SKkN năm 2017 1 Mở đầu 1 1 Lí do chọn đề tài1 Văn nghị luận là dạng văn thực hành chiếm tỉ lệ số tiết lớn trong chương trình bậc học THPT Văn nghị luận có vai trò quan trọng không chỉ đối với nhu cầu thời đại hiện đại, mà từ xưa cha ông ta đã sử dụng thể văn này để tuyển chọn nhân tài Đây là bài tổng hợp nhiều tri thức, nhiều kiến thúc, phát huy năng lực tư duy và khả năng lôi cuốn thuyết phục lòng người Văn nghị luận với những đặc trưng có tính phổ quát của thể loại như tính lập luận chặt chẽ,.
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài1.
Văn nghị luận là dạng văn thực hành chiếm tỉ lệ số tiết lớn trong chương trình bậc học THPT Văn nghị luận có vai trò quan trọng không chỉ đối với nhu cầu thời đại hiện đại, mà từ xưa cha ông ta đã sử dụng thể văn này để tuyển chọn nhân tài Đây là bài tổng hợp nhiều tri thức, nhiều kiến thúc, phát huy năng lực tư duy và khả năng lôi cuốn thuyết phục lòng người
Văn nghị luận với những đặc trưng có tính phổ quát của thể loại như: tính lậpluận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, giọng văn hùng hồn; kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹptrí tuệ và vẻ đẹp tình cảm Làm văn nghị luận trong nhà trường chiếm thời lượng khálớn, trong đó nhiều thầy cô vẫn phải loay hoay trong hướng đi còn rất mờ mịt này.Hầu hết giáo viên dạy văn đều nhận ra rằng, dạy làm văn- mà bộ phận chủ yếu làdạy làm văn nghị luận, là một trong số những vấn đề nan giải nhất Trong đời sốnghiện đại, nhu cầu cá nhân phát triển ngày càng cao, tiếng nói cá nhân được phát huythì đòi hỏi kĩ năng nói văn nghị luận, viết văn nghị luận càng nên coi trọng.Vì hơnbao giờ hết, bản lĩnh và năng lực cá nhân trong xã hội hiện đại có đầy đủ điều kiện và
cơ hội phát huy, phát triển Một bài toán khó đang đặt ra với giáo viên dạy văn: trong
xu thế đổi mới của thời đại, học sinh làm văn nghị luận càng có xu hướng được đòihỏi cao hơn, thể hiện và phát huy được năng lực tư duy và nhận thức toàn diện Đây
là con đường phát triển đúng đắn
Để chuẩn bị cho tuổi trẻ một hành trang tri thức, một kĩ năng, một thái độ, một tâm thế là một việc làm cần thiết và chủ động của người thầy Trong đó, thay đổi tư duy và cách thức cho phần làm văn nghị luận của môn Ngữ văn đóng vai trò không thể thiếu Trong phạm vi của môn Ngữ văn, thay đổi cách tiếp nhận, thay đổi cách làm văn nghị luận cũng là tạo cho mỗi người đứng lớp dám đối mặt và vượt quathách thức Biết điều khiển, hướng dẫn các em để được là mình
Thay đổi cách dạy cũ, cách làm bài cũ thâm căn cố đế và dạy kĩ năng làm văn cho học sinh ở vùng sâu vùng xa, đúng là một vấn đề không dễ thực hiện Bản thân làgiáo viên đứng lớp lâu năm, cũng có trải nghiệm và nhìn thấy sự bất cập, lạc hậu trong phương pháp cũ, nên tôi đã mạnh dạn bắt đầu áp dụng vân dụng phương pháp dạy học mới từ vài năm gần đây Thực tế trải nghiệm đã cho tôi những kết quả khả quan, tự tin để chia sẻ và trình bày cùng đồng nghiệp đề tài:
" Nâng cao năng lực làm văn nghị luận góp phần trang bị kĩ năng sống cho học sinh THPT theo tinh thần hiện đại trong thời kì hội nhập".
1.2 Mục đích nghiên cứu2.
- Đối với giáo viên:
Có thể vận dụng một trong những phương pháp hữu hiệu, giúp giảng dạy phầnvăn nghị luận, chủ động vận dụng các kĩ năng thực hành làm văn nghị luận về hiệntượng đời sống và tư tưởng đạo lí có kết quả tốt
- Đối với học sinh:
Tăng cường thêm kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản để đọc- hiểu vănbản nghị luận trong nhà trường
Trang 2Đồng thời, rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghịluận đời sống xã hội theo hướng tích cực và sáng tạo, chủ động nhập cuộc trong xuthế hội nhập, mở cửa.
1.3 Đối tượng nghiên cứu3.
Đề tài này sẽ nghiên cứu, tổng kết về vấn đề:
- Nắm vững kiến thức và rèn luyện các thao tác: Xác định trúng vấn đề nghị luận;
Triển khai luận điểm, tim lí lẽ và dẫn chứng cho bài làm văn nghị luận; Đi sâu vào nội dung trọng tâm của đề tài nghiên cứu: Làm thế nào để tạo giọng điệu lôi cuốn, truyền cảm và mang màu sắc cá nhân trong bài làm văn nghị luận của học sinh THPT.
- Rèn luyện kĩ năng thực hành bằng nhiều hình thức trong giờ chính khóa và ngoại
khóa: thuyết trình, thảo luận, tranh luận, luyện viết đoạn văn.
1.4 Phương pháp nghiên cứu4.
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:
- Các bài nghiên cứu cho các lớp bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình vàsách giáo khoa môn Ngữ Văn – do Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử chủ biên Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin:
Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
1.5 Điểm mới của đề tài.
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm năm học 2016 – 2017:" Nâng cao năng lực làm văn nghị luận góp phần trang bị kĩ năng sống cho học sinh THPT theo tinh thần hiện đại trong thời kì hội nhập."
