Bất bình đẳng, phân cực giàu nghèo, phân tầng xã hội là những hệ quả nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân quan trọng gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội chung. Khác biệt về tình trạng giàu nghèo giữa các nhóm vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả liên quan tới các vấn đề về bất bình đẳng, phân tầng xã hội. Khi có sự khác biệt quá lớn về kinh tếxã hội giữa các nhóm dân cư từ những điều kiện điều kiện xã hội khác nhau, đặc biệt khi tình trạng đói nghèo không được giải quyết bến vững, bất bình đẳng, phân tầng xã hội sẽ gia tăng. Cốt lõi của phát triển xã hội là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, phát triển con người toàn diện, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tạo dựng xã hội an ninh, an toàn, bảo đảm cho con người trưởng thành lành mạnh.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Bất bình đẳng, phân cực giàu nghèo, phân tầng xã hội là những hệ quả nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân quan trọng gắn liền với sự phát triển kinh
tế - xã hội chung Khác biệt về tình trạng giàu - nghèo giữa các nhóm vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả liên quan tới các vấn đề về bất bình đẳng, phân tầng xã hội Khi có sự khác biệt quá lớn về kinh tế-xã hội giữa các nhóm dân cư từ những điều kiện điều kiện xã hội khác nhau, đặc biệt khi tình trạng đói nghèo không được giải quyết bến vững, bất bình đẳng, phân tầng xã hội sẽ gia tăng
Cốt lõi của phát triển xã hội là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, phát triển con người toàn diện, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tạo dựng xã hội an ninh, an toàn, bảo đảm cho con người
trưởng thành lành mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phát triển xã hội chính
là giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bất công, có điều kiện phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực, thẩm mỹ và đạo đức Thủ tiêu các cơ sở kinh tế của chế độ bóc lột chính là giải phóng lao động, đem lại tự do cho con người Phát triển kinh tế không có mục tiêu tự thân mà cũng hướng tới cải thiện đời sống vật chất, phát triển thể chất, nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân Nền văn hóa mới, đạo đức mới được xây dựng giúp con người hình thành nhân cách sống hài hòa với xã hội, với cộng đồng, với tự nhiên và với chính mình Hệ thống giáo dục tiến bộ phải có khả năng khơi dậy, phát huy cao nhất những năng lực, phẩm chất vốn có của con người để hoàn thiện chính mình và đóng góp hữu ích cho xã hội Thể chế chính trị dân chủ phải tạo môi trường cho con người có tự do, phát huy cao nhất năng lực làm chủ trong mọi phương diện của đời sống xã hội Mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa hay xã hội đều hướng tới thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân
PHẦN II: NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CƠ CẤU
XÃ HỘI VÀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI
Trang 2Ngay từ những ngày đầu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc cải thiện cuộc sống của người dân không theo hướng cào bằng mà theo hướng cùng tiến: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” Trong hơn chín thập niên kể từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và nhất quán với sứ mệnh chính trị cao cả đó
Để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh về cơ cấu xã hội và phân tầng
xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục khẳng định chủ trương phát triển xã hội tổng quát là xây dựng một xã hội hài hòa – cơ sở cho sự phát triển bền vững Đảng ta xác định mục tiêu xây dựng đất nước: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Theo đó, Đảng ta xác định: “khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp”… “giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc”
Đánh giá về sự phân hóa xã hội, Báo cáo mười năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011 đã đưa ra những nhận định: “Tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực, mâu thuẫn xung đột xã hội…chậm được khắc phục, gây bức xúc trong dư luận nhân dân Giảm nghèo chưa bền vững, chưa có giải pháp hữu hiệu để xử lý vấn đề phân hóa giàu – nghèo, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, kiểm soát và
xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội”
Văn kiện Đại hội XIII nêu rõ: “Trên cơ sở dự báo đúng xu hướng biến đổi
cơ cấu xã hội ở nước ta trong những năm tới, xây dựng các chính sách phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 3pháp, chính đáng của nhân dân”.
