Trước đây người lao động Việt Nam làm việc trong các doanhnghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì người ta cho rằng đó là việc xuất khẩu lao động tại chỗ, tức là làm việc c
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan của sinh viên thực hiện chuyên đề Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu, sơ đồ
Lời mở đầu ……….…………8
Phần I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ………….…9
1 Khái niệm về xuất khẩu lao động……….9
2 Phân loại xuất khẩu lao động ……….10
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ……… 15
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bên cung ứng lao động … ……….15
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng của bên tiếp nhận lao động ……….20
4 Quy trình tổ chức xuất khẩu lao động ……….23
5 Hiệu quả của xuất khẩu lao động ……… 26
6 Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động ……….27
Phần II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN LẬP THẠCH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2002 – 2007 …29 I Các đặc điểm của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc có ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ……… ……… ………29
1 Đặc điểm về tự nhiên ………29
2 Đặc điểm về kinh tế ……….30
Trang 22 Tổ chức bộ máy xuất khẩu lao động ……… … 38
3 Hình thức và quy trình xuất khẩu lao động ……… …41
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động ở địa phương 44
5 Đánh giá hiệu quả xuất khẩu lao động ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh phúc giai đoạn 2002 – 2007 ……… …46
Phần III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC TRONG THỜI GIAN TỚI…… …… …61
Kết luận và kiến nghị ……….72Phụ lục ……… ………73Tài liệu tham khảo…… …… ……….………79
Trang 3CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-o0o -Lêi cam ®oan
Kính gửi: Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Tên tôi là: Hoàng Văn Tú hiện là sinh viên lớp HCKT K7- Trong giờ, MSSV: CT071025 Trong quá trình viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp từ
ngày 07/01/2008 đến ngày 13/04/2008 tại Phòng Nội vụ- LĐTBXH huyệnLập Thạch Tôi xin cam đoan:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp về “Đánh giá tình hình xuất khẩu laođộng ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 – 2007” là sản phẩmcủa cá nhân tôi, không hề sao chép dưới mọi hình thức bất kỳ tài liệu nào của
ai trừ những dẫn chứng cụ thể từ tài liệu tham khảo trong phần lý thuyết.Mọi số liệu trong báo cáo đều trung thực, cập nhật và có xác nhận củađơn vị thực tập tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan mọi lời khai ở trên là đúng sự thật, nếu sai tôi xin hoàntoàn chịu trách nhiệm trước nhà trường và trước pháp luật./
Hà nội, ngày 13 tháng 4 năm 2008
Người viết cam đoan
Hoàng Văn Tú
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- LĐ-TB&XH : Lao động – Thương binh và Xã hội
- HĐLĐ : Hợp đồng lao động
- QLLĐNN : Quản lý lao động ngoài nước
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- UBND : Uỷ ban nhân dân
- BCĐ : Ban chỉ đạo
- TW : Trung ương
- XĐGN : Xoá đói giảm nghèo
- CNH-HĐH : Công nghiệp hoá hiện đại hoá
- NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- NHNN : Ngân hàng nhà nước
- CĐ-ĐH-THCN : Cao đẳng, Đại học trung học chuyên nghiệp
- PTTH, THCS : Phổ thông trung học, trung học cơ sở
_
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quy trình xuất khẩu lao động
Bảng 2.1: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động
của huyện Lập Thạch qua các năm từ 2002 đến 2007
Biểu 2.2: biểu đồ về số lượng người đi xuất khẩu lao động
qua các năm từ 2002-2007 của huyện Lập Thạch
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy làm công tác xuất khẩu lao động
ở huyện Lập Thạch tỉnh V ĩnh Phúc
Bảng 2.4: Tổng hợp một số chỉ tiêu về xuất khẩu lao động
của huyện Lập Thạch từ năm 2002-2007
Bảng 2.5: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động chia theo thị tường
(nước/khu vực người lao động đang làm việc)
Bảng 2.6: Tổng hợp số tiền mà người lao động gửi về nước qua các năm Bảng 2.7: Tổng hợp số tiền cho vay/Tổng số tiền gửi về qua ngân hàng
