ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Trên đàn lợn nái mang thai nuôi tại cơ sở
Nghiên cứu này tập trung vào quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái mang thai tại trang trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Tại trang trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Thời gian: Từ ngày 24 tháng 07 năm 2020 đến ngày 3 tháng 1 năm 2021.
Nội dung nghiên cứu
Tại trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố, quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái trong giai đoạn mang thai được áp dụng nghiêm ngặt Việc này bao gồm các biện pháp phòng ngừa và trị bệnh hiệu quả nhằm đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn Chăm sóc đúng cách không chỉ giúp lợn nái phát triển khỏe mạnh mà còn nâng cao năng suất sinh sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của trại.
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn mang thai
- Biện pháp phòng trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai.
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại lợn Đỗ Đức Thuận - huyện Ba Vì
- Khẩu phần ăn của lợn nái trong từng giai đoạn mang thai, lợn nái hậu bị
- Biện pháp vệ sinh phòng bệnh đối với lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị
- Lịch tiêm phòng vắc - xin cho đàn lợn nái hậu bị, lợn nái mang thai tại trại
- Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái mang thai của trại và các phác đồ điều trị hiệu quả
3.4.2.1 Quy trình nuôi dưỡng lợn nái mang thai
Để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho lợn mang thai, cần xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng Cần cân đối khẩu phần ăn, đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cung cấp đủ vitamin và khoáng chất cần thiết cho sức khỏe của lợn.
- Cần ghi chép ngày phối giống để tính toán ngày đẻ và có kế hoạch trực lợn đẻ
Trong quá trình chăm sóc lợn, việc quan sát kỹ lưỡng các biểu hiện bất thường là rất quan trọng để phát hiện sớm bệnh Điều này giúp áp dụng biện pháp xử lý phù hợp, từ đó hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của thai.
Vệ sinh xoa bóp bầu vú khoảng 10 - 15 ngày trước khi lợn dự kiến sinh con giúp kích thích sản xuất sữa hiệu quả Nếu bầu vú có dấu hiệu xây xước hoặc nứt nẻ, cần bôi vazơlin và sử dụng kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng.
- Sau khi chuyển lợn sang ô chờ đẻ cần cẩn thận, tránh làm cho lợn vận động quá mạnh, không đánh đập
- 7 ngày trước khi đẻ: dọn vệ sinh khử trùng chuồng trại, che chắn chuồng trại
Để đảm bảo sức khỏe cho lợn, cần cung cấp thức ăn đầy đủ dưỡng chất, không bị ôi thiu hay mốc, cùng với nước sạch để uống Trong mùa đông lạnh, nên tăng cường lượng cám trong khẩu phần ăn để bù đắp năng lượng bị mất.
3.4.2.2 Quy trình vệ sinh phòng bệnh tại trại
Chuồng trại được xây dụng theo tiêu chuẩn và luôn giữ vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo sức khỏe cho chăn nuôi lợn
Chuồng phân được thiết kế với từng khu vực riêng biệt, thuận lợi cho việc chăm sóc và theo dõi Mỗi chuồng đều đảm bảo thông thoáng, trang bị hệ thống giàn mát, quạt thông gió, cùng với tủ thuốc và dụng cụ chăn nuôi đầy đủ.
Thường xuyên rửa, phun sát trùng chuồng trại, xử lí chất thải hợp vệ sinh, đảm bảo an toàn dịch bệnh
Không để các lịch (B 3.1; 3.2 và 3.3) ở Phần 2, chuyển các bảng này sang Phần 4
Kính thưa Thầy Cô, em xin phép được bảo lưu kết quả của mình do lịch trình bị trùng lặp, không phải là kết quả thực hiện được, vì vậy em xin để ở phần 3 ạ.
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng nái mang thai
Ngoài chuồng Ngoài khu vực chăn nuôi
Thứ 2 Phun sát trùng Phun sát trùng Quét dọn
Thứ 3 Rắc vôi Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 4 Phun sát trùng Rắc vôi
Thứ 5 Phun sát trùng Phun sát trùng Quét dọn
Thứ 6 Rắc vôi Phun thuốc diệt muỗi
Thứ 7 Phun sát trùng Rắc vôi
CN Phun thuốc diệt muỗi Phun thuốc diệt muỗi
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
(Nguồn: Quản lý tại trang trại Đỗ Đức Thuận)
* Phòng bệnh bằng vắc - xin
Tiêm phòng vắc - xin cho lợn nái hậu bị:
Sau khi hoàn tất quá trình tuyển chọn lợn nái để làm hậu bị, những con lợn nái đạt tiêu chuẩn phối giống cần được áp dụng các biện pháp thú y cần thiết.