Năm học 2015 – 2016 tôi thực hiện SKKN: "Rèn luyện năng lực tư duy và kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh THPT từ dạy tích hợp tác phẩm nghị luận trong nhà trường"
Điểm kế thừa là một phần cơ sở lí luận của đề tài và phần rèn luyện kĩ năng làmvăn nghị luận nói chung cho học sinh THPT
Điểm mới của đề tài năm nay:
- Đi sâu vào kĩ năng và giải pháp cụ thể để học sinh được rèn luyện những kĩ năng
cơ bản nhất về làm văn nghị luận về đời sống xã hội, vừa phù hợp với đối tượng làhọc sinh vùng sâu ở nông thôn, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được mối quan hệ mậtthiết giữa việc làm văn nghị luận trong nhà trường với đòi hỏi của thời đại
Trang 3- Chú trọng những giải pháp thiết thực và hiệu quả để góp phần nâng cao chấtlượng bài văn nghị luận cho học sinh đang để thay đổi cách viết giáo điều hiện nay,tạo ra sự hứng thú trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn luyện thực hành, áp dụngcho học sinh khối 11, 12 kể cả giờ học chính khóa và ngoại khóa.
- Đồng thời trang bị cho học sinh một kĩ năng sống, một cẩm nang để chủ động, tựtin vào đời sau khi học xong THPT
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cở sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm6.
Nghị cơ luận là một thể loại văn học đặc biệt: dùng lí lẽ, lập luận, chứng cứ
để bàn luận về một vấn đề nào đó thuộc tất cả những lĩnh vực của đời sống xã hội Luận nghĩa là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia để người đọc nhận ra chân lí, đồng thời tán thành quan điểm và niềm tin của mình Sức mạnh của nghị luận thể hiện ở chiều sâu tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặtchẽ, sắc bén của suy nghĩ và khả năng thuyết phục của lập luận Bằng việc vận dụng các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh văn nghị luận khắc sâu vào lí trí,nhận thức và tâm hồn người đọc, giúp họ hiểu rõ vấn đề đã nêu ra
Ý nghĩa của văn nghị luận thể hiện ở tư tưởng, lí tưởng rõ ràng Bài văn nghị luận phải mang sắc thái cảm xúc và những cung bậc cuả tình cảm để tăng sự lôi cuốn,thuyết phục cho người đọc
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đang diễn
ra trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiềungười ( ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, bạo hành gia đình ) Đó có thể là một hiện tượng tốt hay xấu, đáng khen hay đáng chê
Học sinh cần phải hiểu hiện tượng đời sống được đưa ra nghị luận có thể có ý nghĩa tích cực cũng có thể là tiêu cực, có hiện tượng vừa tích cực vừa tiêu cực, có thểtrong phạm vi trường học, có thể rộng lớn ngoài xã hội
Để viết được một bài nghị luận về đời sống xã hội đúng và hay, giáo viên cần giúp học sinh thấy rõ vai trò của các tri thức và việc vận dụng tổng hợp tất cả các tri thức ấy trong bài viết Một hiện tượng đời sống, một tư tưởng đạo lí, một tác phẩm văn học đều là tổng thành của nhiều tri thức văn hóa Vì thế, người viết cần phải có một vốn hiểu biết sâu rộng Bài văn lại phải diễn đạt những điều mình hiểu cho người khác cùng thưởng thức nên rất cần có năng lực sử dụng tiếng Việt đúng
và hay Trong thực tế, học sinh làm văn nghị luận thường sử dụng nhiều ngôn ngữ sinh hoạt, thậm chí lạm dụng khẩu ngữ
Làm văn nghị luận tức là thể hiện ( nói hoặc viết) những suy nghĩ( tư tưởng, quan điểm); tình cảm( vui hay buồn, căm ghét hay yêu thương); thái độ ( đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán )của mình trước một hiện tượng đời sống, về một tư tưởng đạo lí
Vì thế, người thầy cần luyện cho học sinh trên cả hai phương diện: cách nghĩ vàcách trình bày suy nghĩ bằng sự đa dạng hóa các hình thức luyện tập trong giờ làm văn( câu hỏi, bài tập, trắc nghiệm, tự luận, đề mở )
Dạy làm văn chủ yếu rèn luyện năng lực thực hành Tùy vào từng bài học: Lí thuyết, thực hành luyện tập và trả bài Mỗi hoạt động tìm hiểu một vấn đề, thường
Trang 4theo qui trình từ trực quan, cụ thể ( cung cấp thông tin) đến phân tích, khám phá, phát hiện ( xử lí thông tin), từ đó trao đổi nhận xét và khái quát rút ra kết luận.
Chính vì vậy, trong quá trình dạy làm văn cho học sinh, người thầy phải chỉ ra
sự gần gũi, chứ không phải sự xa lạ giữa văn và thực tế đời sống Do đó, về nội dung, người thầy cần xác định rõ ràng hơn và nhấn mạnh hơn vấn đề đời sống thời sựđược đặt ra cho người nghị luận Về phương pháp, nên bắt đầu từ chỗ học sinh cảm nhận, trải nghiệm từ thực tế, cụ thể là từ những ví dụ rút từ hoạt động nghị luận trongđời sống, trong những tác phẩm nghị luận tiêu biểu đề hình thành và tạo thành những
kĩ năng không hề khô khan, cứng nhắc như lâu nay học sinh vẫn ngại, vẫn sợ
Ở nhiệm vụ này, người thầy phải xác định đây là công việc liên tục, thườngxuyên Không những xoá nhoà ranh giới của việc học tác phẩm nghị luận và kĩ nănglàm văn của học sinh lâu nay đã cố hữu, mà còn tận dụng một cách dạy thực hànhhiệu quả từ những minh chứng cụ thể nhất, sống động nhất ở mọi kĩ năng làm văn từkinh nghiệm bản thân và trải nghiệm với đồng nghiệp
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm7.