NN&PTNT từ năm 2002 – 2007
Bảng 2.8: Tổng hợp thu nhập theo thị trường
Bảng 2.9: Tổng hợp số lượng người đi xuất khẩu lao động
chia theo giới tính và độ tuổi qua các năm
Bảng 2.10: Tổng hợp số lượng nam và nữ đi xuất khẩu lao động
chia theo thị trường từ năm 2002-2007
Bảng 2.11: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động chia theo trình độ
chuyên môn, trình độ văn hoá của người lao động qua các năm
Bảng 2.12: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động theo
tình trạng hôn nhân qua các năm
Bảng 2.13: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động chia theo khu vực
và tình trạng kinh tế qua các năm
Trang 6
-Lêi më ®Çu
Trong nền kinh tế thị trường và trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thìhoạt động xuất khẩu lao động diễn ra là một tất yếu khách quan Trước tìnhhình đó Đảng và nhà ta đã xác định xuất khẩu lao động là một lĩnh vực kinh tếđối ngoại quan trọng, một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm Trongnhững năm qua hoạt động xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả khảquan góp phần tạo việc làm, XĐGN, tăng thu nhập và nâng cao mức sống chomột bộ phận người lao động và gia đình họ trong đó có người lao động củahuyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuy nhiên đây là một lĩnh vực mới bắt đầuhoạt động được 5 năm cho nên trong quá trình triển khai còn bộc lộ nhiều bấtcập Vì vậy trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp tôi mạnh dạn chọn đề tài:
“Đánh giá tình hình xuất khẩu lao động của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 – 2007” đi sâu tìm hiểu hoạt động xuất khẩu lao động ở
địa phương để từ đó có những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tácnày Chuyên đề bao gồm 3 phần:
Phần I: Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động.
Phần II: Đánh giá tình hình xuất khẩu lao động của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 – 2007.
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động ở huyện Lập Thạch trong thời gian tới.
Trong quá trình hoàn thành chuyên đề tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ tận tình về chuyên môn của Thầy giáo PGS-TS Trần Xuân Cầu Trưởngkhoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
và tập thể cán bộ Phòng Nội vụ-LĐTBXH huyện Lập Thạch
Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực mới cả về lý luận lẫn thực tiễn Dovậy trong chuyên đề này không thể tránh khỏi các thiếu xót rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến quý báu từ các thầy, cô và các bạn
Trang 7Xin chân thành cảm ơn!
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG -
1 KHÁI NIỆM VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất nào về xuất khẩu laođộng, tuỳ theo hướng tiếp cận, nghiên cứu mà người ta đưa ra những kháiniệm khác nhau Theo thuật ngữ Lao động thương binh xã hội tập I – H1999của Bộ Lao động- TB&XH thì: “xuất khẩu lao động là việc đưa người laođộng đi làm việc thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật”,còn theo Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cóhiệu lực từ ngày 01/01/2007 thì “xuất khẩu lao động là hoạt động đưa ngườilao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo HĐLĐ” Nhưvậy cả hai khái niệm trên đều chỉ ra rằng xuất khẩu lao động chính là việc đưangười lao động Việt Nam có đủ tiêu chuẩn theo quy định đi làm việc ở nướcngoài
Ở đây chúng ta hiểu “lao động” là sức lao động gắn với người lao động cụthể Trong điều kiện kinh tế thị trường sức lao động trở thành hàng hoá, do đóngười lao động có quyền trao đổi hoặc bán sức lao động của mình trên thịtrường để đem lại thu nhập, xuất khẩu lao động chính là việc người lao độngViệt Nam bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài
có thời hạn theo hợp đồng để mang lại thu nhập cho bản thân, gia đình và xãhội Người lao động phải là công dân Việt Nam, đủ độ tuổi nhất định, được
Trang 8pháp luật Việt Nam cho phép và phù hợp với điều ước quốc tế cũng như luậtpháp của nước tiếp nhận lao động.