Trước khi phối giống từ 2 đến 3 tuần, cần tiến hành tiêm vắc-xin cho lợn để phòng ngừa các bệnh như dịch tả, lở mồm long móng, khô thai, tai xanh (hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp), giả dại và hội chứng còi cọc ở lợn con sau cai sữa Việc tiêm phòng đúng lịch không chỉ bảo vệ sức khỏe cho lợn mà còn nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Không để các lịch (B 3.1; 3.2 và 3.3) ở Phần 2, chuyển các bảng này sang Phần 4
Kính gửi Thầy Cô, em xin phép được bảo lưu kết quả của mình vì đây chỉ là lịch tiêm phòng, không phải là kết quả thực hiện Do đó, em đề nghị để thông tin này ở phần 3.
Bảng 3.2 Lịch tiêm vắc - xin cho đàn lợn nái hậu bị nuôi tại cơ sở Tên bệnh, vắc – xin Tuần tuổi Loại vắc - xin
Vị trí tiêm Liều lượng
Tai xanh 26 tuần tuổi Nhược độc Tiêm bắp 2ml/con Khô thai 27 tuần tuổi Vô hoạt Tiếp bắp 2ml/con
Dịch tả cổ điển ở lợn 28 tuần tuổi cần tiêm bắp 2ml/con Hội chứng còi cọc sau cai sữa xuất hiện ở lợn 29 tuần tuổi, yêu cầu tiêm bắp 1ml/con Đối với bệnh giả dại, lợn 30 tuần tuổi cũng cần tiêm bắp 2ml/con.
Long móng 31 tuần tuổi Vô hoạt Tiêm bắp 2ml/con
(Nguồn: Quản lý tại trang trại Đỗ Đức Thuận) Tiêm phòng vắc - xin cho đàn lợn nái mang thai
Tiêm vắc-xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả cho đàn lợn, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm và lây lan nhanh Việc phòng bệnh luôn được ưu tiên hơn chữa bệnh, đặc biệt tại các trại sản xuất lợn giống Do đó, việc theo dõi và thực hiện lịch tiêm phòng chính xác là rất quan trọng để tạo miễn dịch chủ động cho lợn, từ đó đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn.
30 cho cả lợn mẹ và lợn con Đồng thời, nếu trại thực hiện việc phòng bệnh bằng vắc - xin thì sẽ dễ dàng hơn trong việc xuất sản phẩm
Để đạt hiệu quả phòng bệnh cao từ vắc-xin, việc sử dụng đúng cách là rất quan trọng Hiệu quả của vắc-xin phụ thuộc vào sức khỏe của động vật, vị trí tiêm, cách bảo quản và chất lượng vắc-xin Do đó, việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu trong quá trình sử dụng vắc-xin là cần thiết để tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu chi phí chăn nuôi.
Không để các lịch (B 3.1; 3.2 và 3.3) ở Phần 2, chuyển các bảng này sang Phần 4
Thưa Thầy Cô, em xin phép bảo lưu kết quả của mình, vì đây chỉ là lịch tiêm phòng chứ không phải kết quả thực hiện, nên em đề nghị để ở phần 3 ạ.
Bảng 3.3 Lịch tiêm vắc - xin cho đàn lợn nái mang thai tại cơ sở
Tên bệnh Tuần chửa Cách dung
Vị trí tiêm Liều lượng
Dịch tả lợn Tuần 10 sau phối Tiêm bắp 2ml/con Giả dại Tuần 12 sau phối Tiêm bắp 2ml/con Circo Tuần 13 sau phối Tiêm bắp 1ml/con
(Nguồn: Quản lý tại trang trại Đỗ Đức Thuận) 3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu
- Tỷ lệ mắc bệnh (%) = Σ Số nái mắc bệnh (con) x 100 Σ Số nái theo dõi (con)
- Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng (%) Số nái mắc bệnh theo từng tháng (con) x 100 Σ Số nái theo dõi (con)
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu thu được xử lý trên phần mềm Excell trên máy vi tính
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm gần đây
Trang trại Đỗ Đức Thuận chuyên cung cấp giống lợn chất lượng cao, bao gồm các giống lợn Duroc (Bắc Mỹ), Yorkshire (Anh) và Landrace (Đan Mạch) Hiện tại, trại có một lợn đực giống được nuôi trong chuồng bầu gần giàn mát để thuận tiện cho việc phối giống và kích thích động dục cho lợn nái Tinh lợn được khai thác tại trại có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu thụ tinh nhân tạo Quy trình sản xuất lợn giống tại trại diễn ra liên tục, với mỗi nái được phối từ 2 đến 3 liều tinh, trong đó nái hậu bị và nái kiểm định được phối 3 liều, còn nái cơ bản được phối 2 liều.