Qua điều tra, khảo sát về phía học sinh, qua nghiên cứu chương trình giảng dạyhiện hành, qua kết quả bài làm văn của học sinh và qua dự giờ, trao đổi trực tiếp vớiđồng nghiệp ở trường THPT Thọ Xuân 4, tôi rút ra một số nhận xét về thực trạng củavấn đề nghiên cứu cụ thể như sau:
I.1 Về phía người thầy
Còn tồn tại những hạn chế:
Một là: Giáo viên dạy văn thường coi nhẹ kĩ năng làm văn nghị luận về đời
sống và tư tưởng đạo lí Dạy truyền thụ theo phương pháp truyền thống và dạy sơ sàiqua loa vì học sinh không thích học nên cũng chẳng cần phải đầu tư Trong khâu rèn
kĩ năng làm văn cho học sinh chỉ cần chú trọng cho học sinh làm văn cảm thụ vănhọc, tập trung thể hiện năng lực cá nhân ở những điểm mạnh, chủ yếu phân tích, bìnhgiảng và cảm nhận các tác phẩm văn học Vì đây là lĩnh vực có nhiều đất để khámphá, đào sâu, bừa kĩ
Hai là: Văn nghị luận trong nhà trường hiện nay chưa thoát khỏi lốt khuôn sáo,
công thức lối mòn, cử nghiệp, hầu như bị tách rời với đời sống và nhu cầu đòi hỏi của xã hội hiện đại Nguyên nhân của quan điểm trên là do người thầy cho rằng dạng văn này là kiểu văn hô khẩu hiệu, chưa coi trọng tiếng nói cá nhân của học sinh
Ba là: Người thầy cho rằng kĩ năng làm văn nghị luận về đời sống là do năng
lực tư duy tự có và vốn sống của học sinh Giáo viên không cần đầu tư, mà nếu có chủ động đầu tư cũng không cải thiện được là bao
Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh trong nhà trường là nhiệm vụ kết tinhđầy đủ học với hành, là sự gắn kết lí thuyết và đời sống, là kĩ năng cần và đủ để bộc
lộ rõ nhất nhân cách học sinh chủ động nhập cuộc trong thời đại mở cửa nhưng chưađược người thầy quan tâm đầu tư đúng mức
II.2 Về phía người học
Một là: Học sinh làm văn nghị luận về đời sống hầu như là bắt chước, chưa xác
định đúng và trúng đối tượng nghị luận, chưa tự tin để thể hiện quan điểm, lập trườngcủa bản thân
Trang 5Hai là: Đại đa số học sinh khi lấy phiếu đánh giá và qua điều tra trên lớp, nhìn
chung các em không thích thực hành văn nghị luận nói chung và nghị luận về đời sống nói riêng Thông thường các bài văn nghị luận của học sinh được làm qua loa, đối phó, không có ý thức chủ động tiếp nhận hào hứng khi làm bài Thường biến những bài văn nghị luận thành những bài GDCD nặng kiến thức giáo huấn răn dạy theo lối mòn
Ba là: Học sinh thiếu kiến thức cơ bản về kĩ năng làm văn nghị luận về tư tưởng
đạo lí và về đời sống xã hội, đặc biệt học sinh trường vùng sâu vùng xa như trườngTHPT Thọ Xuân 4 Có bài học sinh chưa phân biệt được đâu là văn nghị luận đờisống với nghị luận văn học có bài sử dụng vận dụng lạm dụng các yếu tố: miêu tả,biểu cảm, tự sự Nhìn chung, các em mất phương hướng khi làm bài văn nghị luận.Học sinh chưa hiểu bản chất, mục đích và đặc trưng của văn nghị luận, vai trò chủ thểcủa người làm văn nghị luận
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng làm văn nghị luận vừa khó vừa khô là do học sinh chưa được đa dạng hóa các hình thức luyện tập Từ các bước lên lớp, các nội dung bài tập đến cách ra đề, kiểm tra đánh giá hết sức khuôn mẫu, ít thay đổi, ít sáng tạo Lỗi này thuộc về chương trình, nhưng để thực sự chuyển biến đổi mới hình thức kiểm tra và đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên đứng lớp Đặc biệt người thầy chưa sáng tạo và linh hoạt trong các tình huống dạy học
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoăc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề8
Trong chương trình hiện hành của SGK, thời lượng giành cho phần văn nghị
luận xã hội về đời sống và tư tưởng đại lí thống kê có 30 tiêt ở cả ba cấp học, cụ thểnhư sau:
Mỗi khối lớp chỉ có 1 bài viết về nghị luận theo phân phối chương trình Nộidung chương trình chủ yếu tập trung rèn luyện kĩ năng: tìm ý, lập dàn ý, các thao tácnghị luận Coi trọng khâu luyện tập vận dụng thực hành kết hợp các thao tác, diễnđạt
Trọng tâm kiến thức và kĩ năng tập trung ở lớp 11 và lớp 12 Thiết nghĩ chươngtrình mới nên thay đổi đưa kiến thức công cụ đẩy lên sớm hơn từ đầu lớp 11 Có nhưthế học sinh mới có thời gian tiếp nhận và rèn luyện các kĩ năng chủ động và hiệu quảhơn Đi vào cụ thể của nội dung kiến thức của mỗi bài học là đúng hướng, đúng trọngtâm nhưng còn nặng rập khuôn và tính thực tiễn của hiệu quả thực hành cho học sinh
là chưa cao, chưa thuyết phục, đặc biệt là áp dụng cho học sinh vùng khó
