1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng di dân và phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên Di dân tự do và những hậu quả với phát triển kinh tế ở Tây Nguyên

16 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 56,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đất nước, việc di ở Việt Nam những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ. Quá trình này có những tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế xã hội: một mặt, tạo ra sự cân bằng về lực lượng lao động giữa thành thị và nông thôn, người lao động có thêm thu nhập để nâng cao mức sống của bản thân và gia đình, có cơ hội để học tập và phát triển; mặt khác, gây ra tình trạng thiếu hụt lao động ở nông thôn vào những thời điểm thu hoạch mùa màng và tạo ra sức ép đối với các thành phố lớn.

Trang 1

HIỆN TƯỢNG DI DÂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN DI DÂN TỰ DO VÀ NHỮNG HẬU QUẢ

VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở TÂY NGUYÊN

MỞ ĐẦU

Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đất nước, việc di ở Việt Nam những năm gần đây diễn ra mạnh mẽ Quá trình này có những tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội: một mặt, tạo ra sự cân bằng về lực lượng lao động giữa thành thị và nông thôn, người lao động có thêm thu nhập để nâng cao mức sống của bản thân và gia đình, có cơ hội để học tập và phát triển; mặt khác, gây ra tình trạng thiếu hụt lao động ở nông thôn vào những thời điểm thu hoạch mùa màng và tạo ra sức ép đối với các thành phố lớn

Do những đặc thù về hoàn cảnh địa lý, tự nhiên và dân cư, dân tộc, trong lịch sử và nhất là trong những thập niên sau ngày giải phóng, Tây Nguyên được coi là vùng lãnh thổ có vị trí chiến lược về kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng của cả nước Trong những năm qua, nhất là từ sau năm 1990 đến nay, Chính phủ cùng các ngành các cấp ở trung ương, địa phương đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục và giải quyết tình trạng di dân vào Tây Nguyên Mặc dù vậy, khi nhanh khi chậm, lúc âm thầm, lúc công khai, tình trạng di dân, nhất là di dân tự do đến Tây Nguyên vẫn tiếp tục diễn ra, cũng như những hệ quả mà nó gây ra vẫn ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế xã hội của vùng và của các dân tộc thiểu số tại chỗ Di cư là nguyên nhân chính gây thiếu đất sản xuất, phá rừng lấy đất trồng trọt, quá tải cơ sở

hạ tầng điện đường, trường, trạm, dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc mới đến và các dân tộc tại chỗ, cũng là nguyên cớ chủ yếu gây bất ổn xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị trong các dân tộc thiểu

số tại chỗ

Tình hình và bối cảnh trên đòi hỏi cần có một nghiên cứu toàn diện và cụ thể về thực trạng di dân và tác động của di dân tới kinh tế - xã hội của các dân tộc

Trang 2

thiểu số tại chỗ Tây Nguyên, từ đó, đưa ra những quan điểm, kiến nghị và giải pháp như là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách phù hợp

và khả thi nhằm hạn chế và hoá giải các tác động tiêu cực của hiện tượng xã hội

này Trong khuôn khổ bài viết, tác giả xin được làm rõ vấn đề “Hiện tượng di dân

và phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên Di dân tự do và những hậu quả với phát triển kinh tế ở Tây Nguyên”.

NỘI DUNG

I HIỆN TƯỢNG DI DÂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

1 Phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên

1.1 Tiềm năng đất và người Tây Nguyên

Tây Nguyên là khu vực gồm 05 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng với diện tích tự nhiên là 54.474 km2, chiếm 16,8% diện tích

tự nhiên cả nước; là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia) Trên thực tế, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền

kề, đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800m, cao nguyên M'Drăk cao khoảng 500m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500m, Mơ Nông cao khoảng 800-1000m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900-1000m

Điều kiện thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500m đến 600m so với mặt biển của Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm Diện tích đất đỏ bazan có tầng phong hoá dày, địa hình lượn sóng nhẹ tạo thành các cao nguyên đất đỏ như cao nguyên Buôn Ma Thuột, Plâyku, Đắk Nông, Kon Tum, chiếm diện tích khoảng 1 triệu ha, thích hợp với