Trung bình, lợn nái tại trại sản xuất đạt 2,50 lứa mỗi năm, với số lượng con sơ sinh khoảng 14 con mỗi đàn và số con cai sữa là 12 con mỗi đàn Lợn con được nuôi dưỡng theo mẹ để đảm bảo sự phát triển tốt nhất.
24 - 25 ngày tuổi, chậm nhất là 27 - 28 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng cai sữa
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm 2018 - 2020
1 Lợn đực giống (con) 3 Nghỉ dịch tả lợn châu phi 1
2 Lợn nái hậu bị (con) 40 Nghỉ dịch tả lợn châu phi 10
3 Lợn nái sinh sản (con) 100 Nghỉ dịch tả lợn châu phi 58
4 Lợn con cai sữa (con) 2138 Nghỉ dịch tả lợn châu phi 320
5 Lợn con chuyển qua nuôi thịt (con) 1200 Nghỉ dịch tả lợn châu phi 320
(Nguồn: Quản lý tại trang trại Đỗ Đức Thuận)
Năm 2018, trại Đỗ Đức Thuận có tổng số lợn lên đến 3.481 con, cho thấy quy mô chăn nuôi lớn Tuy nhiên, vào năm 2019, do dịch tả lợn châu Phi, trại đã phải tiêu hủy lợn và bỏ chuồng trống Đến năm 2020, trại đã tiến hành tái đàn và hiện tại đã ổn định với 709 con lợn.
Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng và tại cơ sở
Sau thời gian thực tập tại trang trại Đỗ Đức Thuận, với sự hỗ trợ nhiệt tình từ thầy cô và công nhân viên, tôi đã hoàn thành mục tiêu đề ra và tích lũy được những kiến thức quý báu, phục vụ cho sự phát triển bản thân trong tương lai.
Nắm được quy trình chăn nuôi các loại lợn: Lợn nái chửa, nái hậu bị, lợn đực
Tham gia điều tra sổ sách của trại và sổ sách theo dõi từng cá thể, ghi chép và tiến hành ghép đôi giao phối phù hợp
Trong thời gian thực tập, tôi đã trực tiếp chăm sóc đàn lợn nái mang thai theo đúng quy trình kỹ thuật của trại Tôi đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh cho lợn nái mang thai.
Kết quả thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh tại trại được thể hiện ở bảng 4.2:
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn tại cơ sở
Công việc Số lần/ngày Chỉ tiêu
Trong 5 tháng thực tập tại cơ sở em được trực tiếp tham gia tra thức ăn, lật máng, rửa máng, xịt gầm trại hàng ngày là 312 lần, chiếm tỷ lệ 100% Dọn phân và ra phân hàng ngày là 468 lần, chiếm tỷ lệ 100% Tắm lợn 45 lần chiếm tỷ lệ 50% Qua quá trình làm em đã nắm được quy trình chăm sóc lợn và vệ sinh chuồng nuôi như thế nào là hợp lý (số lần thực hiện công tác tắm lợn thấp hơn chỉ tiêu do thời tiết mùa đông, nhiệt độ xuống thấp không tắm cho lợn được).
Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại cơ sở
4.3.1 Công tác phòng bệnh bằng vệ sinh sát trùng chuồng trại
Trong chăn nuôi, vệ sinh chuồng nuôi đóng vai trò quan trọng để đảm bảo môi trường luôn sạch sẽ và thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông Tại trại, tôi thực hiện các công việc như vệ sinh dụng cụ chăn nuôi, phun thuốc sát trùng và diệt côn trùng như gián và chuột, cũng như rắc vôi quanh khu vực chăn nuôi để duy trì sức khỏe cho vật nuôi.