Theo kinh nghiệm của bản thân đã nhiều năm giảng dạy, đặc biệt là dạy ởmột vùng khó của huyện Thọ Xuân, tôi nhận ra một thực tế: Nếu giảng dạy tác phẩmvăn chương, muốn có sự cộng hưởng rung cảm của người học, cần phải có năng lựcđặc biệt Nhưng dạy tác phẩm nghị luận lại có khả năng tác động trực tiếp tích cực
Trang 6đến nhiều đối tượng, kể cả học sinh trung bình và dưới trung bình Như vậy,nếu biếtđầu tư, người thầy nâng cao năng lực làm văn nghị luận trong nhà trường sẽ có kếtquả tốt hơn làm văn cảm thụ tác phẩm văn chương Sẽ cải thiện đáng kể chất lượnghọc văn và làm văn nói chung Đây cũng là con đường để để phát triển tư duy tổnghợp, tích hợp từ nhiều kiến thức từ đời sống xã hội, cần thiết cho mọi ngành nghề,thích ứng cho việc các em nhập cuộc dễ dàng hơn với xu thế phát triển của thời đại
Vì thế, người thầy cần luyện cho học sinh trên cả hai phương diện: cách nghĩ
và cách trình bày suy nghĩ Cũng chính bài văn là kết quả của những suy nghĩ cá nhânnên rất cần khuyến khích học sinh có được ý kiến riêng, sáng tạo độc đáo không dậpkhuôn, máy móc, chép văn mẫu
Từ việc nắm vững yêu cầu của phương pháp dạy học hiện đại, kĩ năng làm vănnói chung và làm văn nghị luận nói riêng, bản thân tôi xác định bài làm văn của họcsinh không còn đơn thuần là một sự trả bài mang tính chất ép buộc, miễn cưỡngnhững gì đã được học Qua công việc làm văn, tôi đã tạo cho học sinh được tập dượtmột công việc hết sức cần cho đời sống, là tập nói năng cho người khác, vì ngườikhác, chứ không phải vì mình và chỉ cho mình
Trên cơ sở về lí luận và về thực trạng của vấn đề nghiên cứu, tôi đã mạnh dạn cải tiến và áp dụng phương pháp như sau:
2.3.1 Nắm vững kiến thức và rèn luyện các thao tác:
- Xác định trúng vấn đề nghị luận.
- Triển khai luận điểm, tim lí lẽ và dẫn chứng cho bài làm văn nghị luận.
- Tạo giọng điệu lôi cuốn, truyền cảm và mang màu sắc cá nhân.
Các kĩ năng cần rèn luyện trên đều rất quan trọng, song do giới hạn của phạm vi
đề tài, tôi sẽ tập trung đi sâu vào yêu cầu cuối cùng, cũng là kĩ năng quan trọng nhấtphục vụ cho đề tài nghiên cứu
Văn là người Trong xu thế hội nhập và mở cửa, có rất nhiều con đường chocác em lựa chọn tương lai Trước đây, ở nông thôn vùng sâu vùng xa, khi học xongTHPT, sẽ có một bộ phận học sinh đi học đại học và học nghề Đa số các em ở lại địaphương làm nghề truyền thống và lập gia đình, sinh con đẻ cái Nhu cầu giao tiếp và
kĩ năng giao tiếp cũng không được đề cao Thực tế hiện nay, hầu hết các em tốtnghiệp xong cấp III, đều có nhu cầu lập thân lập nghiệp bằng nhiều con đường Dùhọc tiếp đại học, hay học nghề hoặc đi vào công ti liên doanh, các doanh trong hayngoài nước cũng đều cần kĩ năng sống, kĩ năng chủ động, một thái độ dám là mình,phải được là mình Chính tâm tư này làm cho bản thân tôi trăn trở và suy nghĩ: Phảiđịnh hướng và lồng ghép trong giờ học, trong bài làm văn của học sinh như thế nào
để đạt hiệu quả trên?
Việc tổ chức và hướng dẫn học sinh xác định mục đích nghị luận, tìm ý, xâydựng được hệ thống luận điểm trong bài làm văn nghị luận rất cần được vận dụng cáckiến thức đời sống xã hội một cách linh hoạt Đặc biệt là tính lập luận có hệ thống vàvận dụng các thao tác lập luận một cách thuyết phục Có nhiều vấn đề đặt ra trongthực tiễn đời sống gần gũi với học sinh, thanh niên; có nhiều hiện tượng xã hội đã và
Trang 7đang cần sự nhận thức đúng đắn và hành động tích cực của mỗi cá nhân.Vì vậy, cầnsuy nghĩ độc lập và trung thực của người viết Đây là loại bài viết đòi hỏi rất cao đến
sự sáng tạo chủ quan của người viết cũng như nhiều giải pháp đặt ra trong từngtrường hợp cụ thể Rất cần tạo cho các em niềm tin vào bản thân khi xử lí các vấn đềnghị luận
Để thực hiện kĩ năng này có hiệu quả, tôi đã tinh giản lí thuyết, cố gắng làm saocho lí thuyết ấy dẫn đến thao tác, tới việc làm cụ thể mà học sinh thực hiện được.Đồng thời, khi áp dụng các phương pháp từ việc dạy tích hợp tác phẩm, tôi luôn chú
ý đến sự vừa sức của học sinh, hướng tới những gì học sinh có thể đạt tới, có thể làmtheo một cách hứng thú, tích cực Tôi luôn coi trọng hướng học sinh có một cái nhìnnhất quán, mối quan hệ chặt chẽ về học tác phẩm văn nghị luận và rèn kĩ năng tậplàm văn nghị luận Khuyến khích và động viên học sinh thực hành, làm cho nhữngbài văn nghị luận của học sinh là năng lực, là tư duy, là nhận thức, là trách nhiệm đốivới cuộc sống muôn màu Các em được nói và viết những điều các em đang nghĩ,đang quan tâm, được là chính mình
* Xác định mục đích nghị luận.
