1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp siêu nhỏ của các ngân hàng thương mại Việt Nam

185 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY (19)
    • 1.1. Các nghiên cứu nước ngoài (19)
      • 1.1.1. Hướng nghiên cứu về các vấn đề trong hoạt động cho vay DNSN của các (19)
      • 1.1.2. Hướng nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ (25)
    • 1.2. Các nghiên cứu trong nước (28)
    • 1.3. Các phương pháp nghiên cứu chính sử dụng trong các nghiên cứu trong và ngoài nước (32)
    • 1.4. Khoảng trống nghiên cứu (34)
  • CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO (38)
    • 2.1. Tổng quan về doanh nghiệp siêu nhỏ (38)
      • 2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp siêu nhỏ (38)
      • 2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp siêu nhỏ (42)
    • 2.2. Hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ của Ngân hàng thương mại (44)
      • 2.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay DNSN của NHTM (44)
      • 2.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay DNSN của NHTM (45)
    • 2.3. Các lý thuyết cơ sở liên quan đến hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ của Ngân hàng thương mại (53)
      • 2.3.1. Lý thuyết thông tin không cân xứng (Information Asymmetry Theory) (53)
      • 2.3.2. Lý thuyết về hạn chế tín dụng (Credit Rationing Theory) (56)
    • 2.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ của Ngân hàng thương mại (59)
      • 2.4.1. Các nhân tố vĩ mô (60)
      • 2.4.2. Các nhân tố đặc trưng của ngân hàng (63)
      • 2.4.3. Đặc điểm thị trường (68)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (73)
    • 3.1. Phương pháp nghiên cứu (73)
      • 3.1.1. Thiết kế nghiên cứu (73)
      • 3.1.2. Quy trình nghiên cứu (73)
    • 3.2. Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến trong mô hình (77)
      • 3.2.1. Mô hình nghiên cứu (77)
      • 3.2.2. Đo lường các biến trong mô hình (77)
      • 3.2.3. Khung nghiên cứu (87)
    • 3.3. Giả thuyết của mô hình (87)
      • 3.3.1 Mô hình tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ (87)
      • 3.3.2. Mô hình tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến xu hướng cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ (90)
    • 3.4. Dữ liệu nghiên cứu (95)
      • 3.4.1. Dữ liệu của doanh nghiệp siêu nhỏ (95)
      • 3.4.2. Dữ liệu của ngân hàng thương mại (96)
      • 3.4.3. Dữ liệu kinh tế vĩ mô (99)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (101)
    • 4.1. Thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam (101)
      • 4.1.1. Thực trạng doanh nghiệp siêu nhỏ Việt Nam (101)
      • 4.1.2. Thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (107)
      • 4.1.3. Thực trạng hoạt động cho vay DNSN của các NHTM Việt Nam (111)
    • 4.2. Kiểm định tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay (123)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả (123)
      • 4.2.2. Phân tích hệ số tương quan (125)
      • 4.2.3. Kiểm định đa cộng tuyến (129)
      • 4.2.4. Lựa chọn phương pháp ước lượng với từng mô hình (129)
      • 4.2.5. Kết quả ước lượng các mô hình (133)
  • CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ (140)
    • 5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu (140)
      • 5.1.1. Tổng hợp các mô hình nghiên cứu (140)
      • 5.1.2. Lý giải các kết quả nghiên cứu (142)
    • 5.2. Khuyến nghị (145)
      • 5.2.1. Khuyến nghị đối với các Ngân hàng thương mại (145)
      • 5.2.2. Khuyến nghị đối với các Doanh nghiệp siêu nhỏ (151)
      • 5.2.3. Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (152)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (156)
      • 5.3.1. Hạn chế (156)
      • 5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (156)
  • KẾT LUẬN (159)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (162)
  • PHỤ LỤC (178)

Nội dung

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận Thứ nhất, luận án đã lựa chọn và điều chỉnh các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ (DNSN) của Ngân hàng thương mại (NHTM). Luận án sử dụng đồng thời hai thước đo là tăng trưởng cho vay DNSN và xu hướng cho vay DNSN. Dựa trên việc tổng quan các nghiên cứu trước, luận án đã chỉ ra nhược điểm của những thang đo đo lường xu hướng cho vay của NHTM đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước, và từ đó luận án đề xuất ra một thang đo thích hợp có thể khắc phục được những nhược điểm trên. Thứ hai, luận án đã kế thừa và dựa trên các cơ sở lý thuyết phù hợp để đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNSN. Hoạt động cho vay DNSN được xem xét trên hai khía cạnh: tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay DNSN và xu hướng cho vay DNSN. Các nhân tố độc lập được đề xuất trong mô hình nghiên cứu được chia thành các nhân tố bên trong NHTM như quy mô, thanh khoản, khả năng sinh lời, huy động vốn, rủi ro tín dụng, mức chịu rủi ro của NHTM; và các nhân tố bên ngoài bao gồm các nhân tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất và nhân tố phản ánh đặc điểm thị trường ngành ngân hàng đo lường qua mức độ tập trung thị trường. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Thứ nhất, luận án đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cho thấy các yếu tố tác động đến tăng trưởng dư nợ cho vay DNSN của NHTM bao gồm cả các yếu tố bên trong NHTM (quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, huy động vốn) và yếu tố vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, lạm phát). Luận án không tìm thấy bằng chứng thống kê cho thấy mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng có tác động tới tăng trưởng dư nợ cho vay DNSN của NHTM. Thứ hai, luận án đã chứng minh các yếu tố tác động đến xu hướng cho vay DNSN của NHTM bao gồm cả các yếu tố bên trong NHTM (quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời và mức chịu rủi ro của NHTM) và yếu tố thị trường ngành ngân hàng (mức độ tập trung thị trường). Luận án không tìm thấy bằng chứng thống kê cho thấy các nhân tố vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) có tác động tới xu hướng cho vay DNSN của NHTM. Thứ ba, trên cơ sở mô hình nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường hoạt động cho vay DNSN của các NHTM Việt Nam như các NHTM nên giảm sự phụ thuộc vào tiền gửi, thay đổi cấu trúc thị trường ngành ngân hàng theo hướng tăng sức mạnh thị trường cho các NHTM thông qua thúc đẩy hoạt động sáp nhập, mua lại ngân hàng, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và chính sách phát triển