Để đảm bảo an toàn cho khu chăn nuôi, cần phun thuốc sát trùng Omnicide xung quanh và bên trong chuồng Đồng thời, sử dụng thuốc diệt ký sinh trùng Kinaper 50EC của công ty cổ phần Kiên Nam, pha với tỷ lệ 100ml dung dịch với 16 lít nước Phun dung dịch này lên tường, vách, gầm và nền chuồng Ngoài ra, vôi bột cũng cần được rắc xung quanh chuồng trại, lối đi và trên nền chuồng, hoặc pha loãng với nước để quét lên tường, ô chuồng và dụng cụ chăn nuôi nhằm tăng cường hiệu quả khử trùng.
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại
Số lượng theo quy định
Số lượng trực tiếp thực hiện
Vệ sinh chuồng trại hàng ngày 312 312 100
Phun sát trùng toàn trại 5 5 100
Vệ sinh sụng cụ chăn nuôi 156 156 100
Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy trại luôn chú trọng đến công tác phòng bệnh thông qua việc vệ sinh và sát trùng thường xuyên Theo quy định, vệ sinh chuồng trại được thực hiện hai lần mỗi ngày, phun sát trùng hai lần mỗi tuần, phun sát trùng toàn trại một lần mỗi tháng, phun thuốc diệt muỗi một lần mỗi tháng, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi hàng ngày, rắc vôi ngoài chuồng hai lần mỗi tuần, lau dọn phòng tinh hai lần mỗi tháng và quét đường đi hai ngày một lần Trong năm tháng thực tập, tôi đã thực hiện vệ sinh chuồng trại 312 lần, phun sát trùng 22 lần, phun sát trùng toàn trại 5 lần, phun thuốc diệt muỗi 4 lần, vệ sinh dụng cụ chăn nuôi 156 lần, rắc vôi ngoài chuồng 22 lần, lau dọn phòng tinh 5 lần và quét đường đi 83 lần, với tỷ lệ hoàn thành từ 50 đến 100% Qua quá trình này, tôi đã học được cách thực hiện vệ sinh và sát trùng hợp lý, sử dụng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp để hạn chế dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.
4.3.2 Kết quả phòng bệnh bằng vắc - xin
Tiêm vắc-xin phòng bệnh cho lợn là rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn lợn nái mang thai Việc tiêm phòng giúp lợn nái có sức đề kháng tốt, bảo vệ sức khỏe của đàn lợn trong thời kỳ nhạy cảm này, khi chúng dễ bị bệnh tấn công Hơn nữa, lợn mẹ được tiêm vắc-xin cũng sẽ sinh ra đàn con có hệ miễn dịch mạnh mẽ hơn so với những con không được tiêm.
Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc - xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại
Loại lợn Bệnh được phòng Loại vắc-xin
Số lợn an toàn (con)
Dịch tả (cổ điển) Nhược độc 10 10 100
Lở mồm long móng Vô hoạt 10 10 100
Dịch tả lợn (cổ điển) Nhược độc 58 58 100
Kết quả từ bảng 4.4 cho thấy trại đã thực hiện quy trình tiêm vắc-xin phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản trong giai đoạn mang thai một cách nghiêm ngặt, đạt tỷ lệ an toàn 100% Trong suốt quá trình tiêm, không ghi nhận hiện tượng sốc thuốc và không có con nái nào bị mắc bệnh sau khi tiêm phòng.
Tại trại nuôi, em đã học được nhiều kinh nghiệm quý giá về phòng bệnh thông qua việc sử dụng vắc-xin Việc tiêm vắc-xin cần đảm bảo đúng liều lượng, đúng vị trí và đúng lịch trình, vì mỗi loại vắc-xin có đặc thù riêng về hiệu quả và thời gian miễn dịch Sử dụng vắc-xin không đúng kỹ thuật hoặc sai thời điểm có thể làm mất hoạt tính của nó Trước khi tiêm, cần lắc kỹ lọ vắc-xin và sử dụng ngay sau khi pha, nếu còn thừa thì phải hủy bỏ.
Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên lợn
4.4.1 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng
Bệnh viêm tử cung và tình trạng bỏ ăn không rõ nguyên nhân ở lợn nái mang thai có thể xuất phát từ quá trình vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, kỹ thuật và sự thay đổi khí hậu Do đó, việc theo dõi tình hình mắc bệnh theo tháng là rất cần thiết Kết quả theo dõi được trình bày chi tiết trong bảng 4.5.
