Cơ sở lý luận vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học mác-lênin 1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất 1.1.1 Lực lượng sản xuất Bất k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI:
“Vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và
việc học tập của sinh viên hiện nay”
Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Phương
TP Hồ Chí Minh, Ngày 28 tháng 06 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC ĐỀ MỤC Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Cơ sở lý luận vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trong triết học mác-lênin 3
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất 3
1.1.1 Lực lượng sản xuất 3
1.1.2 Quan hệ sản xuất 4
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất .4
2 Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay 7 2.1 Ý nghĩa thực tiễn đối với cuộc sống 7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn đối với việc học tập của sinh viên 9
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Theo dòng lịch sử, từ thời kỳ nguyên thuỷ đến nay thì loài người chúng ta
đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đó là: thời kỳ công xã nguyên thuỷ, thời
kỳ chiếm hữu nô lệ, thời kỳ phong kiến, thời kỳ tư bản chủ nghĩa và thời kỳ
xã hội chủ nghĩa Trong đó họ không ngừng lao động và sản xuất để có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về ăn uống và các vắn đề khác nhau Ở mỗi thời
kỳ thì họ lại có một hình thái sản xuất khác nhau
Bất kì một quá trình sản xuất nào, tuy khác nhau về quá trình sản xuất nhưng lại có điểm trung là cần phải có các nhân tố về người lao động cùng các
tư liệu sản xuất nhất định Trong đó các yếu tố về con người cùng tư liệu sản xuất mà tôi muốn nói đến ở đây là lực lượng sản xuất Nhưng đã lực lượng sản xuất sẻ không thể tạo thành một quá trình sản xuất hoàn trỉnh khi thiếu đến yếu tố quan hệ sản xuất Như vậy, ở đây tôi muốn nói đến 2 yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất đó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mà hai vấn đề này là hai vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênnin Đặt biệt tôi muốn hiểu xâu hơn về các vấn đề của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội ngày nay có ý nghĩ như thế nào? Qua đó tôi sẻ vận dụng các vấn đề ở trên để hiểu rỏ hơn về vấn đề biện chứng của triết học Mác-Lênin đã đưa ra trong đời sống xã hội
Từ những nhân tố trên tôi muốn làm rỏ hơn về vấn đề biện chứng của
lực lược sản xuất và quan hệ sản xuất nên tôi đả chọn chủ đề “Vấn đề biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay ”
Nội dung nghiên cứu
• Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - Tìm hiểu về
ý nghĩa của vấn đề
- Đưa ra nhưng ứng dụng của vấn đề
- Ý nghĩa của vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
Trang 4hệ sản xuất
• Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên tôi cần tìm hiểu những cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin về vấn đề biện chúng giữa lực
lượng sản xuất
- Từ những cở sở lý luận trên, tôi sẻ ứng dụng vào thực tế để tìm
ra ý nghĩa của vấn đề đối vơi cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện
nay
Kết cấu bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài tiểu luận gồm 2 phần chính:
1 Cơ sở lý luận vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học Mác-Lênin
2 Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay
1 Cơ sở lý luận vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong triết học mác-lênin
1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
1.1.1 Lực lượng sản xuất
Bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc về người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức,… của người lao động) cùng các tư liệu sản xuất nhất định (như đối tượng lao động, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất,… ) Toàn bộ các nhân tố
đó tạo thành lực lượng sản xuất của các quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người
Trang 5Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người Như vậy, lực lượng sản xuất là những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử Do đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người: trình độ thủ công của lực lượng sản suất phản ánh trình độ chinh phục giới tự nhiên thấp hơn rất nhiều so với lực lượng sản xuất ở trình độ kỹ thuật công nghiệp và công nghệ cao
Trong các nhân tố tạo thành lực lượng sản xuất, “người lao động” là nhân
tố giữ vai trò quyết định Bởi vì, suy đến cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các
tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động Mặt khác, trong tư liệu sản xuất, nhân tố công cụ lao động là nhân
tố phản ánh rỏ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thể hiện tiêu biểu trình độ con người trinh phục giới tự nhiên
Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất
của quá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn
ra nếu thiếu một trong hai yếu tố là người lao động và tư liệu sản xuất.Thế
nhưng, chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được, mà còn cần phải có những quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình ấy
1.1.2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ
sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức-quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất Những quan
hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung
tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm
Trang 6Quan hệ về tổ chức-quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn
người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là "chất xúc tác" kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của quá trình đó Trong đời sống hiện thực, không có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên nào lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất đinh Ngược lại, cũng không
có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất lẫn nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức-quản lý quá trình sản xuất và phân phối kết quả của quá trình sản xuất Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể được duy trì, khai thác-sử dụng và không ngừng phát triển Ngược lại, lực lượng sản xuất của một xã hội chỉ có thể được duy
Trang 7trì, khai thác-sử dụng và phát triển trong một hình thức kinh tế-xã hội nhất định
Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân
theo tính tất yếu khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác đinh; bởi vì,
quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế-xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó Tuy nhiên, quan
hệ sản xuất với tư cách là hình thức kinh tế-xã hội của quá trinh sản xuất, luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực và tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phụ hợp hay không phù hợp có quan hệ sản xuất với trình độ của của phát triển của lực lượng sản xuất Nếu phù hợp sẽ có tác
dụng tích cực và ngược lại, không phù hợp sẽ có tác dụng tiêu cực - Mối
quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hoá thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn
Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế-xã hội xác định, lực lượng sản xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng được khai thác-sử dụng và phát triển trong quá trình sản xuất, tái sản xuất của xã hội Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước đến nay đóng vai trò là hình thức kinh
tế-xã hội cho sự phát triển của nó Những quan hệ sản xuất này, từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của các lực lượng sản xuất đã trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã tạo ra mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thống nhất giữa chúng Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hê sản xuất , C.Mác đã từng chỉ ra rằng: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với các mỗi quan
hệ sản xuất hiện có…, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chổ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bất đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” Chính nhờ các cuộc cách mạng xã
Trang 8hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới
Như vậy, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế-xã hội của quá trình sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những khác biệt và đối lập, xung đột, từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải được giải quyết theo nguyên tắc quan
hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Sự vận động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy luật “từ những sự thay đổi
về lượng thành những sự thau đối về chất và ngược lại”, quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn
ra với tính chất tiên tiến, tuần từ, lại vừa có tính nhảy vọt với bước đột biến,
kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng cao hợn
Mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nội dung cơ bản của “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” Sự tác động của quy luật này tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất, nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội
2 Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay
2.1 Ý nghĩa thực tiễn đối với cuộc sống
Qua cơ sở lý luận của vấn đề biện chứng về lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất ta cũng thấy được đây, mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ thống nhất biện chứng và mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hoá thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn Qua hai mối quan
hệ đó thì chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác-Lênin về vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã có ý nghĩa thực tiễn to lơn đối với xã hội
Trang 9Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử
xã hội loài người
Về mối quan hệ thống nhất biện chứng thì trong một giai đoạn lịch sử nào đi nữa quá trình sản xuất luôn có hai mặt cơ bản đó là lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất Hai mặt này luôn phối hợp và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình đó Đó là về mặt cơ sở lý luận còn về ý nghĩa trong cuộc sống thì mối quan hệ này sẽ làm cho cuộc sống thay đổi theo một hướng nào đó Trong đời sống ta luôn phải song song cùng nhau phát triển cả hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vì mỗi lực lượng sản xuất ở một thời kì lịch sử nhất định điều yêu cầu phải có quan hệ sản xuất phù hợp với nó và ngược với mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn luôn có khả năng tác động trở lại nội dung vật chất để làm cho quán trình sản xuất phát triển hay là suy thoái điều do sự phù hợp và tác động của quan hệ sản xuất gây
ra Ví dụ trong đời sống với sự thay đổi của công cụ lao động, chuyển từ lao động từ dụng cụ thô sơ sang nhưng công cụ hiện đại, tiên tiến làm cho quan
hệ sản xuất mới phải hình thành để cho phù hợp với lực lượng sản xuất hiện tại, thực tế như là từ thời xưa cha ông chúng ra với nghề trồng lúc nước thì chỉ với công cụ lao động là cày, bừa,… nhưng đến hiện tại vì muốn phát triển, giản sự cực nhọc và sức người thì họ bất đầu cải tiến các công cụ thô sơ bằng các loại máy liên hợp, máy cày,…từ sự thay đổi đó thì quan hệ sản xuất mới cũng được hình thành để phù hợp với đời sống của họ Đó chỉ là sự tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất, còn sự tác động của quan hệ sản xuất đến lực lượng sản xuất sẽ làm cho quá trình đó diễn ra theo một cách tích cực hay tiêu cực thì do quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có phù hợp hay không phù hợp với nhau
Mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hoá thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn thì lại là lúc này lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã ở trong một trạng thái ổn đinh Với tính ổn định, phù hợp của quan
hệ sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng tính phát triển của lực lượng sản xuất lại tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của nhưng quan hệ sản xuất từ trước đến nay với vai trò là hình thức kinh tế xã hội cho sự phát triển của có Như vậy lúc này hình thức kinh tế
Trang 10xã hội đã kìm hãm đi sự phát triển của lực lượng sản xuất Từ ví dụ thực tế ở trên ta có thể thấy được nếu cộng cụ lao động phát triển theo hướng đi lên, theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá thì ở đây hình thái kinh tế xã hội hiện tại không đáp ứng được nhu cầu gâp ra sự kìm hãm, sự kìm hãm đó sẽ dẫn tới cách cuộc cách mạng xã hội để thay đổi mối quan hệ sản xuất củ thành mối quan hệ sản xuất mới Như thực tế, đến khi công cụ lao động bằng tay như cày, bừa, cuốc,… phát triển đến một công cụ lao động bằng máy thì quan
hệ sản xuất củ đã kìm hãm lại làm cho các mối quan hệ sản xuất bất ổn, nên phải thay thế quan hệ sản xuất mới để phù hợp nhu cầu trong quá trình sản xuất
Nhìn chung thì qua hai môi quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì Đãng và Nhà nước ta dã vận dụng triệt để ý nghĩa của nó Để đưa nước ra từ một nước chưa phát triển lên một thành một đất nước đang phát triển khá nhanh Ở nước ta, nền kinh tế trị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định từ Đại hội VII: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và được tiếp tục khẳng định qua các Đại hội VIII, IX và X Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nếu Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế
độ mới thì việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp Quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số 04NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban châp hành trung ướng Đảng (khoá VII) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ngày 14/01/1993
2.2 Ý nghĩa thực tiễn đối với việc học tập của sinh viên
Đối với xã hội thì con người đã vận dụng triệt để ý nghĩa thực tiễn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Và đối với việc học tập của sinh viên cũng vậy Các giảng viên cán bộ cùng với sinh viên của nhà trường cũng vậy, đều vận dụng triệt để ý nghĩa thực tiễn biên chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để việc học tập của các bạn sinh viện càng phát triển tốt hơn
Với thời kì công nghệ phát triển, thì việc học tập của sinhh viên đã dễ hơn rất nhiều so với trước đây Cung với công nghệ thì việc giảng dạy của đội ngủ giảng viên trong môi trường đại học đã có những bước phát triển mới