2 PHÂN LOẠI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Hiện tại chưa có một tài liệu chính thức nào đề cập đến việc phân loại xuấtkhẩu lao động Vì vậy căn cứ vào các tài liệu tham khảo và theo ý chủ quancủa người viết chuyên đề mà đưa ra các tiêu thức phân loại khác nhau để tiệncho việc nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá vấn đề Sau đây là một số tiêu thứcphân loại chủ yếu:
2.1 Phân loại xuất khẩu lao động theo nơi đến bao gồm: xuất khẩu lao động tại chỗ và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.
Xuất khẩu lao động tại chỗ: là việc người lao động Việt Nam làm việc
trong các doanh nghiệp được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam, trong các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam, hoặclàm cho các cá nhân là người nước ngoài tại Việt Nam do pháp luật ViệtNam quy định Trước đây người lao động Việt Nam làm việc trong các doanhnghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì người ta cho rằng đó
là việc xuất khẩu lao động tại chỗ, tức là làm việc cho nước ngoài tại ViệtNam nhưng hiện nay hình thức này không được coi là xuất khẩu lao động màgọi chung là “lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam”.Mặt khác hình thức này không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Xuất khẩu lao động ra nước ngoài: gọi chung là người lao động Việt
Nam làm việc ở nước ngoài, nghĩa là người lao động Việt Nam đi ra nướcngoài để làm việc (làm việc ngoài lãnh thổ Việt Nam) theo một quy trìnhthống nhất và phải theo một quy định cụ thể, hiện tại tất cả công dân ViệtNam đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng lao động, tự nguyện và có đủ tiêu chuẩn,
Trang 9điều kiện theo pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của bênnước ngoài thì được đi xuất khẩu lao động.
Sự khác nhau cơ bản giữa xuất khẩu lao động tại chỗ và xuất khẩu lao động ra nước ngoài bao gồm:
Vị trí địa lý: xuất khẩu lao động tại chỗ chỉ tính trong phạm vi lãnh thổ
của Việt Nam, tức là người lao động làm việc tại Việt Nam còn xuất khẩu laođộng ra nước ngoài (lao động ngoài nước) bao gồm cả phạm vi lãnh thổ củanước tiếp nhận lao động, tức là người lao động Việt Nam làm việc ở nướcngoài
Sự điều chỉnh của luật pháp: xuất khẩu lao động tại chỗ chỉ chịu sự điều
chỉnh của pháp luật Việt Nam còn xuất khẩu lao động ra nước ngoài phải chịu
sự điều chỉnh của cả pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận laođộng cũng như các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia ký kết
2.2 Phân loại theo hình thức xuất khẩu lao động bao gồm: xuất khẩu lao động hợp pháp và xuất khẩu lao động bất hợp pháp
Xuất khẩu lao động hợp pháp: là việc đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng do pháp luật Việt Nam quyđịnh và được pháp luật bảo vệ Hiện tại các hình thức này bao gồm: cung ứnglao động theo các hợp đồng lao động ký với bên nước ngoài; đưa người laođộng đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề; đưalao động đi làm việc theo các dự án đầu tư tại nước ngoài; đưa lao động theohợp đồng nhận thầu khoán công trình ở nước ngoài và các hình thức kháctheo quy định của pháp luật Xuất khẩu lao động hợp pháp được nhà nước bảo
hộ và khuyến khích người lao động tham gia, người lao động được hưởng cácchính sách hỗ trợ theo quy định, quyền và lợi ích hợp pháp được bảo đảm
Trang 10 Xuất khẩu lao động bất hợp pháp: là các hình thức xuất khẩu lao động
chưa được pháp luật Việt Nam công nhận theo danh mục Nghề và công việccấm đi xuất khẩu lao động ban hành kèm theo Nghị định số 126/2007/NĐ-CPngày 01/08/2007 của Chính phủ bao gồm: “xuất khẩu lao động của các đơn vịchưa được cấp phép tham gia hoạt động xuất khẩu lao động; xuất khẩu laođộng bằng con đường du lịch, môi giới… ; xuất khẩu lao động làm các ngànhnghề mà pháp luật Việt Nam cấm như vũ công, ca sỹ làm việc tại các nhàhàng, khách sạn, các công việc tiếp xúc với nguồn phóng xạ hở, săn bắt thú
dữ, bốc mồ mả, khâm liệm tử thi, thiêu xác chết… và làm các công việc mànước tiếp nhận lao động và Việt Nam cấm; xuất khẩu lao động đến các nước,khu vực bị cấm đi làm việc ở nước ngoài như khu vực có chiến sự hoặc cónguy cơ xảy ra chiến sự, khu vực bị nhiễm xạ, nhiễm độc, khu vực có dịchbệnh đặc biệt nguy hiểm hoặc khu vực mà nước tiếp nhận lao động cấmngười nước ngoài đến làm việc trong đó có người lao động Việt Nam…”