Phải hướng dẫn học sinh xác định trúng vấn đề, không trình bày mơ hồ,chung chung Vì đặc điểm của bài văn nghị luận là ngắn gọn, súc tích, chặt chẽ đặcbiệt với yêu cầu của một đoạn văn nghị luận theo cấu trúc đề mới ( chỉ còn 200 chữchứ không phải bài văn 400 chữ như trước đây), điều này càng cần thiết
Trong quá trình lên lớp về phần văn nghị luận, tôi đã chỉ ra cho học sinh mộtthực tế khi làm văn nghị luận đời sống: sức lôi cuốn đầu tiên mà người thầy phải địnhhướng phải làm sao dẫn dắt người nghe, người đọc tìm ra chân lí khi cùng tìm hiểu,cùng suy nghĩ, cân nhắc phải trái, đúng sai, chứ không phải ép đối tượng phải côngnhận một cách đơn giản, xuôi chiều, không qua sự sàng lọc nghiêm khắc của tư duy
và tình yêu lẽ phải Đây là cơ sở quan trọng để tôi phải định hướng, xác định rõ đốitượng, mục đích cũng như lựa chọn cho mình một giọng điệu nghị luận vừa dân chủ,vừa trách nhiệm, tránh lối viết gò bó, sáo mòn
Vấn đề đặc trưng của văn nghị luận là sáng rõ tư duy, lí trí dẫn đường chứkhông mơ hồ, chung chung Xác định được đích đến của bài viết thì người viết mớiđịnh hướng tổ chức và sắp xếp ý đồ thuyết phục người nghe theo hướng nào, phân
phối thời lượng và làm cơ sỏ quan trọng cho việc xác định hệ thống luận điểm Chẳng hạn, từ một số đề cụ thể sau đây:
Trang 8Từ các đề trên, nếu giáo viên không xác định rõ mục đích nghị luận, bài viết
của học sinh sẽ sa vào trình bày về hiện tượng học sinh lười học môn lịch sử ra sao,phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi diễn ra như thế nào, rồi những biểu hiện cụ thểcủa tội phạm trẻ em vị thành niên Cái đích nghị luận ở đây là từ việc chỉ ra thựctrạng trên, học sinh phải đưa ra những giải pháp, những cách thức, nhũng đề xuất cánhân mà có sức thuyết phục là tiếng nói chung đại diện của thế hệ trẻ về những vấn
đề nóng hổi của thời cuộc
Thực tế bài làm của học sinh cho thấy, khi không xác định trúng, sáng rõmục đích nghị luận, các em thường viết rất nhạt, rất loãng vấn đề Bài viết không cótrục, không có lõi, thậm chí rơi vào tình trạng viết trùng ý, quẩn ý, không rõ ý, đầuvoi đuôi chuột Kể cả học sinh có năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương tốt cũngkhông hẳn xác định dễ dàng mục đích nghị luận
Mục đích nghị luận cũng là cơ sở ban đầu tạo cho các em bản lĩnh được lêntiếng, được công khai đưa ra quan điểm, được dẫn dắt thuyết phục người khác có lôicuốn được hay không phải đi từ điểm khởi đầu này
* Hướng dẫn học sinh xây dựng luận điểm.
Thao tác thường xuyên được tôi áp dụng là bất kì dạy một tác phẩm nghị luậnnào trong chương trình, từ dễ đến khó, đều bắt buộc học sinh phải tìm hệ thống luận
điểm của tác phẩm nghị luận và mối quan hệ chặt chẽ của của các luận điểm trong hệ
thống lập luận của các tác giả Tôi thường yêu cầu cho học sinh thấy rõ, nhận ra vaitrò tư duy sáng rõ, mạch lạc của văn nghị luận từ hệ thống luận điểm
Trên thực tế, nhiều học sinh làm văn rất lúng túng, bài viết khồng có luận điểm,không rõ luận điểm, nhiều em cho rằng luận điểm là những ý chính trong bài
Từ bài làm của học sinh, tôi đã chỉ ra cho học sinh hiểu: Tại sao cần phải có hệ
thống luận điểm trong bài nghị luận? Phân biệt ý chính và hệ thống luận điểm trong bài làm văn nghị luận? Điểm giống và khác?
- Đều là ý cơ bản, ý quan trọng nhưng ý chính có thể tồn tại độc lập nhưng hệ
thống luận điểm thể hiện mối quan hệ chặt chẽ gữa các ý, chuyển tải rất rõ ý đồ vàmục đích nghị luận
Tôi đã tổ chức hướng dẫn học sinh xây dựng hệ thống luận điểm theo sườn chínhsau:
+ Vai trò( ảnh hưởng) của vấn nghị luận đối với đời sống( hoặc tư tưởng đạo lí) con người như thế nào?
+ Thực trạng ( Vấn đề nghị luận đã và đang có tác động tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực?) Nguyên nhân? Hậu quả?
+ Có những giải pháp, đề xuất, nguyện vong của cá nhân cụ thể ra sao để phát huy theo chiều hướng tích cực vấn đề nghị luận?
