HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN 15 Môn Hồ sơ số Diễn lần Ngày diễn Vai diễn Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Học viên Ngày sinh Số báo danh Lớp Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 3 năm 2022 MỤC LỤC PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2 PHẦN II ĐÁNH GIÁ NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN TRONG VỤ ÁN 3 2 1 Đối tượng khởi kiện 3 2 2 Các đương sự trong vụ kiện 3 2 3 Thời hiệu khởi kiện 4 2 4 Yêu cầu giải quyết 4 2 5 Thẩm quyền của Tòa án 4 2 6 Văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết 5 PHẦN I.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Hồ sơ số :
Diễn lần :
Ngày diễn :
Vai diễn : Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 3 năm 2022
Học viên : Ngày sinh :
Số báo danh :
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2
PHẦN II ĐÁNH GIÁ NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN TRONG VỤ ÁN 3
2.1 Đối tượng khởi kiện 3
2.2 Các đương sự trong vụ kiện 3
2.3 Thời hiệu khởi kiện 4
2.4 Yêu cầu giải quyết 4
2.5 Thẩm quyền của Tòa án 4
2.6 Văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết 5
PHẦN III CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CẦN NGHIÊN CỨU 5
PHẦN IV CÁC CÂU HỎI DỰ KIẾN 6
4.1 Câu hỏi đối với Người bị kiện 6
4.2 Câu hỏi đối với Người khởi kiện 7
PHẦN V BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN 8
Trang 3NỘI DUNG BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN PHẦN I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 14/6/2016, ông Bùi Quang Hải và bà Nguyễn Thị Kim, thường trú 179/8/1, Trần Phú, Phường 5, Thành phố A, nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại UBND thành phố A với diện tích 156,7 m2 đất ở căn nhà số 179/8/1 Trần Phú, Phường 5, Thành phố A, gồm 2 phần như sau:
(i) Phần thứ nhất: 102 m2 thuộc thửa đất số 351 tờ bản đồ số 09 (theo bản đồ năm
2000) đã được UBND Thành phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 11/1/2013
(ii) Phần thứ 2: 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 (theo bản đồ năm 2000),
trên đất có dãy nhà cấp 4 do ông Mĩ (là cha của ông Hải) xây năm 2000
Ngày 7/9/2016 chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố A có thông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cho Ông Hải và Bà Kim Không đồng ý với với thông báo này, ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân Thành phố A
Ngày 9/12/2017 tòa án nhân dân Thành phố A ra bản án sơ thẩm, ông Hải và bà Kim kháng cáo Ngày 5/4/2018 Tòa án nhân dân tỉnh H ra bản án phúc thẩm số 04/2018/ HC-PT buộc chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim
và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật
Ngày 20/4/2018, ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại UBND Thành phố A và được hẹn trả kết quả ngày 06/6/2018
Đến hạn trả kết quả, ông Hải và bà Kim không nhận được bất kỳ văn bản/thông báo nào Đến ngày 14/8/2018 chi nhánh văn phòng đăng ký đất Thành phố A ra văn bản
số 4171/CNVPĐK-ĐKCG, giải trình đã trình hồ sơ lên văn phòng đăng ký đất đai thành phố A vào ngày 2/7/2018
Ngày 24/8/2014 ông Hải làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất
Ngày 30/1/2019 UBND Thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT trả lời cho ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim, ngày 9/3 UBND thành phố A đã có công văn số 1133/UBND-TNMT xin ý kiến hướng dẫn giải quyết, ngày 06/6/2019 Sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ gửi Tổng Cục Quản lý đất đai xem
Trang 4xét hướng dẫn giải quyết, nên trong thời gian chờ chỉ đạo tạm trả hồ sơ ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim,
Ngày 18/3/2019 UBND Thành phố A, đã ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT trả lời lý do tạm trả lại hồ sơ vì lo vướng mắc trong việc áp dụng qui định của pháp luật, cần xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu đủ điều kiện thì sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định
Ngày 4/4/2019 không đồng ý với các phương án giải quyết của UBND Thành phố
A, ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Tỉnh H yêu cầu:
(i) Hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số
1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND Thành phố A, và
(ii) Buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận
quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắng liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) Phường 5, Thành phố A theo qui định của pháp luật
PHẦN II ĐÁNH GIÁ NHỮNG NỘI DUNG LIÊN QUAN TRONG VỤ ÁN
2.1 Đối tượng khởi kiện
Đối tượng khởi kiện trong vụ án này bao gồm:
(i) Hành vi hành chính không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện
tích 54,7m2 cho ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim của UBND Thành phố A; và
(ii) Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND Thành phố
A về giải quyết đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải đối với hồ sơ đề nghị cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là “Văn bản số 1126”).