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

Các nghiên cứu nước ngoài

1.1.1 H ướ ng nghiên c ứ u v ề các v ấ n đề trong ho ạ t độ ng cho vay DNSN c ủ a các NHTM Đối với hướng nghiên cứu này, các nghiên cứu có thể được chia thành 2 nhánh chính: Các nghiên cứu tiếp cận từ phía cung (từ NHTM) hoặc tiếp cận từ phía cầu (khả năng tiếp cận vốn NHTM của các DNSN)

Tiếp cận từ phía cầu – Nghiên cứu khả năng tiếp cận vốn NHTM của các DNSN

Các công trình nghiên cứu có cách tiếp cận từ phía cầu có thể kể đến các công trình của Schmidt và cộng sự (1987), Asselbergh (2002), Beck (2007), Ganbold

Các nghiên cứu (2008), Chong (2010), Stiglitz và Weiss (1981) đã dùng lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết hạn chế tín dụng và trật tự phân hạng để giải thích đặc điểm tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhìn chung, chúng cho thấy DNSN khó tiếp cận vốn từ nguồn chính thức do bất cân xứng thông tin, thể chế, quy trình vay và tính minh bạch hồ sơ Tuy vậy, phần lớn công trình vẫn thống nhất rằng vốn ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển của DNSN Theo Ganbold (2008), các nguyên nhân khiến DNSN khó tiếp cận tài chính từ NHTM gồm: (i) sự sai lệch chính sách khu vực tài chính, với tồn tại của lãi suất trần và doanh nghiệp nhà nước; (ii) cho DNSN vay nhỏ không hiệu quả do chi phí thực hiện cao; (iii) khó khăn từ phía NHTM và DNSN trong việc áp dụng công nghệ cho vay mới; (iv) thông tin không cân xứng do chi phí nhận thông tin từ DNSN cao, báo cáo tài chính không đồng nhất và thiếu uy tín trên thị trường; (v) rủi ro hoạt động cao do DNSN siêu nhỏ dễ tổn thương và có doanh thu biến động; (vi) khả năng quản trị yếu kém.

Berger và Udell (2005) đã đề xuất một khung khái niệm nhằm phân tích các vấn đề tín dụng của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa Theo khung này, sự sẵn có của các khoản vay và tính chất của cơ sở tín dụng bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: một là quá trình cho vay, bao gồm sự kết hợp của nguồn tin thông tin sơ cấp, các chính sách và thủ tục sàng lọc và bảo lãnh phát hành, cấu trúc hợp đồng cho vay và các cơ chế giám sát được áp dụng trong hoạt động cho vay; hai là cơ sở hạ tầng cho vay, gồm môi trường thông tin (chất lượng thông tin kế toán), môi trường pháp lý, tư pháp và phá sản, bối cảnh xã hội, môi trường thuế và khuôn khổ pháp lý nơi các tổ chức tài chính hoạt động ở một quốc gia nhất định Các chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ở các quốc gia khác nhau thông qua cơ sở hạ tầng cho vay.

Bên cạnh các nghiên cứu mang tính lý thuyết, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện để kiểm chứng những vấn đề liên quan tới tiếp cận vốn ngân hàng thương mại của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (DNSN) Các nghiên cứu này được tiến hành tại nhiều quốc gia với mức độ phát triển kinh tế và đặc điểm văn hóa xã hội đa dạng, và đi sâu vào nhiều khía cạnh của tiếp cận vốn nói chung cũng như vốn vay từ ngân hàng thương mại nói riêng của DNSN Theo dòng chảy nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình của Chong (2010), Sharma và Gounder (2012), Schmidt và cộng sự (1987), Singh (2016) và Beck (2007).

Chong (2010) lý giải khó khăn tiếp cận vốn của DNSN bằng cách đánh giá khả năng quản lý tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho thấy ngân hàng thích cho vay tới các doanh nghiệp được xếp hạng cao hơn so với DNSN do khác biệt trong cách thức điều hành giữa hai loại hình doanh nghiệp này; DNSN thường tập trung vào tồn tại và ổn định, trong khi các doanh nghiệp đã được xếp hạng hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Qua khảo sát trên 120 doanh nghiệp siêu nhỏ ở Malaysia, kết quả cho thấy phần lớn chủ DNSN dựa vào tiết kiệm cá nhân và mượn từ bạn bè hoặc họ hàng để khởi động, cho thấy nguồn vốn ban đầu của DNSN phụ thuộc nhiều vào tự lực và mạng lưới cá nhân Nghiên cứu này cũng xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố như trình độ học vấn, tiềm lực tài chính, tình trạng nợ với khả năng trả nợ và quản lý tín dụng của DNSN; kết quả cho thấy tình trạng nợ càng cao thì khả năng quản lý tín dụng càng yếu, DNSN do nữ làm chủ có khả năng quản lý tín dụng tốt hơn so với DNSN do nam làm chủ, và trình độ giáo dục được xác định là yếu tố ảnh hưởng tới quản lý tín dụng, trong khi tiềm lực kinh tế lại không có mối quan hệ với quản lý tín dụng.

Một nghiên cứu thực chứng của Sharma và Gounder (2012) về các trở ngại tiếp cận vốn ngân hàng đối với DNSN và doanh nghiệp nhỏ cho thấy kết quả tương đồng với lý thuyết của Stiglitz và Weiss (1981) Hai tác giả đã điều tra 77 doanh nghiệp tại thủ đô Suva, Fiji, và kết quả cho thấy 75% doanh nghiệp tham gia thừa nhận vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động của mình Để giải thích vì sao tín dụng ngân hàng được coi là quan trọng nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận nguồn vốn này, hơn 90% doanh nghiệp cho rằng lãi suất, phí, tài sản đảm bảo, thủ tục giấy tờ và yêu cầu vốn tự có là những nguyên nhân chính Tuy vậy, bản thân các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin theo yêu cầu của ngân hàng và không thực sự quan tâm đến điều kiện trả nợ.