Từ khung sườn chính trên, học sinh đã nhận ra mối quan hệ qua lại chặt chẽcủa hệ thống luận điểm: luận điểm 1 làm cơ sở cho luận điểm 2, luận điểm 3 Ngượclại , luận điểm 3 phải được làm sáng tỏ từ luận điểm 1 Học sinh nào biết xây dựngluận điểm, các em hoàn toàn chủ động trong hướng viết, không quẩn ý, trùng ý, vànhiệt tình nghị luận được chi phối từ tư duy, lí trí dẫn đường
Trong đó, cho học sinh xác định luận điểm trọng tâm để làm cơ sở lựa chọnhướng chủ động và phân phối thời gian hợp lí
Trang 9Trước khi làm bài, tôi thường yêu cầu bắt buộc học sinh phải xây dựng hệđược hệ thống luận điểm, và tạo thành thói quen cho bài làm văn ngay từ lớp 10.Đây là thao tác để tạo cho bài viết sự cân đối, hợp lí về thời gian, dung lượng, hướngviết mạch lạc, rõ ràng Mỗi đề văn, có thể dành thời gian từ 3 đến 5 phút ban đầu đểtìm ý nhanh và xây dựng hệ thống luận điểm Khi ra đề vận dụng luyện tập, giáo viênnên chọn những vấn đề mở, mà đề bài đã có sự định hướng ngầm về mục đích và hệ
thống luận điểm cho học sinh Sau đây là một số đề ứng dụng minh chứng:
Đề1
Tình trạng học văn của lớp em đang có chiều hướng tiêu cực.
Từ việc dạy của thầy và việc học của trò, anh chị hãy mạnh dạn trình bày quan điểm của mình.
Đề 2
Tập thể lớp em chia tách thành nhiều nhóm bất đồng quan điểm.
Hãy trình bày quan điểm và đưa ra hướng giải quyết thiết thực nhất.
Ở đề 1 và đề 2, học sinh dễ dàng tìm được luận điểm cơ bản là: thực trạng họcvăn của lớp em có biểu hiện tiêu cực như thế nào-> nguyên nhân từ hai phía: thầy vàtrò ->Giải pháp và đề xuất cá nhân
Với đề 3 và đề 4, yêu cầu học sinh phải sử dụng lí lẽ và lập luận để xây dựngluận điểm và xác định mục đích nghị luận cao hơn Phải chỉ ra đồng thời mặt tích cực
và tiêu cực của vấn đề Từ đó đánh giá mức độ và lí giải theo năng lực cá nhân đểthuyết phục người nghe theo quan điểm của mình
* Chọn và đưa dẫn chứng như thế nào?
Học sinh chỉ có thể hoàn toàn thuyết phục được đối tượng nghị luận của mình
chỉ khi quan điểm, ý kiến của mình phù hợp với lẽ phải và sự thật hiển nhiên, cónghĩa là phải lựa chọn được dẫn chứng và đưa ra lí lẽ để xây dựng luận cứ phải thực
sự thuyết phục Bởi chỉ thuyết phục được một người đang hoài nghi bắt đầu từnhững gì mà chính người ấy cũng đang tin tưởng Con đường nghị luận phải đi từ lẽphải và sự thật thích hợp và đã được công nhận, vươn ra những kết luận trung gian,
để đạt đến mục đích cuối cùng
Trong thực tế, bài làm của học sinh tồn tại những nhược điểm dễ thấy: bài viếtkhông có dẫn chứng Đây là những bài viết chung chung, khô khan, không thuyếtphục Hoặc bài viết đưa dẫn chứng nhưng sa vào kể lể, liết kê dông dài lại làm loãngvấn đề nghị luận Thậm chí có bài sử dụng dẫn chứng văn học để làm nguồn minhchứng cho một hiện tượng đời sống
Dẫn chứng đưa vào bài nghị luận đời sống xã hội phải tiêu biểu, có sức thuyếtphục cao, thể hiện rõ dụng ý của người viết dẫn dắt tới cái đích cần nghị luận Vớidung lượng một đoạn văn khoảng 200 chữ như yêu cầu đề thi hiện nay, sử dụng dẫnchứng càng phải ngắn gọn và có lượng thông tin cao Nên sử dụng phương phápthuyết minh: liệt kê, nêu số liêụ đồng thời biết xử lí số liệu để làm sáng tỏ nguồn
Trang 10minh chứng Không sa vào kể, miêu tả hay biểu cảm Không chú trọng giảng giải dàidòng như tồn tại thường thấy trong bài làm văn của học sinh Vì nhiệm vụ của dẫnchứng là phục vụ cho lí lẽ.
Dẫn chứng phải lấy từ đời sống Đòi hỏi học sinh có vốn sống phong phú, cókhả năng nắm bắt và thu thập thông tinh nhanh nhạy để tạo sự tin cậy và tính cậpnhật thời sự của vấn đề Tránh đưa dẫn chứng văn học vào văn nghị luận Hiện tượngnày học sinh còn nhầm lẫn và thậm chí rất tự tin khi đưa và phân tích dẫn chứng vănhọc Vì hình tượng văn học đã qua hư cấu sáng tạo, không còn người thực việc thực
sẽ làm cho bài viết mơ hồ, thiếu sự sống của hiện thực đời thường
Như vậy để có dẫn chứng tốt cho một bài văn nghị luận đời sống, giáo viên cũng
đã hình thành cho học sinh khả năng quan sát, suy nghĩ và đánh giá các hiện tượngxảy ra quanh các em trong cuộc sống đời thường Đồng thời cũng rèn luyện tư duynăng động khi tiếp nhận và lựa chọn nhiều luồng thông tin đa dạng và trái chiều.Tránh bài viết thiếu dẫn chứng Nếu có hệ thống luận điểm, lí lẽ sáng rõ, chặt chẽnhưng thiếu dẫn chứng thì bài viết sẽ sa vào chung chung, thiếu thuyết phục
* Tạo giọng văn truyền cảm, lôi cuốn, có màu sắc và bản lĩnh cá nhân.