2.3 Phân loại xuất khẩu lao động theo thị trường tiếp nhận lao động.
Theo định hướng của Bộ Lao động – TB&XH tại Công văn số2408/LĐTBXH – QLLĐNN ngày 25/07/2000 của Cục quản lý lao động ngoàinước Bộ Lao động-TB&XH về việc tuyển lao động đi làm việc có thời hạn ởnước ngoài thì thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam bao gồm có 06khu vực sau:
Khu vực Đông nam á: Malaysia, Singapore, Lào …
Khu vực Đông bắc á: Hàn quốc, Nhật bản, Đài loan …
Khu vực Châu phi: Libia, Angieri …
Khu vực Vùng vịnh: Cô oét, Arap xeut …
Khu vực Bắc mỹ: đảo Xamoa …
Khu vực Liên xô cũ và trung đông…
Trang 11Hiện tại người lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động chủ yếu tập trung
ở khu vực Đông nam á và khu vực Đông bắc á, đây là hai thị trường trọngđiểm phù hợp với lao động là người Việt Nam Tuy nhiên trong thời gian tớiviệc mở rộng thị trường ra các nước thuộc các khu vực trên là rất cần thiết đểtạo cơ hội cho người lao động Việt Nam có được thu nhập cao hơn
2.4 Phân loại xuất khẩu lao động theo loại lao động bao gồm: xuất khẩu lao động là chuyên gia và xuất khẩu lao động nói chung.
Xuất khẩu lao động là chuyên gia: là việc đưa người lao động Việt
Nam có trình độ cao (chuyên gia) đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theoHĐLĐ, tỷ lệ xuất khẩu lao động là chuyên gia rất nhỏ trong tổng số người đixuất khẩu lao động Hiện tại Việt Nam chưa thể phát triển hình thức này bởi
vì trình độ của người lao động Việt Nam là chuyên gia chưa đáp ứng mộtcách đại trà yêu cầu của thị trường khu vực và thế giới Mặt khác không thuộcphạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Xuất khẩu lao động nói chung: ở đây muốn nói đến người lao động ở
khía cạnh về trình độ chuyên môn và trình độ văn hoá
Phân loại xuất khẩu lao động theo trình độ chuyên môn: người đi xuấtkhẩu lao động đã qua đào tạo CĐ-ĐH, TH chuyên nghiệp, dạy nghề (loại laođộng đã qua đào tạo) và loại lao động chưa qua đào tạo tức là chưa quatrường lớp đào tạo nào (lao động phổ thông)
Phân loại xuất khẩu lao động theo trình độ văn hoá: tức là phân loại ngườilao động theo cấp học như đã tốt nghiệp THPT, THCS, tiểu học hay chưahoặc có biết đọc, biết viết hay không
Trang 12Hiện nay số người tham gia xuất khẩu lao động chưa qua đào tạo đangchiếm số đông chủ yếu là lao động phổ thông, trong tương lai sẽ tăng dần tỷtrọng lao động qua đào tạo nghề đi xuất khẩu lao động.