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng
Số nái theo dõi (con)
Viêm tử cung Bỏ ăn không rõ nguyên nhân
Kết quả ở bảng 4.5 cho thấy: Lợn nái mang thai tại trại thường mắc bệnh
Trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11, chúng tôi đã theo dõi 58 lợn nái mang thai và ghi nhận có 8 con mắc bệnh viêm tử cung, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 8,33% đến 17,64% Ngoài ra, một số lợn nái còn gặp tình trạng bỏ ăn không rõ nguyên nhân.
Trong tháng 12, sẽ phối 12 nái đã cai sữa, trong đó có 2 nái bị viêm tử cung chiếm 16,67% và 1 nái bỏ ăn không rõ nguyên nhân chiếm 8,33% Tổng cộng có 10 nái mắc viêm tử cung với tỷ lệ 17,24%, nguyên nhân có thể do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo không đúng, dụng cụ dẫn tinh không được khử trùng, hoặc quy trình bảo quản tinh không đạt tiêu chuẩn, dẫn đến vi khuẩn xâm nhập Bỏ ăn không rõ nguyên nhân có 11 nái mắc, tỷ lệ 18,96%, có thể do rối loạn nội tiết tố sau khi lợn đậu thai, thai chết do nhiều nguyên nhân như độc tố nấm mốc, bệnh truyền nhiễm như dịch tả, lở mồm long móng, hoặc do thai quá nhiều gây đau đớn cho lợn mẹ.
4.4.2 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại
Dựa trên kiến thức từ lớp học, kinh nghiệm thực tập và sự hỗ trợ từ quản lý trại, tôi đã tiến hành điều trị các bệnh thường gặp ở lợn nái trong thời kỳ mang thai, như viêm tử cung và tình trạng bỏ ăn không rõ nguyên nhân, theo phác đồ điều trị và loại thuốc phù hợp để nâng cao sức đề kháng, như được trình bày trong bảng 4.6 dưới đây.
Bảng 4.6 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn nái mang thai tại trại
Số nái điều trị (con)
15 - 20ml/lần/con Vilamoks - LA
Từ kết quả thu được ở bảng 4.6 có thể thấy:
Viêm đường sinh dục trong thai kỳ có thể xảy ra do việc sử dụng dụng cụ phối hợp không vô trùng hoặc quá cứng, gây trầy xước niêm mạc và dẫn đến viêm nhiễm Để điều trị tình trạng này, em đã áp dụng phác đồ sử dụng thuốc kháng sinh Vilamoks LA kết hợp với Gluco - K để tăng cường sức đề kháng.
C và Hanalgin là thuốc hiệu quả trong việc giảm đau và hạ sốt cho lợn mắc bệnh sốt, đặc biệt trong điều trị viêm đường sinh dục, với tỷ lệ khỏi đạt 100% Đối với lợn nái mang thai bị bỏ ăn không rõ nguyên nhân, phác đồ điều trị sử dụng Gluco - K - C và Vitamin C cũng cho thấy tỷ lệ khỏi 100%.
Việc chẩn đoán chính xác bệnh và lựa chọn thuốc điều trị phù hợp là rất quan trọng, vì điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn tăng năng suất chăn nuôi và giảm chi phí trong quá trình chăn nuôi.
Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại
Ngoài việc thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái mang thai được nuôi dưỡng ở chuồng bầu, em còn được
Trong công tác chăn nuôi, 39 người đã tham gia vào nhiều hoạt động như phối giống cho lợn nái, dọn vệ sinh chuồng đẻ, dọn cỏ và phát quang khu vực xung quanh trại Kết quả chi tiết của những hoạt động này được thể hiện rõ ràng trong bảng 4.7.
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại
STT Công việc Đơn vị tính
Số lượng theo quy định
Số lượng trực tiếp thực hiện
1 Phối giống cho lợn nái Con 58 29 50
2 Dọn vệ sinh chuồng đẻ Ô đẻ 36 18 50
3 Dọn cỏ xung quanh khu vực chăn nuôi Lần 40 20 50
Theo bảng 4.7, em đã thực hiện phối giống cho 58 nái, trong đó có 29 nái đạt tỷ lệ 50% Em cũng đã dọn vệ sinh cho 36 ô đẻ, với 18 ô đạt tỷ lệ 50% Ngoài ra, em thực hiện dọn cỏ và phát quang khu vực chăn nuôi 2 lần/tuần trong 20 tuần, hoàn thành tổng cộng 20 lần, đạt tỷ lệ 50% Như vậy, em đã hoàn thành tốt tất cả các công việc được giao với tỷ lệ cao.