Kể cả người dạy và người học, dường như từ xưa đến nay đều quan niệm:Học và làm văn nghị luận vừa khô vừa khó Khô vì khôn được thể hiện cảm xúc Khó
vì nói và viết làm sao để có độ tin cậy, có sức thuyết phục Trong khi làm văn cảmthụ văn học học sinh được thể hiện tình cảm, cảm xúc dạt dào thông qua hình tượngvăn học…Quan niệm giáo điều như thế là cái nhìn thiên lệch và thiếu thực tế
Đây là kĩ năng tốn nhiều thời gian và công sức cho cả thầy và trò Đây cũng
là kĩ năng mà bản thân tôi đã thực sự tâm huyết cho đề tài nghiên cứu
Trong quá trình lên lớp, bản thân tôi rất coi trọng kĩ năng này Tôi đã nhậnthấy qua trải nghiệm chấm bài của học sinh: Học sinh làm văn nghị luận về đời sống,viết đúng thì dễ nhưng muốn tạo sự lôi cuốn thuyết phục lòng người, muốn tạo dấu
ấn cá nhân cho bài viết phải có giọng điệu Điều này tôi đã cố gắng lồng ghép khi dạynhững tác phẩm nghị luận tiêu biểu đều đã chỉ ra cho học sinh cảm nhận sâu sắc.Trong thực tế học sinh có thích tác phẩm nghị luận hay không, lại cũng chịu sự tácđộng rất lớn từ tác nhân này
Để rèn luyện cho học sinh có được giọng văn nghị luận về đời sống lối cuốn vàthuyết phục lòng người, tôi đã tập trung vào hai con đường chính sau:
+ Vận dụng từ việc học tập cách thể hiện giọng điệu của các tác phẩm nghị luận tiêu biểu
Trong quá trình rèn luyện thực hành làm văn nghị luận cho học sinh, tôi luôn ýthức cho học sinh nhận rõ: mỗi tác phẩm nghị luận là sự tổng hợp kiến thức văn hoá,
là sản phẩm kết tinh từ một sự hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực: văn hoá, chínhtrị, kinh tế, lịch sử, địa lí, triết học…
Bởi vì những tác phẩm nghị luận tiêu biểu đặc sắc từ xưa đến nay đều được
viết bằng cảm xúc, tình cảm trực tiếp, giãi bày không giấu giếm: Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bàn về phép học, Chiếu cầu hiền của nghị luận thời trung đại; Tuyên ngôn độc lập, Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn học dân tộc, Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/ AIDS của nghị luận hiện đại, là những minh chứng
hùng hồn Có chăng, cảm xúc trong bài văn nghị luận phải được viết ra không được
Trang 11mang tính cụ thể, cá nhân, mà bao giờ cũng là tiếng nói đại diện tiêu biểu, có nghĩa là
cảm xúc đã được lí trí, tư duy dẫn đường.
Ví dụ: Khi dạy tác phẩm: " Nguyễn Đình Chiểu- ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc " ( Ngữ văn 12- tập I), người thầy đều dễ dàng nhận ra sức truyền cảm thuyết
phục ở lí trí và tình cảm quyện chặt trong mỗi dòng văn Ngay từ những dòng đầu củatác phẩm, Phạm Văn Đồng đã biểu lộ cảm xúc nồng nàn của mình Thái độ yêu ghétrành mạch rõ ràng luôn được biểu lộ, khiến trang sử của cha ông sống dậy có hình, có
khối và người viết đã thiết lập được sự kết nối giữa xưa và nay Khi dạy " Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/ ADIS " (Ngữ văn 12- tập I) của tổng thư kí liên
hiệp quốc Côphi- An nan, có thể ban đầu người đọc dễ nhầm tưởng chỉ là một thôngtin hành chính phổ cập trên toàn thế giới Mặc dù là một văn bản dịch không giữđược nguyên văn, nhưng sức truyền tải lớn lao của nó không chỉ là những con số,những vấn đề nghiêm trọng mang tính toàn cầu, mà là ở giọng điệu Cô phi- An nan
đã sử dụng một giọng văn vừa điềm tĩnh, khách quan nhưng cũng đầy trách nhiệm,thấu hiểu và lo lắng Viết về thực trạng tồn tại của công cuộc phòng chống đại dịch,với vai trò rường cột của cuộc chiến, ông hoàn toàn có quyền chê trách, chỉ trích nặng
nề về việc phòng chống chưa triệt để làm đại dịch bùng phát gia tăng Song ông đã tự
vấn khi dùng những từ ngữ đầy trách nhiệm và sự hối tiếc, hối hận: " Lẽ ra " được lặp
lại nhiều lần trong một đoạn văn để tự kiểm điểm Giọng điệu này đã tác động trựctiếp đến người đọc, thức tỉnh trách nhiệm và bổn phận cá nhân trước cộng đồng màkhông cần lời lẽ ồn ào, đao to búa lớn
+ Luôn có ý thức " tôi lên tiếng" để tạo giọng điệu và dấu ấn bản lĩnh cá nhân
Để tạo được một giọng văn nghị luận truyền cảm và thuyết phục lòng người,
người thầy thực sự phải thay đổi tư duy, phải phá vỡ khoảng cách ngầm với học sinh,thậm chí phải dám đối mặt với những cách nghĩ, cách nhìn nhận mang nặng cái tôi cóphần lệch lạc của học trò, mà một người thầy truyền thống rất khó chấp nhận và thíchnghi Nhưng nếu không tạo cho học sinh được chia sẻ thoải mái, ta sẽ không chỉ rađược cái không nên, cái chưa được của học trò