2.5 Phân loại xuất khẩu lao động theo ngành nghề.
Là việc phân loại xuất khẩu lao động theo ngành nghề hoặc công việc màngười tham gia xuất khẩu lao động sẽ làm Căn cứ vào thông tin tuyển chọncủa các doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động xuất khẩu lao động vàWebsite của Bộ Lao động-TB&XH tại địa chỉ WWW.Molisa.gov.vn/xuấtkhẩu lao động thì các ngành nghề chủ yếu bao gồm: Cơ khí, điện tử, maymặc, xây dựng dân dụng, điều dưỡng, giúp việc gia đình, đóng gói sản phẩm,sản xuất đồ nhựa, đánh bắt hải sản, trang trí nội thất… các thị trường khácnhau thì có những ngành nghề khác nhau và yêu cầu đối với người lao độngcũng khác nhau, do đó thu nhập cũng rất khác nhau
2.6 Phân loại xuất khẩu lao động theo thu nhập.
Là việc phân loại xuất khẩu lao động căn cứ vào thu nhập của người laođộng đang làm việc tại nước ngoài bao gồm: thị trường có thu nhập cao, trungbình hoặc thị trường có thu nhập thấp Mục đích chính của việc xuất khẩu laođộng là giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động do đó việchướng đến thị trường có thu nhập trung bình (hiện tại) và thị trường có thunhập cao (trong thời gian tới) là hết sức cần thiết
Ngoài ra để tiện cho việc nghiên cứu theo ý đồ cá nhân người ta còn phânloại xuất khẩu lao động theo giới tính (bao gồm nam hoặc nữ); theo độ tuổi(độ tuổi nào tham gia xuất khẩu lao động là phù hợp nhất); theo tình trạng hônnhân (đã kết hôn hay chưa kết hôn); theo tình trạng kinh tế (giàu hay nghèo);
Trang 13theo khu vực cư trú của người lao động (thành thị hay nông thôn, đồng bằnghay miền núi)…
3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bên cung ứng lao động.
3.1.1 Các yếu tố thuộc về cơ chế chính sách.
Cơ chế, chính sách được hiểu là toàn bộ những quy định của nhà nước đốivới một lĩnh vực cụ thể nhằm điều chỉnh mọi hoạt động của lĩnh vực đó theopháp luật và nó mang tính chất định hướng có tính bắt buộc, cướng chế
Xuất khẩu lao động được xem là một lĩnh vực hoạt động do đó nó phảichịu sự điều chỉnh của pháp luật thông qua các cơ chế, chính sách cụ thể haynói cách khác hoạt động xuất khẩu lao động chịu ảnh hưởng của yếu tố thuộc
về cơ chế, chính sách Các cơ chế, chính sách của nhà nước nó sẽ tác độngtrực tiếp đến hoạt động xuất khẩu lao động và nó mang tính quy định đượchay không được thực hiện Mặt khác nó còn giúp cho hoạt động xuất khẩu laođộng theo đúng pháp luật và các điều ước quốc tế, ngoài ra nó còn bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người đi xuất khẩu lao động
Sự tác động của cơ chế, chính sách đến hoạt động xuất khẩu lao độngđược xem xét ở hai khía cạnh sau:
Có tác động tích cực: nhờ sự quy định cụ thể, rõ ràng đã giúp cho hoạt
động xuất khẩu lao động được thực hiện thống nhất, có tư cách pháp nhân vàđược pháp luật bảo vệ, người lao động có điều kiện đi xuất khẩu lao động nhờ
Trang 14các chính sách hỗ trợ kịp thời, nói chung là tạo điều kiện thuận lợi nhất đểhoạt động xuất khẩu lao động được diễn ra bình thường, có hiệu quả nhất.