Vì đây là các Quyết định hành chính và hành vi hành chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông Bùi Quang Hải và Bà Đặng Thị Kim
Cơ sở pháp lý (“CSPL”): Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
2.2 Các đương sự trong vụ kiện
a) Người khởi kiện: ông Bùi Quang Hải (sinh năm 1971) và bà Đặng Thị Kim (sinh
năm 1981) cùng ngụ tại địa chỉ 179/8/1 Trần Phú, Phường 5, Thành phố A
CSPL: Khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 5b) Người bị kiện: UBND Thành phố A và Chủ tịch UBND Thành phố A (vì Quyết
định giải quyết khiếu nại là của cá nhân ban hành chứ không phải do tập thể ban hành)
CSPL: Khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 18 Luật khiếu nại 2011
2.3 Thời hiệu khởi kiện
- Thời hạn để trả kết quả hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim là ngày 06/6/2018, hết thời hạn này nhưng UBND Thành phố A không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hải, bà Kim Theo Luật Tố tụng hành chính 2015 thì thời hiệu để khởi kiện hai văn bản này là 01 năm kể từ ngày biết được hành vi hành chính
- Văn bản số 1126 được ban hành ngày 18/3/2019 Theo Luật Tố tụng hành chính
2015 thì thời hiệu để khởi kiện hai văn bản này là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được văn bản này
- Ngày 04/4/2019, ông Hải và bà Kim khởi kiện hành vi hành chính và văn bản trên
Vì vậy, việc ông Hải và bà Kim khởi kiện đã đáp ứng yêu cầu về thời hiệu theo luật định CSPL: Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015
2.4 Yêu cầu giải quyết
Yêu cầu giải quyết của Người khởi kiện trong vụ án này bao gồm:
(i) Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện;
(ii) Tuyên hành vi không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích
54,7m2 cho ông Hải và bà Kim của UBND Thành phố A là trái pháp luật và buộc UBND Thành phố A chấm dứt hành vi vi phạm này;
(iii) Buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận
quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắng liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) Phường 5, Thành phố A theo qui định của pháp luật; và
(iv) Hủy văn bản giải quyết khiếu nại có liên quan là Công văn số 1126/UBND-TNMT
ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND Thành phố A
CSPL: Điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 62.5 Thẩm quyền của Tòa án
Đối tượng khởi kiện trong vụ án này là các Quyết định hành chính do UBND Thành phố
A và Chủ tịch UBND Thành phố A, Tỉnh H ban hành Do đó, thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án này thuộc về Tòa án nhân dân Tỉnh H
CSPL: Điều 30, 32 Luật Tố tụng hành chính 2015
2.6 Văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết
(i) Luật Tố tụng hành chính 2015;
(ii) Luật Đất đai 1993;
(iii) Luật Đất đai 2013;
(iv) Luật Khiếu nại 2011;
(v) Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai 2013;
(vi) Thông tư 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định 43/2014/NĐ-CP;
(vii) Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai;
(viii) Nghị định 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định liên quan đến
quản lý, sử dụng đất bãi bồi ven song, bãi bồi ven biển, đất có mặt nước ven biển
PHẦN III CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CẦN NGHIÊN CỨU
(i) Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 của UBND Thành phố A về việc
tạm trả hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
(ii) Công văn số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND Thành phố A về việc