Nghiên cứu của Schmidt và cộng sự (1987) tập trung vào tác động của quy trình và chính sách cho vay đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp siêu nhỏ Các kết quả cho thấy dịch vụ tài chính cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa được xem là một trong những hạn chế giới hạn lợi ích của nhóm doanh nghiệp này Trong hầu hết các trường hợp, vấn đề tiếp cận tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào chính sách cho vay của các tổ chức tài chính, thể hiện qua mức cho vay tối thiểu bắt buộc và các thủ tục đăng ký phức tạp, từ đó làm phức tạp và hạn chế tín dụng cho nhiều mục đích khác nhau Từ quan điểm của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, các khoản tín dụng ngắn hạn và quy mô nhỏ có giá trị hơn và nên được nhấn mạnh trong các chương trình tín dụng nhắm tới nhóm doanh nghiệp này Ngoài ra, thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính được coi là một trong những hạn chế chính đối với tăng trưởng và đầu tư của các doanh nghiệp này.

Singh (2016) đã phân tích nguồn lực tài chính mà các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME) sử dụng ở bốn giai đoạn phát triển: Start-up, Survival, Growth và Sustenance, cho thấy vốn lưu động là mục tiêu chủ chốt ở các giai đoạn đầu và trung, đồng thời các nguồn tài trợ thay đổi theo mức độ trưởng thành của doanh nghiệp Ở giai đoạn khởi nghiệp, vốn lưu động chủ yếu đến từ nguồn cá nhân hoặc gia đình, từ bạn bè và từ các ngân hàng nhà nước cho vay có tài sản đảm bảo, trong khi các khoản vay ngắn hạn, thấu chi và dài hạn hầu như không được tận dụng Trong giai đoạn Survival, vốn lưu động vẫn là mục đích chính nhưng nguồn tài trợ từ nguồn cá nhân dần không còn là nguồn chính, và hai nguồn tài trợ chính trở thành ngân hàng đại chúng và người cho vay lãi, tiếp theo là ngân hàng tư nhân Đến giai đoạn Growth, mục đích vay vốn trở nên đa dạng hơn với tài trợ vốn lưu động chủ yếu từ ngân hàng đại chúng, vay có tài sản đảm bảo từ ngân hàng đại chúng hoặc ngân hàng liên kết, và vay ngắn hạn hoặc thấu chi từ ngân hàng tư nhân Ở giai đoạn Sustenance, các doanh nghiệp mở rộng nguồn tài trợ từ nguồn cá nhân, ngân hàng hợp tác, ngân hàng đại chúng và ngân hàng tư nhân cho vốn lưu động, trong đó ngân hàng hợp tác được dùng để cho vay có tài sản đảm bảo và vay ngắn hạn, và vốn lưu động cùng các khoản vay có tài sản đảm bảo, vay ngắn hạn vẫn là mục tiêu phổ biến nhất; kết quả là doanh nghiệp có xu hướng tìm đến các nguồn tài trợ đáng tin cậy trong giai đoạn tăng trưởng và duy trì để đảm bảo sự ổn định tài chính.

Theo Singh (2016), thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp gặp phải khi tiếp cận vốn ở giai đoạn khởi nghiệp và giai đoạn sống sót là khó khăn trong cung cấp tài sản đảm bảo, thời gian xét duyệt khoản vay kéo dài và thiếu kiến thức về các phương án tài chính; ở hai giai đoạn đầu, các doanh nghiệp vẫn chưa hoàn thiện hoạt động kinh doanh nên không thể cung cấp tài sản đảm bảo hoặc chịu đựng quy trình xét duyệt vay phức tạp; ở giai đoạn phát triển và duy trì, thách thức lớn nhất là thiếu kiến thức về các phương án tài chính, phí dịch vụ cao cho việc xét duyệt vay, khó khăn trong việc cung cấp tài sản đảm bảo và lãi suất cao; nghiên cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của chủ sở hữu tác động đến khả năng tiếp cận vốn, khi những chủ sở hữu hoặc người quản lý có bằng đại học có mức hiểu biết về các phương án tài chính cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa tốt hơn so với các mức trình độ học vấn khác.

Beck (2007) lưu ý rằng ở những nước có mức độ phát triển thể chế cao, doanh nghiệp ghi nhận các trở ngại tài chính thấp hơn đáng kể so với các nước có thể chế kém phát triển; sự tích cực của phát triển tài chính và thể chế được thể hiện qua việc sử dụng nguồn lực tài chính bên ngoài, và bảo vệ quyền tài sản được tăng cường khiến doanh nghiệp nhỏ tiếp cận tài chính bên ngoài nhiều hơn so với doanh nghiệp lớn Phát triển tài chính và thể chế giúp tạo sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhỏ và lớn, đồng thời sự thiếu một hệ thống tài chính hiệu quả giải thích hiện tượng thiếu trung gian ở nhiều nước đang phát triển Theo Beck, tác động của các trở ngại tăng trưởng lên doanh nghiệp nhỏ là nhỏ hơn ở những quốc gia có hệ thống tài chính và pháp lý phát triển tốt, và hiệu quả của phát triển tài chính và pháp lý ảnh hưởng mạnh hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ so với doanh nghiệp lớn, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa hai nhóm doanh nghiệp.

Theo hướng nghiên cứu từ phía cung, vai trò của NHTM trong việc cấp vốn cho các DNSN được xác định rõ, đồng thời nêu lên những thách thức và rào cản mà ngân hàng thương mại gặp phải khi tiếp cận đối tượng DNSN.

Baydas và cộng sự (1997) phân tích những lợi thế và trở ngại mà ngân hàng thương mại gặp phải khi cho vay doanh nghiệp vi mô, cho thấy có 6 lợi thế của NHTM được nêu ra trong nghiên cứu này và nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại trong việc cấp vốn cho khu vực doanh nghiệp vi mô dù vẫn tồn tại các thách thức liên quan đến chi phí, rủi ro và tiếp cận thông tin.

(1) NHTM là các tổ chức tài chính được quy định chặt chẽ các điều kiện về quyền sở hữu, công bố thông tin và đảm bảo an toàn vốn Điều này sẽ đảm bảo việc cho vay được quản lý chặt chẽ,

(2) Phần lớn các NHTM có cơ sở hạ tầng tốt, bao gồm mạng lưới chi nhánh rộng lớn, có khả năng mở rộng và tiếp cận tới số đông khách hàng vi mô,

Các Ngân hàng thương mại có hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống hành chính và kế toán được thiết lập chặt chẽ, nhằm đảm bảo quản lý, giám sát và báo cáo hoạt động một cách hiệu quả; nhờ đó, họ có khả năng theo dõi và kiểm soát khối lượng giao dịch lớn, tăng cường tính an toàn, minh bạch và hiệu quả vận hành của hệ thống ngân hàng.