Trang 3

nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây cao su, cà phê, chè, hồ tiêu, điều và rừng; đất đỏ vàng diện tích khoảng 1,8 triệu ha, kém màu mỡ hơn đất đỏ bazan nhưng giữ ẩm tốt và tơi xốp nên thích hợp với nhiều loại cây trồng Ngoài ra, còn có đất xám phân bố trên các sườn đồi thoải phía Tây Nam và trong các thung lũng, đất phù sa ven sông, thích hợp cho trồng cây lương thực Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ Cây điều cũng đang được phát triển tại đây Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn

Về tài nguyên rừng, rừng ở Tây Nguyên có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam; giàu về trữ lượng, đa dạng về chủng loại Diện tích rừng Tây Nguyên là 3.015,5 nghìn ha, chiếm 35,7% diện tích rừng cả nước Trữ lượng rừng

gỗ chiếm tới 45% tổng trữ lượng rừng gỗ của cả nước Các cây dược liệu quí được tìm thấy ở đây như sâm bổ chỉnh, sa nhân, địa liền, thiên niên kiện, hà thủ ô trắng, và các cây thuốc quí có thể trồng được ở đây như atisô, bạch truật, tô mộc, xuyên khung

Về khoáng sản, đáng kể nhất là quặng bôxit với trữ lượng dự kiến khoảng

10 tỷ tấn, chiếm 90% trữ lượng bôxit cả nước, phân bố chủ yếu ở Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum và hiện đang được khai thác Ngoài ra, tiềm năng khoáng sản của Tây Nguyên còn có vàng, các loại đá quí, các mỏ sét, than bùn và than nâu

Tây Nguyên hiện nay thực sự là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, nơi cư trú của 47 dân tộc anh em, với rất nhiều đặc trưng, sắc thái của nhiều tộc người Ở đây có một hệ thống các buôn, bon, làng cổ truyền của đồng bào các dân tộc thiểu

số, nơi còn giữ được những đặc điểm cấu trúc, sinh hoạt văn hóa truyền thống Nhiều nơi còn giữ được các nghề thủ công cổ truyền nổi tiếng như nghề dệt thổ cẩm, đẽo tượng, đan lát mây tre… Các lễ hội và sinh hoạt văn hóa đặc sắc, có ở hầu hết các dân tộc mà du khách rất muốn tìm hiểu, khám phá cùng với nhiều di sản văn hóa vật thể và các di tích lịch sử, văn hóa mà xét về tính độc đáo, tính đa dạng cũng như mức độ nổi tiếng đều có sức hấp dẫn Đây là vùng đất lý tưởng để

Trang 4

làm du lịch, bởi có những điều kiện thuận lợi để tạo nên những sản phẩm đặc trưng, riêng biệt, hấp dẫn, thông qua khai thác cảnh quan thiên nhiên, di tích văn hóa, lịch sử và di sản văn hóa tộc người

1.2 Tình hình phát triển kinh tế tại Tây Nguyênhiện nay

Tây Nguyên là vùng đất có vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của Quốc gia Cùng với cả nước, Đảng, chính quyền và cộng đồng các dân tộc vùng Tây Nguyên đã và đang có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, so với cả nước, vùng Tây Nguyên vẫn còn nhiều khó khăn, chậm phát triển, chưa thu hút được các nguồn lực và đầu tư đáng kể như các vùng khác, hoạt động kinh tế phát triển còn mỏng manh chưa xứng với tiềm năng và lợi thế phát triển vốn có, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Năm 2016, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,47%; thu nhập bình quân đầu người đạt 39,56 triệu đồng, tăng 8,57% so với năm 2015; tổng huy động vốn đầu

tư phát triển xã hội hơn 78.796 tỷ đồng, tăng 7,25%; tổng thu ngân sách toàn vùng đạt 18.151 tỷ đồng, tăng 25,5%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 14,86%; toàn vùng có 2.886 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 14,22%, với tổng nguồn vốn đăng ký hơn 10 nghìn tỷ đồng Cũng trong năm 2016, toàn vùng Tây Nguyên đào tạo nghề cho 78 nghìn người, giải quyết việc làm cho 113 nghìn lao động; giảm được hơn 2,1% số hộ nghèo và 2,4% số hộ cận nghèo Đến thời điểm hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo toàn vùng còn 15% và tỷ lệ hộ cận nghèo còn 4,5%1

Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên vẫn tiếp tục khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, đẩy mạnh phát triển kinh tế, chăm lo tốt an sinh xã hội Đẩy mạnh nghiên cứu đề xuất chủ trương về tổ chức hoạt động điều phối liên kết vùng và triển khai mô hình thử nghiệm cơ chế, chính sách liên kết vùng đối với một số lĩnh vực trên địa bàn; quan tâm chỉ đạo công tác tín dụng chính sách, xây dựng hệ thống tín dụng đặc thù, góp phần thúc đẩy giảm nghèo bền vững Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài

1 Báo cáo của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017 Ngày 10/01/2017.

Trang 5

nước đến với Tây Nguyên và đầu tư vào các lĩnh vực mà Tây Nguyên có thế mạnh như nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, công nghiệp chế biến, du lịch

2 Hiện tượng di dân tại các tỉnh Tây Nguyên

2.1 Đặc điểm dân cư và xã hội tại các tỉnh Tây Nguyên

Tây Nguyên là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người.nLà vùng thưa dân nhất nước ta với mật độ dân cư chỉ đạt 104 người/km2, dân số trung bình của toàn vùng là 5.693 người Các đô thị, ven các tuyến đường giao thông, các nông, lâm trường có mật độ dân số cao hơn các vùng còn lại Các vùng trồng cây công nghiệp ở Lâm Đồng, Đăk Lăk có mật độ dân số từ 132 đến 144người/km2, còn các vùng khác như ở Kon Tum có mật độ dân số dưới 55 người/km2 Tỷ lệ dân thành thị của Tây Nguyên thấp hơn tỷ lệ dân thành thị của cả nước Buôn Ma Thuột là đô thị đông dân nhất của vùng (420 nghìn người), các đô thị còn lại nhưPleiku, Đà Lạt, Bảo Lộc, Gia Nghĩa có số dân ít hơn (dưới 400 nghìn người)2

Sự không đồng đều về quy mô dân số giữa các dân tộc ở Tây Nguyên dẫn đến những ảnh hưởng khác nhau Với số dân đông nhất, dân tộc Kinh có vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế-xã hội Cộng đồng người Kinh có mặt ở Tây Nguyên từ trước năm 1975 chủ yếu tập trung ở thị trấn, thị xã, các trung tâm thành thị Cuộc di dân ồ ạt lên Tây Nguyên từ giữa thập niên 90 đến đầu thập niên 2000 dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau đã đưa đến những biến đổi lớn về kinh tế, xã hội và văn hóa ở khu vực này Cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc

có biến động lớn, do tiếp nhận các luồng di dân từ các vùng miền trong cả nước Hiện nay, trong cộng đồng 54 dân tộc ở Tây Nguyên, có 12 dân tộc bản địa đã sinh sống lâu đời ở đây, số còn lại đến từ nơi khác Trong số này, có 4 tộc người Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Cơ Ho vẫn duy trì được số dân đáng kể, còn các tộc người

Xơ Đăng và Mơ Nông đã nhường chỗ về quy mô dân số cho các dân tộc Tày, Nùng đến từ các tỉnh phía Bắc

Đặc trưng cơ bản nhất của xã hội tại các tỉnh Tây Nguyên là chế độ tự quản vận hành theo luật tục Đây là một dạng thức văn hóa pháp luật có tính lịch sử