giải quyết đơn khiếu nại của ông Bùi Quang Hải;
(iii) Giấy tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố A ngày
20/4/2018;
(iv) Công văn số 4171/CNVPĐK-ĐKCG của Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố A ngày
14/8/2019 về việc trả lời ông Bùi Quang Hải;
(v) Bộ hồ sơ gốc xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Bùi Quang Hải và
bà Đặng Thị Kim đã nộp cho Chi nhánh VPĐKĐĐ Thành phố A;
Trang 7(vi) Công văn số 4275/TNMT-GQĐT ngày 27/9/2019 về việc nêu quan điểm của
UBND Thành phố A đối với vụ ông Hải;
(vii) Bản đồ kèm Quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của UBND tỉnh H về
việc phê duyệt qui hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2020;
(viii) Bản đồ kèm Quyết định số 653/QĐ-UBND của UBND tỉnh H ngày 02/4/2014 về
việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của UBND Thành phố A, kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của UBND Thành phố A;
(ix) Xác nhận của UBND Phường 5 ngày 13/7/2016 về nguồn gốc đất, quá trình sử
dụng nhà, đất của ông Hải, bà Kim;
(x) Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư
PHẦN IV CÁC CÂU HỎI DỰ KIẾN
4.1 Câu hỏi đối với Người bị kiện
1 Đại diện UBND Thành phố A cho biết, UBND đã nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hải và bà Kim ngày 20/4/2018 và hẹn trả kết quả vào ngày 06/6/2018 đúng không?
2 Vậy thành phần hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông
Hải, bà Kim đã nộp đã đầy đủ theo quy định của pháp luật hiện hành đúng không?
3 Ngày 06/6/2018 đến hạn trả kết quả hồ sơ của ông Hải, bà Kim nhưng UBND
Thành phố A không ban hành bất kỳ văn bản nào phản hồi ông Hải, bà Kim đúng không?
4 Vậy đại diện UBND Thành phố A cho biết, việc đến hạn trả kết quả hồ sơ nhưng
UBND đã không ban hành bất kỳ văn bản nào để phản hồi như vậy có tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật hay chưa?
5 Đại diện UBND Thành phố A đồng ý với xác nhận của UBND Phường 5 về nguồn
gốc đất và quá trình sử dụng đất của ông Hải, bà Kim đúng không?
6 Đối với diện tích đất ông Hải, bà Kim đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thì từ trước đến nay chưa bị xử lý vi phạm pháp luật về đất đai đúng không?
7 Theo bản đồ địa chính năm 2002 thì diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất có tổng diện
tích 156,7m2 của ông Hải, bà Kim đúng không?
8 Trong tổng diện tích đất 156,7m2 thì 102m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BM 62400 ngày 11/01/2013 đúng không?
Trang 89 Diện tích đất ông Hải và bà Kim đang đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất có phù hợp với các quy hoạch của địa phương hay không?
10 Đại diện UBND Thành phố A cho biết, UBND có biết đến quy định của Luật Đất
đai 2013 về việc Nhà nước khuyến khích khai hoang, phục hóa, lấn biển hay không?
11 UBND Thành phố A khẳng định rằng đất hiện nay chưa có quy định của pháp luật
quy định cụ thể về đất “lấn biển” đúng không?
12 UBND Thành phố A cho biết, pháp luật đất đai hiện hành có quy định nào về việc
tạm trả hồ sơ để xin hướng dẫn từ cấp trên hay không?
13 Vậy việc tạm trả hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất của
ông Hải, bà Kim có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
14 Đại diện Người bị kiện cho biết, Văn bản số 1126 là văn bản giải quyết khiếu nại
của ông Hải, bà Kim đúng không?
15 Vậy, Văn bản số 1126 ban hành dưới hình thức công văn thì đã phù hợp với quy
định của pháp luật hay chưa?