Các nghiên cứu trong nước

Như các nghiên cứu trên thế giới, nghiên cứu trong nước về đề tài này được phân chia thành hai hướng tiếp cận: từ phía cung và từ phía cầu Nhiều công trình đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay của NHTM và cách tăng khả năng tiếp cận vốn ngân hàng đối với DN Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tập trung vào tài chính vi mô của NHTM, xem DNSN như đối tượng của hoạt động tài chính vi mô (Phạm Bích Liên, 2016) Một số công trình trong nước hoặc nghiên cứu nước ngoài có bối cảnh Việt Nam là chủ đề gần với đề tài và được tổng hợp trong bảng sau.

Bảng 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn ngân hàng/ hoạt động cho vay của ngân hàng ở Việt Nam

Tác giả Tên công trình

Nơi xuất bản Nhân tố ảnh hưởng Phương pháp nghiên cứu

Determinants of household access to formal credit in the rural areas of the

Tiếp cận tín dụng cá nhân: tuổi, giá trị xây dựng, dân tộc, quy mô gia đình, khoảng cách đến trung tâm thị trường, vốn xã hội

Tiếp cận theo nhóm tới tín dụng nông thôn: tình trạng hôn nhân, giáo dục, tổng diện tích đất, khoảng cách đến trung tâm thị trường

Mô hình rào cản đôi

Determinants of New Small and Medium

Case Study in the Phu Tho

Internation al Journal of Business and Manageme nt

Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp phụ thuộc vào tập hợp các yếu tố: phương án kinh doanh khả thi và chiến lược tăng trưởng rõ ràng; thông tin tài chính minh bạch, đầy đủ và đáng tin cậy; quy mô doanh nghiệp phù hợp với các chuẩn cho vay và mức độ rủi ro được đánh giá; khả năng tiếp cận với nhân viên ngân hàng thông qua mạng lưới liên hệ và sự hiện diện của người đại diện; cùng với tài sản đảm bảo có giá trị và tính thanh khoản phù hợp để tăng mức tín nhiệm và cơ hội được phê duyệt khoản vay.

- Phương pháp thu thập số liệu: sử dụng số liệu sơ cấp thu thập bằng phương pháp bảng hỏi

- 2 mô hình: mô hình hồi quy theo biến giả, mô hình hồi quy kiểm duyệt

An empirical analysis of credit accessibility of small and medium sized enterprises in

Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là giới tính của người sở hữu, trình độ học vấn, tuổi tác và mối quan hệ với nhân viên ngân hàng Người sở hữu có trình độ học vấn cao thường có kỹ năng quản trị và trình bày hồ sơ tài chính thuyết phục hơn, từ đó nâng cao cơ hội được thẩm định và cấp vốn Tuổi và giới tính có thể ảnh hưởng gián tiếp qua cơ hội tham gia mạng lưới tài chính và sự tin cậy từ phía ngân hàng Mối quan hệ tích cực với nhân viên ngân hàng, bao gồm giao tiếp rõ ràng, hiểu biết về quy trình tín dụng và sự tin cậy lẫn nhau, có thể rút ngắn thời gian thẩm định và cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn cho doanh nghiệp.

- Phương pháp thu thập số liệu: sử dụng số liệu sơ cấp thu thập bằng phương pháp bảng hỏi

Võ Trí Small and ERIA Những hạn chế của các - Phương pháp thu

Tác giả Tên công trình

Nơi xuất bản Nhân tố ảnh hưởng Phương pháp nghiên cứu

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), việc tiếp cận tài chính gặp nhiều rào cản nổi bật như thiếu tài sản thế chấp, quá trình hoạt động ngắn và quy mô nhỏ Phần lớn chủ sở hữu chưa có đủ kinh nghiệm quản trị hoặc sở hữu doanh nghiệp, khiến họ khó tiếp cận nguồn vốn và ít tham gia vào mạng lưới sản xuất Nghiên cứu này dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp bảng hỏi để làm rõ các yếu tố cản trở và cung cấp cơ sở cho các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho SMEs.

- Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích hồi quy nhị phân Đỗ Thị

Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các

NHTM khu vực Tây Bắc

Luận văn Tiến sỹ bảo vệ tại Đại học Kinh tế quốc dân

Quyết định cho vay DN nhỏ và vừa phụ thuộc vào tập hợp các yếu tố chính như tình hình tài chính của doanh nghiệp, khả năng thanh toán và triển vọng lợi nhuận trong tương lai Thông tin lịch sử tín dụng, bao gồm điểm tín dụng và lịch sử thanh toán, giúp ngân hàng đánh giá rủi ro và mức độ tin cậy của DN Thông tin về tài sản thế chấp được xem xét để bảo đảm khoản vay và xác định mức bảo đảm cho khoản cho vay, trong khi giá trị và tính thanh khoản của tài sản đó ảnh hưởng đến điều kiện cấp vốn Mối quan hệ với ngân hàng, thái độ phục vụ, mức độ hiểu biết và sự tin tưởng giữa hai bên cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phê duyệt và thương lượng lãi suất, kỳ hạn trả nợ Tổ hợp các yếu tố này được cân nhắc đồng thời để xác định mức vốn, lãi suất và điều kiện trả nợ phù hợp với DN nhỏ và vừa.

Phương pháp thu thập dữ liệu của nghiên cứu là thu thập số liệu sơ cấp thông qua bảng hỏi, nhắm tới các cán bộ tín dụng hoặc cán bộ quản lý tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) ở 4 tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, Việt Nam Việc sử dụng bảng hỏi cho đối tượng này giúp thu thập thông tin chuẩn hóa và có độ tin cậy cao, phục vụ cho phân tích tình hình và thực trạng hoạt động ngân hàng trong khu vực Tây Bắc.