Có thể thấy, giảm thiểu sự chênh lệch và bất bình đẳng giữa các nhóm
xã hội, giữa các giai tầng xã hội, kiểm soát sự phân hóa xã hội, hướng đến sự phát triển bao trùm là tinh thần cốt lõi trong các chủ trương và chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội Điều này thể hiện sự kiên định và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam với những giá trị cốt lõi của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
II GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT PHÂN TẦNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
Một là, đẩy mạnh nghiên cứu về những diễn biến, hệ quả xã hội của phân tầng xã hội ở Việt Nam để có thể kiểm soát kịp thời, góp phần bảo đảm định hướng CNXH Qua quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Việt Nam đã có nhiều chuyển biến to lớn, trong đó có vấn đề phân tầng xã hội Phân tầng xã hội nước ta hiện nay đang có sự biến động mạnh mẽ, vừa có tác động tích cực, vừa
có tác động tiêu cực đến quá trình phát triển của đất nước theo định hướng XHCN Kết cấu giai tầng xã hội ngày càng đa cơ cấu - giai tầng xã hội; trong mỗi giai cấp, tầng lớp lại có sự đan xen đa dạng… Các quá trình này cũng làm phát sinh và gia tăng không ít những vấn đề xã hội đang phải tập trung giải quyết Việc tăng cường nghiên cứu về phân tầng xã hội sẽ giúp nhận diện rõ sự biến đổi cùng những ảnh hưởng của phân tầng xã hội đến các chiều cạnh phát triển xã hội Đó sẽ là cơ sở thực tiễn hỗ trợ cho quá trình hoạch định và thực thi hiệu quả các chính sách giảm thiểu bất bình đẳng xã hội
Hai là, tăng cường việc lồng ghép các mục tiêu kiểm soát phân tầng xã hội vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn của đất nước; bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả trong phát huy vai trò của từng thành phần kinh tế; bảo đảm định hướng XHCN trong các chính sách xã hội Các nghiên cứu về phân tầng xã hội đã chỉ ra tính quy luật về sự biến đổi cấu trúc kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hội nhập kinh tế quy định sự biến đổi về hệ thống phân tầng xã hội Khi Việt Nam trở thành một đất nước
Trang 4công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại sẽ làm giảm tỷ lệ những tầng lớp của
xã hội truyền thống; gia tăng các tầng lớp đặc trưng cho xã hội công nghiệp, hiện đại Vì vậy, để kiểm soát phân tầng xã hội, góp phần bảo đảm định hướng
xã hội chủ nghĩa cần phải đặt vấn đề phân tầng xã hội trong mối quan hệ tổng thể với quá trình phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chính sách xã hội hiện tại của đất nước
Ba là, gia tăng kiểm soát quyền lực, kiểm soát “quyền kiểm soát” tài sản công và kiểm soát tham nhũng, góp phần kiểm soát thành công phân tầng xã hội Các nghiên cứu phân tầng xã hội ở Việt Nam và kiểm soát phân tầng xã hội đã chỉ ra một trong những yếu tố cốt lõi nhất cần quan tâm giải quyết kịp thời, hài hòa và hiệu quả; là vấn đề phân định và xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu
và quyền kiểm soát tư liệu sản xuất Trong thời kỳ đổi mới đất nước có nhiều hình thức sở hữu khác nhau ở Việt Nam, trong đó công hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò chủ yếu Tuy nhiên, thực tế cho thấy, “quyền sở hữu” những tư liệu sản xuất thuộc Nhà nước (công hữu) có xu hướng không nổi trội bằng “quyền kiểm soát” tư liệu sản xuất thuộc Nhà nước Trong khi đó, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “lộng quyền”, tệ nạn tham nhũng đang ngày càng gia tăng trong hệ thống công quyền Kiểm soát tốt tình trạng này sẽ góp phần làm giảm thiểu sự bất bình đẳng trong mọi phương diện của xã hội
Bốn là, cần thống nhất trong nhận thức và hành động ở mọi chủ thể xã hội đối với việc thực hiện các mục tiêu về quản lý phát triển xã hội, phân tầng xã hội Đảng
và Nhà nước phải không ngừng nâng cao nhận thức, hoàn thiện các quan điểm để lãnh đạo, chỉ đạo đối với việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách về quản lý phát triển xã hội, nhằm kiểm soát tốt phân tầng xã hội Đồng thời, cần dự báo, xây dựng một cấu trúc xã hội phát triển phù hợp, trong đó cần ưu tiên xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; “Gắn xây dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nông thôn Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc Cần “sớm hoạch định một
Trang 5chiến lược nhằm điều chỉnh mạnh mẽ kết cấu xã hội hiện nay Muốn vậy, điều kiện trước tiên là có một cam kết chính trị thực sự ở cấp cao, kết hợp với việc triển khai một hệ thống công cụ chính sách kinh tế và chính sách xã hội đồng bộ