Bản thân tôi rất chú trọng dạy cách suy nghĩ và cách thể hiện, trình bày suynghĩ của học sinh Khuyến khích các suy nghĩ riêng, độc đáo Đây chính là mục đíchcủa bài làm văn Vì bản chất của làm văn nghị luận tức là thể hiện ( nói hoặc viết)những suy nghĩ( tư tưởng, quan điểm); tình cảm( vui hay buồn, căm ghét hay yêuthương); thái độ ( đồng tình hay phản đối, ca ngợi hay phê phán )của mình trướcmột hiện tượng đời sống xã hội, hoặc một tư tưởng đạo lí
Để rèn luyện cho học sinh viết văn nghị luận có giọng điệu nghị luận thuyết
phục, tôi đã đòi hỏi học sinh phải nhập cuộc, không đứng ngoài cuộc, phải chịu tráchnhiệm trước vấn đề mình giải quyết
Học sinh phải ý thức sâu sắc về vai trò của mình dù ở mức độ nào cũng cần
thái độ thẳng thắn, chân thành
Giọng điệu trong bài văn nghị luận phải thể hiện rõ quan điểm và thái độ củangười viết Điều cần lưu ý, dù khen hay chê, dù là vấn đề làm người viết bức xúc, bấtbình nhưng động cơ, mục đích là phải hướng tới những giải pháp, những đề xuất tíchcực và tối ưu trong khả năng của người viết
Chẳng hạn, viết về bạo lực gia đình, không nên chỉ ra thủ phạm là bố mẹ màcon cái vô can vì người lớn phải chịu trách nhiệm Đóng vai trò là người con phải ý
Trang 12thức được tiếng nói và sợi dây gắn kết yêu thương trong tổ ấm gia đình thì học trò sẽ
có cách viết của người trong cuộc Hoặc vấn đề " Tôn sư trọng đạo" trong đời sốnghọc sinh thời nay, nhức nhối bạo lực học đường, không chỉ chịu trách nhiệm là một
bộ phận học sinh bị xuống cấp về đao đức Phải để cho học sinh nhìn thẳng vào sựthật từ hai phía: Trò chưa ngoan, thầy chưa mẫu mực Không nên né tránh để ép họcsinh trình bày những điều giáo điều lí thuyết suông, coi người thầy lúc nào, bao giờcũng là tấm gương sáng Cần chỉ ra cái nhìn phản diện từ nhiều chiều: Kiến thức thầy
cô còn hổng, dạy theo lối mòn sách vở, hay đe nạt vô cớ, ép học sinh thu tiền khôngminh bạch rõ ràng Làm thầy cô, làm bố mẹ bao giờ chả đúng, khi con cái, học sinhtranh luận đúng sai thì sẽ bị kết tội hỗn láo, xấc xược
Điểm yếu của học sinh nông thôn, vùng sâu vùng xa là thiếu tự tin, không dámthể hiện chính kiến, thường nói và viết theo định hướng có sẵn của thầy cô đã mặcđịnh Bài làm của các em đều na ná giống nhau khi viết văn nghị luận về một vấn đề
Làm thế nào phải khơi dậy được tự tin và tạo được một cách viết dân chủ để tạo nên
sự sẻ chia, đồng tình, thông cảm, đồng cảm với đối tượng nghị luận và đối tượnghướng tới? Đây là một câu hỏi thường trực trong suy nghĩ của bản thân tôi khi tổchức hướng dẫn học sinh tạo được giọng điệu của mình trong bài văn nghị luận
Tại sao phải rèn luyện cho học sinh có tinh thần đối thoại dân chủ trong bài vănnghị luận?
Đây là chìa khoá giúp cho học sinh tự giải toả mặc cảm, định kiến là bài vănnghị luận viết khó và viết khô khan Học sinh thường tạo khoảng cách lễ nghĩa vớithầy cô trong bài làm văn: nói và viết cho người trên Không được viết những điều
người lớn không thích Trong cách xưng hô, đại từ nhân xưng xuất hiện là "em", " chúng em" lễ phép, chuẩn mực Thực tế là khi vận dụng vào bài làm văn của học
sinh, tôi đã khuyến khích học sinh viết thoải mái, được thể hiện vai trò chủ động tựquyết khi trình bày và chia sẻ Từ đề bài yêu cầu, hầu hết đã có câu lệnh: Anh ( chị)suy nghĩ, trình bày quan điểm, thái độ Có nghĩa là yêu cầu của chương trình mới đãđòi hỏi học sinh có quyền bình đẳng và được quyền dân chủ khi được bàn luận vấn đềnghị luận Nghĩa là các em đang được tập làm người lớn Mà thầy cô lâu nay vô tình
đã tước đi cái quyền rất quan trọng này của các em
Tôi đã rất tâm đắc với hướng tiếp cận về bản sắc văn hóa dân tộc trong bài viết "
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc " của Trần Đình Hượu( Ngữ văn 12- tập 2) Một lối viết
sắc sảo không chỉ ở vốn kiến thức sâu rộng, lịch lãm; một lối tư duy khoa học, sáng
rõ, một thái độ và một giọng văn rất điềm tĩnh Vào thời điểm bài tiểu luận ra đời,người ta vốn quen nghe những lời ca tụng về dân tộc mình, bởi vậy khi tiếp cận bàiviết với cách đặt vấn đề này, nhiều người tưởng rằng tác giả đã cực đoan Trần ĐìnhHượu đã thoát khỏi thái độ hoặc ca ngợi, chê bai đơn giản thường thấy khi tiếp cậnvấn đề Điều đáng khâm phục ở bài viết là tác giả đã chỉ ra những điểm yếu, nhữngnhược điểm trong văn hóa, ứng xử của người Việt Nam với một thái độ đầy tráchnhiệm Từ đó, thấy được nguồn cảm hứng thật sự của tác giả và cái đích xa mà ônghướng đến: góp phần xây dựng một chiến lược phát triển mới cho đất nước, đưa đấtnước thoát khỏi tình trang nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển hiện thời
Từ sự thuyết phục lòng người của các tác phẩm nghị luận như trên, tôi đã trăntrở và khéo léo khuyến khích học sinh biết bày tỏ quan điểm, khen chê rõ ràng với