- Phương pháp phân tích hồi quy Binary Logistic

Nguồn: nghiên cứu của tác giả

Về các nghiên cứu trong nước liên quan đến hoạt động cho vay của NHTM:

Qua tổng quan các nghiên cứu trong nước, hoạt động cho vay của NHTM và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp được xem xét rất phong phú và tương đồng với các hướng nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu tiên phong về cho vay DNSN ở Việt Nam do Lê Mai Lan và Trần Như An (2004) thực hiện mang tính khám phá, lần đầu đặt vấn đề về thị trường khách hàng mới cho NHTM; nghiên cứu đã đánh giá sơ bộ các rào cản vốn đối với DNSN và khảo sát góc nhìn của NHTM về cho vay DNSN, bao gồm thái độ của NHTM nhà nước, NHTMCP nhà nước nắm cổ phần chi phối và NHTMCP thuộc sở hữu tư nhân, đánh giá kỹ năng cho vay, động lực cho vay DNSN, quy trình, quản lý tài sản bảo đảm và hệ thống mạng lưới có phù hợp hay không Dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi gửi đến 39 NHTM cổ phần, 5 NHTM sở hữu nhà nước, 2 NH chính sách, 5 tổ chức hỗ trợ tín dụng (bao gồm NHNN Việt Nam) và 5 tổ chức tài chính vi mô cho thấy nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra ảnh hưởng của đặc điểm NHTM đến hoạt động cho vay DNSN, dù các nhân tố này chưa được kiểm định bằng mô hình thích hợp So với các nghiên cứu trên thế giới, nghiên cứu trong nước có sự tương đồng ở một số nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp hay hoạt động cho vay của ngân hàng, nhưng cũng chỉ ra một số đặc trưng riêng của Việt Nam như mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các nhân viên tín dụng ngân hàng được xem là yếu tố có ý nghĩa thống kê và thuận với nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước vẫn chưa đi sâu vào hoạt động cho vay DNSN, DNSN chủ yếu được xem như một đối tượng nằm trong phạm vi nghiên cứu chung về DNVVN, với các công trình tiêu biểu như Đỗ Thị Thu Hiền (2020), Võ Trí Thành và cộng sự (2011), Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2015), và chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về DNSN.

Trong nước đã xuất hiện nhiều nghiên cứu theo hướng đề xuất giải pháp triển khai và phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ (DNSN) của NHTM, đặc biệt bước đầu nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay DNSN và phân tích thực trạng cho vay DNSN tại các ngân hàng thương mại Các luận văn thạc sĩ điển hình gồm Nguyễn Thị Huyền (2017) với đề tài “Phát triển cho vay đối với doanh nghiệp siêu vi mô tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Hai Bà Trưng”; Phạm Thị Lương (2017) với đề tài “Đẩy mạnh hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vi mô và siêu vi mô tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh thành phố Hà Nội”; Trần Cao Quang Tuấn (2016) với đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp siêu vi mô tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Hà Tây”; Nguyễn Tiến Đạt (2019) với đề tài “Phát triển cho vay doanh nghiệp siêu vi mô tại Vietinbank – chi nhánh Nghệ An”; và luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Thành.

Đề tài năm 2019 với chủ đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp siêu nhỏ tại NHTM Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Trà Vinh" đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhu cầu vay vốn và tiếp cận vốn của DNVN tại chi nhánh Trà Vinh; đồng thời, một số nghiên cứu sau đó (Đặng Thị Thu Hằng và Vũ Thị Kim Oanh, 2021; Hà Thị Việt Thúy, 2021; Phạm Xuân Phú, 2017) tập trung đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động cho vay đối với các DNVVN nói chung, nhằm tăng cường sự tham gia của ngân hàng trong cấp tín dụng, tối ưu hóa chi phí vốn và cải thiện hiệu quả hoạt động tín dụng.

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu, có thể thấy rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM nói chung và hoạt động cho vay DNSN của NHTM được phân thành hai nhóm cơ bản: yếu tố môi trường vĩ mô và yếu tố liên quan đến đặc điểm của ngân hàng Tuy vậy, hướng tác động của các yếu tố này vẫn còn nhiều tranh cãi, bởi các nghiên cứu chưa thống nhất về mức độ và chiều tác động của quy mô ngân hàng, thanh khoản, mức độ tập trung thị trường, tăng trưởng kinh tế và lãi suất đối với hoạt động cho vay của các NHTM.

Các phương pháp nghiên cứu chính sử dụng trong các nghiên cứu trong và ngoài nước

Về phương pháp nghiên cứu, tổng quan các công trình trong và ngoài nước cho thấy phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng chủ yếu cho đề tài này Hướng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai dòng: khám phá nhân tố bằng dữ liệu sơ cấp thu thập dưới dạng bảng câu hỏi/phiếu điều tra khảo sát, và kiểm định tác động của các nhân tố thông qua mô hình hồi quy với dữ liệu thứ cấp Các nghiên cứu theo hướng khám phá nhân tố được thực hiện bởi Cole (1998); Đỗ Thị Thu Hiền (2020); Uchida và cộng sự (2012); Võ Trí Thành và cộng sự (2011); Nguyễn Thị Nhung và cộng sự (2015) Với hướng nghiên cứu thứ hai, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng dữ liệu theo dạng bảng (panel data) để đánh giá tác động của các nhân tố nội tại cũng như bên ngoài đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Các phương pháp hồi quy tuyến tính với dữ liệu bảng được sử dụng gồm Pooled OLS, FEM, REM và GMM.

Về phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, phần lớn các nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam dựa trên dữ liệu từ các cuộc khảo sát về doanh nghiệp có quy mô lớn do các tổ chức uy tín thực hiện Đặc điểm của nguồn dữ liệu này được tổng hợp trong bảng dưới đây, nhằm hỗ trợ so sánh, đánh giá tính phù hợp và giá trị nghiên cứu của dữ liệu cho lĩnh vực doanh nghiệp tại Việt Nam.

Bảng 1.2: Tổng hợp nguồn dữ liệu được sử dụng trong các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Nguồn dữ liệu Đặc điểm Nghiên cứu sử dụng Chỉ trích Điều tra Doanh nghiệp (World

Survey) Đơn vị thực hiện:

- Điều tra ở cấp độ doanh nghiệp

- Số lượng DN tham gia: 996 doanh nghiệp

- Số lượng DN tham gia quá nhỏ

Trong tổng số 996 doanh nghiệp được xem xét, bao gồm doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ và siêu nhỏ, có 335 doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ Hiện tại không có sự phân loại rõ giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ, khiến mẫu nghiên cứu thiếu tính đại diện cho tổng thể và hạn chế khả năng khái quát kết quả.