Năm là, để trở thành một đất nước công nghiệp phát triển theo định hướng
xã hội chủ nghĩa cần xây dựng mô hình phân tầng xã hội dạng “quả trám”; với cấu trúc tầng lớp trung lưu chiếm đa số trong xã hội, tức tầng lớp xã hội ở giữa (phần thân tháp - tầng lớp trung lưu) phình ra to nhất Sự tăng lên của tầng lớp trung lưu có tác dụng góp phần làm giảm sự xung đột xã hội, bảo đảm cho sự phát triển ổn định, hài hòa và bền vững của một cấu trúc xã hội hiện đại Trong đó, cần thực hiện tốt các chính sách nhằm thu hút lực lượng nông dân đang chiếm đa số trong xã hội di chuyển lên tầng lớp trung lưu bằng vị thế nghề nghiệp, việc làm và thu nhập Điều này đòi hỏi phải thúc đẩy có hiệu quả hơn tinh thần khởi nghiệp, phát triển mạnh mẽ có hiệu quả thành phần kinh tế tư nhân
Sáu là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm vun đắp cho các nhóm, giai tầng xã hội về định hướng “lợi ích hài hòa, xã hội giá trị” Đó là việc các cá nhân, nhóm, giai tầng xã hội hướng tới lợi ích hài hòa và các giá trị tiến bộ, nhân văn, vì hạnh phúc bền vững trong phát triển xã hội Xây dựng, định hướng “lợi ích hài hòa, xã hội giá trị” là quá trình lâu dài, do đó cần có sự lãnh đạo thống nhất và liên tục của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó và trước hết là cần định hướng nhấn mạnh việc thúc đẩy địa vị xã hội đạt được và “phân tầng xã hội hợp thức” trở thành dòng chủ đạo, chiếm tuyệt đa số trong xã hội
Bảy là, Đảng, Nhà nước đẩy mạnh chính sách thu hút, đào tạo, sử dụng, sắp xếp những lực lượng “xã hội ưu trội, ưu tú” (những trí thức, công nhân, nông dân, doanh nhân, cán bộ, công chức…) vào những vị trí thích hợp để họ có thể phát huy tốt nhất tiềm năng, trí tuệ vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đẩy mạnh hoạt động tôn vinh, kiến tạo môi trường tốt nhất để họ phát triển và cống hiến cho xã hội; đồng thời, cần lan tỏa các điển hình tiên tiến trong tầng lớp này tới các nhóm, giai tầng xã hội khác để họ thấu hiểu và đồng thuận với những đánh giá công bằng, đúng đắn của Đảng, Nhà nước về tầng lớp “ưu trội, ưu tú”
Tám là, thúc đẩy tiến trình công khai, minh bạch hóa các hoạt động giao
Trang 6dịch kinh tế, thúc đẩy kinh tế thị trường vận hành đúng quy luật Gia tăng vai trò, tính hiệu quả của hệ thống thiết chế xã hội trong thực hiện kiểm soát các hành vi sai lệch xã hội, vi phạm pháp luật và tội phạm Tập trung các nguồn lực phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và thực sự xem đây là quốc sách hàng đầu cho sự vươn lên thay đổi địa vị xã hội của đất nước và các giai tầng xã hội Thúc đẩy tinh thần chia sẻ với các nhóm xã hội yếu thế trong xã hội Đồng thời, đẩy mạnh việc giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững gắn với khuyến khích khởi nghiệp, lập nghiệp, làm giàu chính đáng Thực hiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội bao trùm, đa tầng, có hiệu quả Đẩy mạnh việc thực hiện công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho phát triển đối với mọi thành phần kinh tế và giai tầng xã hội Thực sự đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước Đẩy mạnh việc áp dụng các phương pháp lập kế hoạch phát triển theo mô hình từ dưới lên, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn trong giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến phân tầng xã hội
Chín là, để nhận diện và có chính sách kiểm soát phân tầng xã hội ở Việt Nam một cách kịp thời, hiệu quả rất cần xây dựng một hệ thống bộ chỉ báo khách quan, khoa học để đo lường trên tất cả các phương diện phân tầng xã hội
và cần tiến hành nghiên cứu đồng bộ bộ chỉ báo này trên quy mô lớn, nhằm tạo
ra sự đánh giá hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam trên cả ba mặt: địa vị kinh
tế, địa vị chính trị, địa vị xã hội; cũng như làm rõ mối quan hệ, sự tương tác qua lại của 3 mặt phân tầng xã hội Trên cơ sở đó, thấy được thực chất của phân tầng, cắt nghĩa một cách có sức thuyết phục, thấu đáo sự tác động, ảnh hưởng của từng mặt tới phân tầng xã hội và vấn đề kiểm soát phân tầng xã hội, góp phần bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
III LIÊN HỆ THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI XÃ PHẠM VĂN CỘI, HUYỆN CỦ CHI
Xã Phạm Văn Cội là 01 trong 21 xã – thị trấn thuộc huyện Củ Chi, nằm về hướng Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh Diện tích đất tự nhiên 2.329,61 ha, dân