2 Theo số liệu báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2016.

Trang 6

nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị Luật tục trong xã hội cổ truyền có thể tồn tại dưới dạng văn xuôi hay văn vần và được truyền miệng từ đời này sang đời khác Và nó đã trở thành máu thịt, thấm đẫm trong mọi hành xử của cả cộng đồng dân cư Phạm vi điều chỉnh của luật tục khá rộng và những điều răn trong luật tục

có ý nghĩa to lớn đối với các thành viên Ngoài ra, về mặt văn hóa, luật tục cũng

có thể coi là di sản văn hóa tộc người đặc sắc, phản ánh những quan niệm, luật lệ, quy tắc của xã hội

Các dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên có một nền văn hóa bản địa phong phú và đa dạng, với những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể hết sức quý giá Hiện nay, Tây Nguyên là nơi còn lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội… Ngoài ra, Tây Nguyên còn có một kho tàng văn học dân gian với những bản trường ca, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, lời nói vần, những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc lưu truyền qua nhiều thế hệ Một trong những di sản nổi tiếng đó là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” Một số dân tộc như Ê-đê, Gia-rai còn có chữ viết xây dựng trên cơ sở bộ chữ La tinh Đây là hai trong những bộ chữ dân tộc thiểu số ra đời sớm ở nước ta

2.2 Thực trạng di dân tại các tỉnh Tây Nguyên

2.2.1 Di dân có tổ chức theo kế hoạch

Di dân có tổ chức theo kế hoạch là hình thái này thuộc các chương trình phân bổ lại lao động trong các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước liên quan đến các khu vực, các tỉnh, các đơn vị hành chính trong lãnh thổ quốc gia Tính chất của di dân này mang ý nghĩa tích cực là góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, các địa phương, phân bổ lại dân cư và lao động giữa các vùng cho tương xứng với tiền năng tài nguyên thiên nhiên, xóa bỏ và hạn chế

sự phát triển chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ và của các tộc người trong một quốc gia

Trang 7

Để khai thác tiềm năng đất, rừng và giãn dân đồng bằng, phân bố lại cư dân trong cả nước và tăng cường lực lượng lao động đang còn rất thiếu và yếu ở Tây Nguyên, Đảng và Nhà nước ta chủ trương chuyển một bộ phận dân cư ở đồng bằng, Duyên hải miền Trung và đồng bằng Bắc bộ đi xây dựng kinh tế mới ở Tây nguyên với sự đầu tư tập trung cả về vốn lẫn cán bộ Phong trào chuyển dân đi kinh tế mới phát triển mạnh mẽtừ 1976 đến 1980 Tổng số dân kinh tế mới vào Tây Nguyên đến đầu năm 2002 khoảng 160.000 hộ với 800 nhân khẩu bao gồm người Kinh từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung và một bộ phận dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc

2.2.2 Di dân tự phát đến Tây Nguyên

Các luồng di dân tự phát phát triển ồ ạt đến mức trở thành hiện tượng xã hội đặc biệt ở Tây Nguyên trong những năm qua Tính đến năm 1998, có tới 350.000 người của 37 dân tộc đã tự phát di dời vào Tây Nguyên, chiếm ¼ tổng số dân số Tây Nguyên, trong đó nhiều nhất vẫn là người các tỉnh miền núi phía Bắc Các khu định cư mới tự phát được hình thành như vết dầu loang, khởi đầu là lao động trẻ khỏe, có kinh nghiệm đi trước mang tính chất thăm dò, rồi sau đó khai phá, tạo lập cơ sở ban đầu và sau đó các thành viên của hộ gia đình chuyển cư lập nghiệp

Hiện tượng di cư tự phát của đồng bào các dân tộc thiểu số từ các tỉnh Trung du và Miền núi phái Bắc đến Tây Nguyên ngày một gia tăng, tạo nên một hiện tượng kinh tế - xã hội “không bình thường” và gây ra tác động trên nhiều phương diện của đời sống xã hội Theo số liệu của Chi cục định canh định cư và kinh tế mới các tỉnh Tây Nguyên, số người di cư tự phát đến Tây Nguyên tính đến năm 2000 là 98.687 hộ với 459.106 người Giai đoạn 1976 -1998, số di dân tự phát đến Tây Nguyên là 103.095 hộ với 473.786 khẩu