4.2 Câu hỏi đối với Người khởi kiện
1 Ông/Bà hãy cho biết, tại thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, cán bộ tiếp nhận hồ sơ có xem xét hồ sơ và hướng dẫn về thủ tục cho ông/bà hay không? Có yêu cầu bổ sung thêm tài liệu gì hay không?
2 Ông/Bà hãy cho biết trong quá trình sử dụng đất, năm 2004 ông/bà có bị xử phạt vi
phạm hành chính đối với hành vi gì?
3 Ông/Bà hãy cho biết, trong quá trình sử dụng đất, ông/bà đã thực hiện các nghĩa vụ
về đất đai như thuế đất, hay không?
4 Ông/Bà có chấp nhận lý do tạm trả hồ sơ mà UBND thành phố A đưa ra trong văn
bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 không?
5 Ông/Bà hãy cho biết, việc chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã ảnh
hưởng đến quyền lợi của ông/bà như thế nào?
Trang 9PHẦN V BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN LÀ
ÔNG BÙI QUANG HẢI VÀ BÀ ĐẶNG THỊ KIM PHẦN MỞ ĐẦU:
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa đại diện viện kiểm sát!
Thưa Luật sư đồng nghiệp!
Tôi, …, là Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Associates, thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như theo dõi diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm của mình nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khởi kiện như sau:
NỘI DUNG:
Qua phần trình bày của phía người khởi kiện, người bị kiện và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa tại phiên tòa hôm nay đã thể hiện rõ nội dung của vụ án Do đó, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung tranh chấp trong vụ án này
Người khởi kiện yêu cầu Tòa án: (i) tuyên hành vi không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 54,7m2 cho ông Hải và bà Kim của UBND Thành phố
A là trái pháp luật và buộc UBND Thành phố A chấm dứt hành vi vi phạm này; (ii) buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắng liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164
tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) Phường 5, Thành phố A theo qui định của pháp luật; và (iii) hủy văn bản giải quyết khiếu nại có liên quan là Công văn số 1126/UBND-TNMT
ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND Thành phố A (“Văn bản số 1126”).
Trang 10Tôi cho rằng yêu cầu như trên của phía người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận các lý do sau:
1 Hành vi hành chính không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích
54,7 m2 cho ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim của UBND Thành phố A là trái pháp luật
2 Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND Thành phố
A về giải quyết đơn khiếu nại của ông Hải, bà Kim là trái pháp luật
Sau đây, tôi xin đưa ra những lập luận của mình để phân tích và chứng minh các luận điểm nêu trên
Đầu tiên, tôi cho rằng hành vi hành chính không cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất với diện tích 54,7 m2 cho ông Hải và bà Kim của UBND Thành phố A là trái pháp luật bởi lẽ ông Hải và bà Kim có đầy đủ các điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích này theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể:
Thứ nhất, phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ năm 2000) là thuộc sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Hải, bà Kim
Tại Xác nhận của UBND Phường 5:
“Phần diện tích 54,7 m2 còn lại phía biển (hiện nay là dãy phòng trọ) có nguồn gốc như
sau: Phần diện tích này trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn từ trước năm 1993 Đến năm 1998 ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá Đến năm
2000 ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Đến năm 2002, ông Mĩ lập giấy tay bán toàn bộ nhà đất này cho vợ chồng con trai là ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim tiếp tục sử dụng cho thuê cho đến nay, không ai tranh chấp Hiện nay ông Mĩ đã chết (Kèm theo phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 21/06/2016)”.
“…Thời điểm sử dụng đất vào mục đích hiện nay: năm 2000…”
“…Sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất: Theo quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày
27/6/2014 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm
2020, kế hoạch sử dụng đất chi tiết 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của 16 phường và xã phát triển đô thị Long Sơn – thành phố A, tỉnh H thì phần diện tích đất bà Kim ông Hải đang xin cấp giấy chứng nhận nằm trong quy hoạch đất ở tại đô thị + một phần nằm trong quy hoạch mở đường giao thông”….