Trang 7số 9.390 người với 2.226 hộ, xã chia thành 5 ấp với 35 tổ nhân dân Người dân trên địa bàn xã chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lao động tại các doanh nghiệp, thương mại dịch vụ có phát triển nhưng còn hạn chế Số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã vẫn còn với 15 hộ nghèo, 63 hộ cận nghèo với tổng cộng hơn 300 thành viên hộ
Xác định đúng đắn quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về giảm thiểu sự chênh lệch và bất bình đẳng giữa các nhóm
xã hội, giữa các giai tầng xã hội, kiểm soát sự phân hóa xã hội; Đảng ủy, Chính quyền xã Phạm Văn Cội xác định công tác xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống mọi mặt của người dân trên địa bàn xã, và công tác giảm nghèo bền vững tại xã là một trong những nội dung quan trong, cần tập trung thực hiện liên tục, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, điều hành
Để thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn từ năm 2010-2015 và
2015-2020 xã luôn tập trung đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển nền nông nghiệp đô thị, tạo ra sự chuyển dịch mạnh
mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, chú trọng phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao Đến năm 2015 và cuối năm 2019 xã được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận là xã nông thôn mới và xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao Thu nhập của người dân từng bước được nâng lên, đời sống được cải thiện, bảo đảm
an sinh xã hội, xây dựng môi trường xã hội nông thôn văn minh lành mạnh, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, phát huy dân chủ cơ sở, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Đến nay sau 10 năm thực hiện, trên địa bàn xã đã có nhiều thay đổi tích cực Có thể kể đến như diện tích trồng trọt và giá trị nông sản ngày càng tăng, số lượng và tổng đàn
bò, heo liên tục tăng qua các năm (diện tích trồng trọt trên địa bàn xã là 107,22
ha, trong đó gồm rau an toàn, cỏ trồng, lan, mai kiểng…; tổng đàn bò tăng lên
610 con, tổng đàn heo là 3.089 con và một số vật nuôi khác như dê, cá cảnh…),
Sau 10 năm, trên địa bàn xã đã có nhiều thay đổi tích cực, từ một xã chỉ có vài doanh nghiệp siêu nhỏ, nay số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn xã
Trang 8tăng lên 74 doanh nghiệp, giải quyết việc làm thường xuyên cho hơn 1.000 lao động tại xã và các địa phương lân cận Bên cạnh đó là hơn 100 hộ kinh doanh, cùng với Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao và 4 tổ hợp tác nông nghiệp khác Hiện nay trên địa bàn xã có 01 Khu Nông nghiệp công nghệ cao với 14 doanh nghiệp đầu tư, thu hút hơn 500 lao động thường xuyên
Với nỗ lực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức, hiện nay bộ mặt nông thôn của xã Phạm Văn Cội đã có sự phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực, kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ, khang trang; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân từ 18 triệu đồng/người/năm năm 2011 lên trên 40,3 triệu đồng/người/năm năm 2015, lên trên 60 triệu đồng/người/năm trong năm 2020 Hộ nghèo theo tiêu chí của Thành phố (thu nhập dưới 36 triệu đồng/người/năm) chỉ còn 58 hộ, cận nghèo 135 hộ Xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, đảm bảo chăm sóc tốt sức khỏe của người dân
Nói về chương trình giảm nghèo bền vững; Đảng ủy, chính quyền xã luôn sâu sát, quan tâm chỉ đạo nhất là công tác điều tra, phúc tra hộ nghèo, hộ cận nghèo sát với thực tế, trong các tổ công tác đó, Đảng ủy trực tiếp phân công các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng ủy xã, các đồng chí là Đảng ủy viên tham gia trực tiếp để nắm bắt, quan tâm chỉ đạo thực hiện chính xác, kịp thời và hiểu thêm hoàn cảnh cụ thể của từng hộ dân khó khăn Bên cạnh đó, khi đã xác định
hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí của Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra, ngoài việc thực hiện các chính sách hỗ trợ chung từ Trung ương, Thành phố triển khai xuống thì xã cũng chủ động đề ra những chương trình, nội dung thiết thực phù hợp với thực tiễn địa bàn xã và đời sống dân sinh tại xã như sau:
Với phương châm “Giúp cần câu chứ không cho con cá”, từ năm 2017 đến nay Ủy ban nhân dân xã đã phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể xã thực hiện nhiều mô hình hỗ trợ người dân thoát nghèo như khảo sát nhu cầu của hộ nghèo để có hướng giúp đỡ phù hợp; gắn kết hộ nghèo tham gia các mô hình liên kết, mô hình đào tạo nghề và tạo việc làm sau học nghề; hỗ trợ trao phương tiện sinh kế, như máy may, xe bán bánh mì, nước mía…, vốn vay,