Di cư tự phát của các tộc người thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên chủ yếu là di cư theo hộ gia đình Đối với các tộc người miền núi phái Bắc di cư khá nhiều trong những năm từ sau đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000 như Tày, Nùng, Dao, Hmông… Thành phần các tộc người di cư tự phát đến Tây Nguyên chủ yếu bao gồm người Kinh ở các tỉnh đồng bằng lên chiếm khoảng

Trang 8

50%, các tộc người khác như Tày, Nùng, Dao, Hmông từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh… chiếm 35%, còn lại là các tộc người khác

2.2.3 Ảnh hưởng của việc di dân đến dân số ở Tây Nguyên

Từ sau 1975 đến nay, Tây Nguyên là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động dân cư lớn nhất cả nước, chủ yếu do tăng tự nhiên và tăng cơ học thông qua di dân Năm 1976, dân số Tây Nguyên chỉ là 1,23 triệu người, gồm 18 dân tộc, trong

đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 69,7% dân số Năm 1993, quy mô dân số ở khu vực này tăng lên 2,37 triệu người, gồm 35 dân tộc (chiếm 44,2% dân số của vùng) Sau 10 năm, dân số Tây Nguyên tăng lên 4,67 triệu người, với 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc chỉ chiếm 25,3% dân số Năm 2004 dân số Tây Nguyên

là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số) Theo kết quả điều tra dân số 01/04/2011 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.278.679 người Kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2014 là 5.504.560 người Đến nay, dân số Tây Nguyên ở mức 6,5 triệu người Theo phân tích của một chuyên gia, trong giai đoạn 1975 - 2017 dân số ở Tây Nguyên tăng khoảng 5,5 triệu người và dân di cư tự do chiếm hơn phân nửa Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học:

di dân đến Tây nguyên theo hai luồng di dân kế hoạch và di dân tự do

II DI DÂN TỰ DO VÀ NHỮNG HẬU QUẢ VỚI PHÁT TRIỂN KINH

TẾ Ở TÂY NGUYÊN

2.1 Thế nào là di dân tự do?

Di dân là hiện tượng nhân khẩu học chịu tác động tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau như tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo, tâm lý… Theo nghĩa rộng, di dân có thể được hiểu là sự di chuyển bất kỳ của con người trong không gian Di dân đồng nghĩa với khái niệm “sự vận động của dân cư” hay là toàn bộ sự

di chuyển của con người trong không gian Theo nghĩa hẹp “di dân là sự di chuyển của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác mang đặc trưng thay đổi nơi cư trú theo những chuẩn mực về không gian và thời gian nhất định” Theo đó, di dân tự do là hiện tượng người dân di chuyển từ vùng này sang

Trang 9

vùng khác để làm việc và sinh sống Hoạt động này mang tính tự phát vì những lý

do khác nhau của cá nhân người di cư, không nằm trong chủ trương chính sách của Nhà nước

2.2 Thực trạng di dân tự do tại các tỉnh Tây Nguyên

Di cư tự do là một hiện tượng kinh tế-xã hội tất yếu được diễn ra dưới nhiều nền kinh tế khác nhau và đặc biệt ngày càng mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước Ở nước ta, số lượng người di

cư tự do lớn, kéo dài trong nhiều năm, đến nay chưa chấm dứt Cuộc di cư tự do của đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và một số tỉnh khác diễn ra từ lâu nhưng rộ lên từ những năm 1991-1994 với số lượng lớn Từ năm 1991-1995, bình quân hàng năm có 16 vạn người Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 660/TTg, ngày 17-10-1995 “Về giải quyết tình trạng dân di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác” Tác động của chỉ thị này đã làm cho tình trạng di cư tự do giảm bớt Từ năm