- Số liệu thu thập được chỉ trong

2 năm (2009 và 2015) không phản ánh được sự thay đổi theo chuỗi thời gian và thiếu tính cập nhật

- Không cung cấp số liệu cụ thể về dư nợ cho vay DNSN của NHTM, chỉ phản ánh được việc

DN có vay vốn từ NHTM hay không Điều tra Doanh nghiệp nhỏ và vừa

(Vietnam SME survey) Đơn vị thực hiện:

Kinh tế Trung ương (CIEM),

Viện Khoa học Lao động và Xã hội

- Điều tra ở cấp độ doanh nghiệp

- Số lượng DN tham gia: trên

2500 DN từ 9 tỉnh, thành phố của Việt Nam, trong đó phần lớn

DN đã tham gia xuyên suốt qua các năm

- Số lượng DN tham gia quá nhỏ Không có sự phân loại giữa

DN nhỏ và siêu nhỏ Các DN được lựa chọn chỉ từ 9/63 tỉnh, thành phố của cả nước Do đó mẫu thiếu tính đại diện cho tổng thể

- Số liệu thu thập được mới nhất là năm 2013 do đó thiếu tính cập nhật

- Không cung cấp số liệu cụ thể về dư nợ cho vay DNSN của NHTM, chỉ phản ánh được việc

DN có vay vốn từ NHTM hay không

Nguồn: nghiên cứu của tác giả

Các nghiên cứu về hoạt động cho vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thường dựa trên dữ liệu sơ cấp từ các khảo sát do chính tác giả hoặc nhóm nghiên cứu tự thực hiện Dữ liệu sơ cấp từ khảo sát cho phép phân tích chi tiết điều kiện tiếp cận vốn, mức lãi suất, thời hạn vay và rủi ro tín dụng mà SME phải đối mặt Việc tự khảo sát giúp đảm bảo tính chính xác và phản ánh thực tế địa bàn nghiên cứu, từ đó cải thiện khả năng áp dụng kết quả và tăng tính tin cậy của các phân tích về hoạt động cho vay SME.

Đề tài của Đỗ Thị Thu Hiền (2020) phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định cho vay vốn DN vừa và nhỏ ở các NHTM vùng Tây Bắc dựa trên khảo sát 335 cán bộ chuyên trách xét duyệt tín dụng tại bốn tỉnh (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu), song dữ liệu này chỉ phản ánh trạng thái tại thời điểm khảo sát và không cho thấy xu hướng biến động của các nhân tố theo thời gian Tương tự, Lê Mai Lan và Trần Như An (2004) sử dụng dữ liệu sơ cấp từ khảo sát NHTM về hoạt động cho vay DNSN nhưng chỉ với năm ngân hàng và dữ liệu thu thập tại ba thời điểm (12/2001, 12/2002 và 6/2003), nên tính đại diện và tính thời gian của mẫu bị giới hạn Các bộ dữ liệu được dùng trong một số nghiên cứu khác ở Việt Nam (Nguyễn Thị Nhung và cộng sự, 2015; Nguyễn Thị Ngọc Diệp và Lê Thu Thủy, 2018) cũng gặp phải vấn đề tương tự về đại diện và theo dõi sự biến động theo thời gian.

Một số nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu thứ cấp từ ngân hàng thương mại (NHTM), điển hình như Nguyễn Thị Huyền (2017), Phạm Thị Lương (2017), Trần Cao Quang Tuấn (2016) và Nguyễn Tiến Đạt (2019) Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của các công trình này tương đối hẹp, chỉ diễn ra tại các chi nhánh của một NHTM duy nhất và với giai đoạn nghiên cứu ngắn ngủi (khoảng thời gian ngắn).

Trong 5 năm gần đây, các nghiên cứu mới chỉ phân tích được hiện trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNSN) tại các chi nhánh cụ thể Chúng chủ yếu mô tả đặc điểm hoạt động cho vay DNSN ở từng chi nhánh và chưa đưa ra phân tích tổng quan về hoạt động cho vay DNSN của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung.

Khoảng trống nghiên cứu

Dựa trên tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả nhận thấy hoạt động cho vay của NHTM nói chung không phải là đề tài mới nhưng đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ trên thế giới và tại Việt Nam; tuy nhiên hướng nghiên cứu về hoạt động cho vay DNSN của NHTM còn rất ít công trình được thực hiện cả ở Việt Nam và trên thế giới Dù vai trò của DNSN cũng như vai trò của các NHTM trong việc cung cấp vốn cho DNSN đã được nhấn mạnh nhiều trong các nghiên cứu, rất ít công trình dành riêng cho hoạt động cho vay DNSN của NHTM và thường được đặt trong tổng thể nghiên cứu về DNVVN Một số nghiên cứu tại Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu hoạt động cho vay DNSN của NHTM nhưng phạm vi hẹp (thường tại một chi nhánh) và thời gian nghiên cứu ngắn (khoảng 5 năm), nên chưa phản ánh đầy đủ bức tranh cho vay DNSN của các NHTM ở Việt Nam Các nghiên cứu theo hướng kiểm định nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNSN của NHTM chưa được thực hiện, trong khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của NHTM và DNVVN được thực hiện rộng rãi cả trên thế giới và tại Việt Nam Bên cạnh đó, kết quả của các nghiên cứu kiểm định nhân tố liên quan đến hoạt động cho vay của NHTM vẫn cho thấy nhiều điểm bất đồng giữa các tác giả, mở ra những khoảng trống nghiên cứu có thể được phát triển thêm trong các công trình tiếp theo Đây là những khoảng trống của các nghiên cứu trước đây và có thể được làm rõ hơn trong luận án này, đồng thời được xem là cơ sở để hoàn thiện các phân tích và định hướng nghiên cứu về hoạt động cho vay DNSN của NHTM.

Nghiên cứu về hoạt động cho vay DNSN của ngân hàng thương mại (NHTM) trước đây chủ yếu ở dạng khám phá, đặt vấn đề; khi xét đến các nghiên cứu mang tính đánh giá và kiểm định tác động của các nhân tố, DNSN thường được xem như một thành phần của nhóm DN vừa và nhỏ chứ không được xem như một đối tượng độc lập Một nhánh nghiên cứu khác xem DNSN như một đối tượng khách hàng trong hoạt động tài chính vi mô của các tổ chức tài chính vi mô và của NHTM, với các khoản cho vay DNSN mang tính chất hỗ trợ khởi sự kinh doanh, xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm Bên cạnh đó, một nhánh nghiên cứu khác tập trung giải thích các yếu tố để NHTM đưa ra quyết định cho vay đối với DN, bao gồm cả việc sử dụng thông tin nào, kỹ thuật cho vay và quan hệ giữa cán bộ tín dụng của ngân hàng với khách hàng Như vậy, nghiên cứu tổng thể về hoạt động cho vay DNSN của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này vẫn chưa được thực hiện.