Trang 9xét tặng quà, trao học bổng Bên cạnh đó đã phối hợp với Trường Trung cấp nghề Củ Chi, Trung tâm dạy nghề Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố
tổ chức các lớp nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, mở các lớp dạy nghề ngắn hạn như Nấu ăn, Cắm hoa, Trang điểm, Pha chế thức uống, Kỹ thuật chăn nuôi… Một số mô hình cụ thể của Chương trình:
- Mô hình “Trao phương tiện sinh kế cho người nghèo” đã phát huy hiệu quả thông qua các điển hình thoát nghèo: Năm 2018 hỗ trợ 01 máy may công nghiệp cho một chị thuộc hộ nghèo ấp 3 để chị nhận đồ gia công về may tăng thu nhập ổn định cuộc sống và 01 máy may công nghiệp tặng cho một chị thuộc hộ nghèo ấp 5 (mỗi phương tiện trị giá 5 triệu đồng) Đến năm 2020, hai hộ gia đình nêu trên đã thoát nghèo, điều kiện kinh tế gia đình được cải thiện rõ rệt Năm 2019, 2020 trao các phương tiện sinh kế như xe bán nước mía, xe bánh mì…cho 05 hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn
- Mô hình học nghề (ngắn hạn): Ủy ban nhân dân và Hội Nông dân xã phối hợp tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn như Kỹ thuật cắm hoa, Kỹ thuật pha chế,
Kỹ thuật nấu ăn…, đã thu hút được nhiều thành viên hộ nghèo tham gia Đồng thời,
để tạo việc làm sau khi học nghề, Ủy ban nhân dân cùng Hội Nông dân xã vận động mạnh thường quân, cũng như hỗ trợ vốn vay cho thành viên hộ nghèo có nhu cầu đầu tư kinh doanh sau khi hoàn thành lớp nghề như mở tiệm bán hoa, tiệm bán bánh, tiệm bán thức ăn sáng Từ đó, góp phần giúp nhiều hộ nghèo địa bàn xã thoát nghèo, nâng cao thu nhập trong hộ gia đình, có điều kiện chăm lo, giáo dục con cái trong gia đình hơn trước đây
Từ kết quả đạt được, cấp ủy, chính quyền và nhân dân xã rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo xây dựng, nâng chất các tiêu chí nông thôn mới, thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững tại địa phương trong giai đoạn tới, đó là:
- Tất cả mọi vấn đề trong lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại địa phương, nguồn nhân lực; huy động nguồn lực nhân dân phải gắn liền với
Trang 10bồi dưỡng sức dân, thông qua các đề án, chương trình hợp lòng dân, được nhân dân hưởng ứng, đồng tâm hiệp lực thực hiện
- Trong thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục người dân có tính quyết định vì không thể chỉ sử dụng các biện pháp hành chính, quyền lực Nhà nước Phải thực sự phát huy vai trò chủ thể của người dân Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng phải là giải pháp quan trọng hàng đầu Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của, trí tuệ và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình là yếu
tố quyết định sự thành công của Chương trình
- Phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể từ xã đến ấp Trong đó, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền
có vai trò quan trọng Thực tiễn cho thấy nơi nào các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự quan tâm vào cuộc thường xuyên, quyết liệt thì trong cùng hoàn cảnh còn nhiều khó khăn vẫn tạo ra sự chuyển biến rõ nét
PHẦN III: KẾT LUẬN
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, bất bình đẳng, phân cực giàu nghèo, phân tầng xã hội là những hệ quả nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội Nhìn chung, khi nói về thực trạng phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay, có thể khẳng định rằng: đang tồn tại khá phổ biến sự phân tầng xã hội theo mức sống, thu nhập Tính phổ biến của hiện tượng thể hiện ở chỗ: sự phân tầng diễn
ra ở mọi địa bàn (đô thị, nông thôn, vùn miền địa lý- lạnh thổ) trong suốt quá trình phát triển và trong mọi bộ phận hợp thành của cơ cấu xã hội Nghiên cứu
về phân tầng xã hội nêu trên đã cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục tìm hiểu một cách khách quan, khoa học về phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, những biểu hiện của phân tầng xã hội và những hệ lụy của nó, cũng như đánh giá được mối tương tác giữa các giai tầng xã hội, từ đó mở rộng và đi sâu nghiên cứu các vấn đề về biến đổi xã hội, di động xã hội, cơ động xã hội với mục tiêu là tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và khái quát lý luận để có thể đề xuất quan điểm và