1996-2000, bình quân hàng năm chỉ còn 9 vạn người Từ năm 2001-2002, bình quân hàng năm còn 2 vạn người và năm 2003 chỉ có 4.000 người Theo thống kê đến trước tháng 11/2004, có 45 vạn người di cư tự do, bằng khoảng 9 vạn hộ3

Ngày 12/11/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 39/2004/CT-TTg “Về một số chủ trương giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân di cư tự do” Tuy nhiên, sau khi chỉ thị này được ban hành tình hình di cư tự do vẫn tiếp diễn Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2005 đến

2008, tổng số hộ di cư tự do vào Tây Nguyên là 9.551 hộ với 40.782 nhân khẩu, bình quân một năm là 2.413 hộ với 10.195 nhân khẩu Di cư tự do vào Tây Nguyên trong năm 2006 giảm mạnh so với năm 2005 nhưng lại tăng trở lại vào các năm 2007, 2008 và cho đến nay vẫn chưa dừng4

Từ năm 2015 - 2016, số hộ di cư ngoài kế hoạch đến Tây Nguyên là 572 hộ với 1.621 khẩu, giảm hàng trăm lần so với những năm 2000; trong đó, địa bàn đồng bào dân tộc di cư đến ngoài kế hoạch nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk, Đắk

3 Nguyễn Trần Trọng “Di cư tự do với sự phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên”

4 Nguyễn Trần Trọng “Di cư tự do với sự phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên”

Trang 10

Nông Giai đoạn từ năm 1976 - 2015, các tỉnh Tây Nguyên đã có trên 188.183 hộ, với 856.743 khẩu là đồng bào các dân tộc, chủ yếu là đồng bào các tỉnh phía Bắc

di cư đến ngoài kế hoạch; trong đó, di cư đến sinh sống nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai 5

Hiện nay, tình hình dân di cư tự do vào các tỉnh Tây Nguyên tuy đã giảm từ

số lượng, quy mô đến mức độ di dân nhưng vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp Hiện nay, trên địa bàn các huyện M’Drắk, Krông Bông, tỉnh ĐắkLắk nhiều hộ đồng bào (chủ yếu là người Mông) bán hết tài sản, ruộng đất đi ra khỏi địa phương không rõ nguyên nhân; địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng hiện còn 502 hộ với 2.584 khẩu dân di cư tự do (chủ yếu là người Mông, Dao) chưa được bố trí ổn định, việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội gặp khó khăn do công tác quản

lý phức tạp, giao thông đi lại khó khăn6

2.3 Tác động của di dân tự do đến phát triển kinh tế ở Tây Nguyên

Trong những năm qua, Chính phủ cùng các ngành các cấp ở trung ương và địa phương đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục và giải quyết tình trạng di dân vào Tây Nguyên Mặc dù vậy, khi nhanh khi chậm, lúc âm thầm, lúc công khai, tình trạng di dân, nhất là di dân tự do đến Tây Nguyên vẫn tiếp tục diễn ra, cũng như những hệ quả mà nó gây

ra ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội của vùng

Có thể nói, di dân phát triển kinh tế mới và cả di cư tự do vào Tây Nguyên những năm qua đã đem lại một số hiệu quả nhất định Thành tựu nổi bật nhất của công tác di dân phát triển kinh tế mới là đưa được hàng trăm ngàn lao động vào các nông trường và có hàng vạn hộ gia đình đến Tây Nguyên để phát triển vườn cà phê, đưa cà phê trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn Theo số liệu thống kê của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên thì tính đến hết quý III/2016, tổng sản phẩm GDP toàn vùng tăng 7,34%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,31%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 10,7% Tình hình đầu tư, thu hút đầu tư phát triển

5 Quang Huy.“Hạn chế tình trạng di cư ngoài kế hoạch đến Tây Nguyên”.

6 Báo cáo tình hình công tác dân tộc, chính sách dân tộc địa bàn 10 tỉnh khu vực miền Trung -Tây Nguyên của Ủy ban dân tộc,Ngày 12/7/2017.

Ngày đăng: 12/04/2022, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w