏe và hiệu quả chăn nuôi bò Bên cạnh đó, chăn nuôi bò cần đặc biệt quan tâm tới các bệnh như ghẻ, rận và giun sán; do đó cần tăng cường phòng bệnh, vệ sinh chuồng trại và tẩy giun sán định kỳ để bảo vệ đàn bò và tối ưu hóa năng suất.
4.4.2 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn bò nuôi tại trại
Với 3 bò bị nhiễm giun đũa và 1 bò bị tụ huyết trùng đã chẩn đoán, em đã tiến hành điều trị và kết quả được trình bày ở bảng 4.6:
Qua bảng 4.6: Cho thấy trong 7 con bò chăm sóc và nuôi dưỡng có 3 bê bị nhiễm giun đũa và 1 con bị tụ huyết trùng
Bệnh giun đũa ở bê và nghé lây qua đường tiêu hóa khi vật chủ nuốt phải ấu trùng giun Đối với bê và nghé, bệnh có thể lây từ mẹ sang thai qua nhau thai Bệnh có tính mùa vụ, tập trung vào vụ Đông Xuân do điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt; giá rét và thức ăn dồi dào khiến mẹ thiếu sữa, từ đó bệnh phát sinh và gây hại nghiêm trọng Tuổi mắc bệnh phổ biến nhất ở bê, nghé là từ 25–35 ngày tuổi (chiếm 64%), và có thể mắc sớm nhất từ 14 ngày tuổi (23%).
Bảng 4.6 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn bò của trại
Thời gian dùng thuốc (ngày)
Số con điều trị (con)
Giun đũa Han mectin 25 4ml/50kg P bê Tiêm dưới da 1 3 3 100
15 ml/100 kg TT Tiêm dưới da 3 - 5 1 1 100
Vào mùa mưa, vi khuẩn sẵn có trong đất được nước cuốn lên mặt đất và dính vào rơm, cỏ và nước uống; bò ăn uống phải vi khuẩn này sẽ nhiễm bệnh tụ huyết trùng Sau khi vào đường tiêu hóa, vi khuẩn làm tổn thương niêm mạc do ký sinh trùng, rơm và cỏ cứng hoặc dị vật, xâm nhập vào máu và hệ lympho ruột, khiến hạch sau hầu sưng to; từ đó vi khuẩn lan sang các hạch lympho khác như hạch trước vai và hạch trước đùi, gây sưng to và thủy thũng Vì vậy biểu hiện điển hình của bò mắc bệnh tụ huyết trùng là sưng hạch hầu.
Trong quá trình thực tập tại trại bò, em đã trực tiếp kiểm tra, phát hiện và điều trị cho đàn bò mắc hai bệnh phổ biến là giun đũa và tụ huyết trùng Nhờ chẩn đoán nhanh và áp dụng phác đồ điều trị phù hợp, đàn bò đã phục hồi và đạt tỷ lệ khỏi bệnh lên tới 100%.
Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại
Trong thời gian thực tập tại trại em còn tham gia thêm một số công việc khác kết quả đạt được trình bày ở bảng 4.7
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại
STT Nội dung công việc Đơn vị
1 Vệ sinh vườn cỏ Lần 12 12 100
3 Bón phân cho cỏ Lần 5 5 100
4 Vệ sinh xung quanh khoa Chăn nuôi Thú y Lần 2 2 100
Lắp ráp hệ thống nước uống tự động và xây dựng trang trại tại trại lợn khoa Chăn nuôi Thú y
6 Vệ sinh xung quanh chuồng trại Lần 6 6 100
Kết quả bảng 4.7 cho thấy trong thời gian thực tập tại trại, ngoài các công việc thực hiện chuyên đề, em còn tham gia vào nhiều công việc khác như vệ sinh vườn cỏ 12 lần, trồng cỏ 3 lần, bón phân cho cỏ 5 lần và tổng vệ sinh quanh trang trại 6 lần; đồng thời, vệ sinh quanh khu vực khoa Chăn nuôi Thú y 2 lần, lắp ráp hệ thống nước uống tự động và xây dựng trang trại tại trại lợn của khoa Chăn nuôi Thú y 5 lần, và ủ chua cỏ 3 lần.
* Các bước ủ cỏ chua cho bò
Nguyên liệu: 300kg cỏ VA06, 3kg cám gạo, 0.7kg muối ăn, 0,5kg men vi sinh
Bước 1: Băm nhỏ 300kg cỏ tươi
Bước 2: Trộn 3kg cám gạo, 0,7kg muối ăn và 0,5kg men vi sinh
Ở bước 3, rải cỏ thành từng lớp vừa đủ vào thùng phi, sau đó rắc đều hỗn hợp men lên bề mặt Tiếp tục làm như vậy cho đến khi hết nguyên liệu để đảm bảo mỗi lớp cỏ được phủ đều men và tận dụng tối đa nguyên liệu có sẵn.
Đậy nắp thùng phi thật chặt để ngăn không khí lọt vào và bắt đầu quá trình ủ chua cỏ Sau vài ngày, cỏ sẽ bắt đầu chua và chuyển sang màu vàng nhạt; khi đạt được độ chua và màu sắc này, cỏ đã có thể sử dụng làm thức ăn cho bò Hãy theo dõi và đảm bảo nắp thùng kín để bảo toàn chất dinh dưỡng cho đàn bò.
Với cách ủ chua trên có thể bảo quản cỏ 2 đến 3 tháng không hỏng Đặt biệt khi trời mùa Đông không có cỏ cho bò.