Trong các nghiên cứu về DN nhỏ và vừa, tồn tại sự tranh cãi lớn giữa các kết quả trước đây, đặc biệt về các nhân tố liên quan đến đặc điểm của NHTM như quy mô và thanh khoản Sự khác biệt này có thể bắt nguồn từ kích thước mẫu, nguồn dữ liệu, thang đo và mô hình nghiên cứu được áp dụng Thêm vào đó, hoạt động cho vay của các NHTM chịu ảnh hưởng nhiều bởi khung pháp lý và môi trường pháp lý, khiến các nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau khó có tính khách quan và không hoàn toàn phù hợp với bối cảnh khu vực và địa phương Kết quả nghiên cứu chỉ phù hợp với bối cảnh khu vực và địa phương được nghiên cứu, và thay đổi bối cảnh nghiên cứu có thể dẫn đến sự thay đổi về kết quả.

Thứ ba, các nghiên cứu trước đây về hoạt động cho vay của NHTM thường chỉ tập trung đánh giá tốc độ tăng trưởng tín dụng mà bỏ qua xu hướng và biến động của hoạt động cho vay theo thời gian Đối với nghiên cứu về hoạt động cho vay, việc phân tích xu hướng cho vay và chu kỳ tín dụng là cần thiết để hiểu rõ thực trạng, từ đó đánh giá hiệu quả và rủi ro của các ngân hàng thương mại.

Đoạn này tập trung vào tác động của các nhân tố lên xu hướng cho vay DN nhỏ của NHTM nhưng chưa xem xét tới tốc độ tăng trưởng tín dụng của DN nhỏ Việc xem xét đồng thời cả hai yếu tố này là cần thiết để có đánh giá tổng quát về hoạt động cho vay của NHTM Thêm vào đó, thang đo được dùng để đo lường xu hướng cho vay của NHTM vẫn còn tranh cãi giữa các nghiên cứu, ảnh hưởng tới tính so sánh và độ tin cậy của kết quả.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về cho vay DNSN của NHTM chủ yếu dựa trên bối cảnh và dữ liệu từ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Vì vậy, kết quả thu được có thể phản ánh đúng một phần đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, do đặc điểm khác biệt về quy mô và đặc tính của DNSN so với các loại hình doanh nghiệp khác Đồng thời, các nghiên cứu nội địa chưa xem xét đầy đủ và toàn diện các nhân tố ảnh hưởng, thường chỉ tập trung vào một số yếu tố mà tác giả quan tâm, dẫn đến khoảng trống về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động cho vay DNSN của NHTM.

Chương này tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hoạt động cho vay doanh nghiệp của NHTM, dựa trên các hướng nghiên cứu chính được triển khai trước đây theo hai cách tiếp cận: từ phía cung và từ phía cầu Hướng nghiên cứu từ phía cung xem xét hoạt động cho vay DNSN dưới góc độ của NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác, trong khi hướng từ phía cầu tập trung vào khả năng tiếp cận vốn của DNSN Phần tổng quan cũng giới thiệu các phương pháp nghiên cứu chính mà các tác giả đã sử dụng để phân tích vấn đề tiếp cận vốn của DNSN Cuối cùng, bài viết chỉ ra những khoảng trống còn tồn tại trong các nghiên cứu trước đó.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO

Tổng quan về doanh nghiệp siêu nhỏ

2.1.1 Khái ni ệ m và đặ c đ i ể m c ủ a doanh nghi ệ p siêu nh ỏ

2.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp siêu nhỏ

Hiện nay chưa có sự đồng thuận giữa các quốc gia về định nghĩa và khái niệm DNSN (doanh nghiệp siêu nhỏ), khi mỗi nước áp dụng tiêu chí phân loại khác nhau; theo Teszler (1993), DNSN được hình dung như một doanh nghiệp có nguồn vốn hạn chế, được vận hành bởi chính chủ sở hữu, sử dụng rất ít lao động và không phải là nhân tố trọng yếu trong lĩnh vực kinh doanh của mình, trong khi Servon (1997) xem DNSN là doanh nghiệp của những người có thu nhập thấp Hai quan điểm này tiếp cận DNSN từ góc nhìn tài chính vi mô, nhấn mạnh vai trò của DNSN trong xóa đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng xã hội cũng như bất bình đẳng giới Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, DNSN được xem như một loại hình doanh nghiệp được phân theo quy mô và nằm trong tổng thể doanh nghiệp của nền kinh tế.

Do đó, nghiên cứu dựa vào các quy định của luật pháp về phân loại doanh nghiệp theo quy mô, chứ không xem xét DNSN theo quan điểm của các nhà kinh tế nghiên cứu tài chính vi mô Việc dựa vào khung pháp lý đảm bảo tính chuẩn mực và khả năng so sánh giữa các quy mô doanh nghiệp, đồng thời bỏ qua góc nhìn của DNSN từ quan điểm tài chính vi mô.

Nguyễn Thái Nhạn (2016) đã nghiên cứu và tổng hợp các quan điểm, định nghĩa về doanh nghiệp nhà nước (DNSN) trên thế giới Kết quả cho thấy DNSN được các tổ chức quốc tế và các quốc gia phân loại dựa trên một số tiêu chí chính như quy mô vốn, quy mô lao động, doanh thu, tài sản và chi phí Cụ thể, tác giả đã tổng hợp một số định nghĩa về DNSN dựa trên các tiêu chí này, từ đó cung cấp khung tham chiếu để so sánh và nhận diện sự khác biệt giữa các cách định nghĩa ở từng khu vực và thời kỳ.

Bảng 2.1 Tổng hợp phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ tại một số quốc gia

Quy mô lao động Doanh thu Tài sản Ghi chú

Phải là doanh nghiệp độc lập

Quy mô lao động Doanh thu Tài sản Ghi chú

Nhật Bản

Ngày đăng: 12/04/2022, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abdul Karim, Z., Azman-Saini, W. N. W., and Abdul Karim, B. (2011), ‘Bank Lending Channel of Monetary Policy: Dynamic Panel Data Study of Malaysia’, Journal of Asia-Pacific Business, số 12, tập 3, tr. 225–243 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Asia-Pacific Business
Tác giả: Abdul Karim, Z., Azman-Saini, W. N. W., and Abdul Karim, B
Năm: 2011
2. Aisen, A., and Franken, M. (2010), ‘Bank credit during the 2008 financial crisis: A cross-country comparison’, IMF Working Papers, tr. 1–25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IMF Working Papers
Tác giả: Aisen, A., and Franken, M
Năm: 2010
3. Aiyar, S. (2012), ‘From financial crisis to great recession: The role of globalized banks’, American Economic Review, số 102, tập 3, tr. 225-230, truy cập ngày 23 tháng 05 năm 2019, từ https://www.aeaweb.org/articles?id=10.1257/aer.102.3.225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review
Tác giả: Aiyar, S
Năm: 2012
4. Akerlof, G. A. (1978), ‘The market for “lemons”: Quality uncertainty and the market mechanism’, trong Uncertainty in economics, Elsevier, tr. 235–251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: lemons”: Quality uncertainty and the market mechanism’, trong "Uncertainty in economics
Tác giả: Akerlof, G. A
Năm: 1978
5. Alhassan, M. A. L., Brobbey, F. O., and Asamoah, M. E. (2013), ‘Does asset quality persist on bank lending behaviour? Empirical evidence from Ghana’, Global Journal of Management And Business Research, tập 13, số 4, tr. 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Journal of Management And Business Research
Tác giả: Alhassan, M. A. L., Brobbey, F. O., and Asamoah, M. E
Năm: 2013
6. Amidu, M. (2014), ‘What Influences Banks Lending in Sub-Saharan Africa?’, Journal of Emerging Market Finance, tập 13, số 1, tr. 1–42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Emerging Market Finance
Tác giả: Amidu, M
Năm: 2014
7. Arellano, M., and Bond, S. (1991), ‘Some tests of specification for panel data: Monte Carlo evidence and an application to employment equations’, The Review of Economic Studies, tập 58, số 2, tr. 277–297 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Review of Economic Studies
Tác giả: Arellano, M., and Bond, S
Năm: 1991
8. Asari, F., Baharuddin, N. S., Jusoh, N., Mohamad, Z., Shamsudin, N., and Jusoff, K. (2011), ‘A vector error correction model (VECM) approach in explaining the relationship between interest rate and inflation towards exchange rate volatility in Malaysia’, World Applied Sciences Journal, số 12, tập 3, tr.49–56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Applied Sciences Journal
Tác giả: Asari, F., Baharuddin, N. S., Jusoh, N., Mohamad, Z., Shamsudin, N., and Jusoff, K
Năm: 2011
9. Asselbergh, G. (2002), ‘Financing firms with restricted access to financial markets: The use of trade credit and factoring in Belgium’, The European Journal of Finance, số 8, tập 1, tr. 2–20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European Journal of Finance
Tác giả: Asselbergh, G
Năm: 2002
11. Avery, R. B., and Samolyk, K. A. (2004), ‘Bank consolidation and small business lending: The role of community banks’, Journal of Financial Services Research, số 25, tập 2, tr. 291–325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Financial Services Research
Tác giả: Avery, R. B., and Samolyk, K. A
Năm: 2004
13. Barajas, A., and Stein, R. (2002), ‘Credit Stagnation in Latin America’, IMF Working Papers, số 02, tập 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IMF Working Papers
Tác giả: Barajas, A., and Stein, R
Năm: 2002
14. Baydas, M. M., Graham, D. H., and Valenzuela, L. (1997), Commercial banks in microfinance: New actors in the microfinance world, Ohio State University, Department of Agricultural, Environmental, and Development Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Commercial banks in microfinance: New actors in the microfinance world
Tác giả: Baydas, M. M., Graham, D. H., and Valenzuela, L
Năm: 1997
15. Beck, T. (2007), ‘Financing constraints of SMEs in developing countries: Evidence, determinants and solutions’, KDI 36th Anniversary International Conference, tr. 26–27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KDI 36th Anniversary International Conference
Tác giả: Beck, T
Năm: 2007
16. Beck, T., Demirgỹỗ-Kunt, A., and Maksimovic, V. (2004), ‘Bank competition and access to finance: International evidence’, Journal of Money, Credit and Banking, số 36, tập 3, phần2, tr. 627–648 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Money, Credit and Banking
Tác giả: Beck, T., Demirgỹỗ-Kunt, A., and Maksimovic, V
Năm: 2004
17. Beck, T., Demirgỹỗ-Kunt, A., and Martớnez, M. S. (2010), ‘Foreign banks and small and medium enterprises: Are they really estranged?’, World Bank, Washington, DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Bank
Tác giả: Beck, T., Demirgỹỗ-Kunt, A., and Martớnez, M. S
Năm: 2010
18. Berger, A. N., and Black, L. K. (2011), ‘Bank size, lending technologies, and small business finance’, Journal of Banking & Finance, số 35, tập 3, tr. 724–735 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Banking & Finance
Tác giả: Berger, A. N., and Black, L. K
Năm: 2011
19. Berger, A. N., Cerqueiro, G., & Penas, M. F. (2015), ‘Market size structure and small business lending: Are crisis times different from normal times?’, Review of Finance, số 19, tập 5, tr. 1965-1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Finance
Tác giả: Berger, A. N., Cerqueiro, G., & Penas, M. F
Năm: 2015
20. Berger, A. N., Demirgỹỗ-Kunt, A., Levine, R., and Haubrich, J. G. (2004), ‘Bank concentration and competition: An evolution in the making’, Journal of Money, Credit and Banking, số 36, tập 3, tr. 433–451 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Money, Credit and Banking
Tác giả: Berger, A. N., Demirgỹỗ-Kunt, A., Levine, R., and Haubrich, J. G
Năm: 2004
21. Berger, A. N., and Frame, W. S. (2007), ‘Small business credit scoring and credit availability’, Journal of Small Business Management, số 45, tập 1, tr. 5–22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Small Business Management
Tác giả: Berger, A. N., and Frame, W. S
Năm: 2007
22. Berger, A. N., Frame, W. S., and Miller, N. H. (2005), ‘Credit scoring and the availability, price, and risk of small business credit’, Journal of Money, Credit and Banking, số 37, tập 2, tr. 191–222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Money, Credit and Banking
Tác giả: Berger, A. N., Frame, W. S., and Miller, N. H
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w