Hạn chế: nếu cơ chế, chính sách quy định chung chung thiếu sự thống
nhất, không đầy đủ, không rõ ràng có sự chồng chéo và bộc lộ sự quan liêu,không phù hợp với tình hình thực tế hiện tại, không cập nhật thì nó có tácđộng làm kìm hãm, hạn chế đến kết quả hoạt động xuất khẩu lao động, từ đó
nó tạo kẽ hở cho hoạt động xuất khẩu lao động bất hợp pháp phát triển làmảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người lao động, cũngnhư ý nghĩa chính trị quốc gia Để khắc phục hạn chế trên hiện tại từ ngày 01tháng 01 năm 2007 người đi xuất khẩu lao động sẽ chịu sự điều chỉnh của
“Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, đây
là cơ sở pháp lý duy nhất điều chỉnh mọi hoạt động xuất khẩu lao động hiệntại ở Việt Nam
3.1.2 Các yếu tố thuộc về tổ chức xuất khẩu lao động.
Theo Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chính phủ quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì tham gia vào hoạt động xuấtkhẩu lao động bao gồm các tổ chức:
Các cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động gồm các Bộ, ngành,UBND các cấp và BCĐ xuất khẩu lao động các cấp
Các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động
Các tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ởnước ngoài
Trang 15Hoạt động xuất khẩu lao động phải chịu sự quản lý trực tiếp của các cơquan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động theo sự phân cấp và do cácdoanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động thực hiện, các tổ chức
sự nghiệp của nhà nước tiến hành Do đó hoạt động xuất khẩu lao động phảichịu ảnh hưởng trực tiếp của các tổ chức này Các yếu tố thuộc về tổ chứcxuất khẩu lao động cũng được xem xét ở cả hai khía cạnh sau:
Có tác động tích cực: sự chỉ đạo xát xao từ TW đến địa phương, đặc biệt
là việc thành lập BCĐ xuất khẩu lao động các cấp với đầy đủ các thành phần
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động Mặt khác sựnhanh nhạy, dễ thích ứng của các doanh nghiệp được phép tham gia xuất khẩulao động trong việc tìm kiếm khai thác thị trường đã tạo cho hoạt động xuấtkhẩu lao động diễn ra thuận lợi và mang lại hiệu quả cao
Hạn chế: đó là sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người laođộng và các hoạt động khác trong quá trình xuất khẩu lao động, đặc biệt làthời gian người lao động ở nước ngoài và sau khi hết hạn hợp đồng về nướcchưa được coi trọng tạo tâm lý không tốt cho người lao động điều này làmgiảm lòng tin của người lao động đẫn đến số người tham gia xuất khẩu laođộng giảm; các doanh nghiệp xuất khẩu lao động do chạy theo lợi nhuận đưangười lao động đi theo kiểu “mang con bỏ chợ” hoặc cố tình gây khó dễ trongviệc xuất khẩu lao động để đòi thêm lệ phí của người lao động gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến hoạt động xuất khẩu lao động hoặc các doanh nghiệp tuy cógiấy phép hoạt động xuất khẩu lao động nhưng do năng lực tài chính, quản lýyếu, đội ngũ cán bộ không có năng lực, không am hiểu quy định của luật phápquốc tế dẫn đến làm ăn không có hiệu quả hoặc bị phá sản, ngoài ra còn có rấtnhiều doanh nghiệp lừa đảo người đi xuất khẩu lao động để trục lợi gây mất
Trang 16lòng tin cho người lao động dẫn đến hoạt động xuất khẩu lao động kém hiệuquả gây thiệt hại về kinh tế và tổn hại về mặt xã hội Hiện tại việc cử cán bộquản lý tại các nước, khu vực mà doanh nghiệp xuất khẩu lao động đưa ngườilao động sang làm việc trong việc giám sát theo dõi thực hiện HĐLĐ, giảiquyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của người laođộng hoặc khi người lao động yêu cầu trợ giúp còn rất yếu hoặc các tổ chứcnày không thông tin, hoặc thông tin không đầy đủ các chính sách, các quyđịnh đối với người lao động gây thiệt thòi cho người lao động, điều này ảnhhưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động.
3.1.3 Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động.
Bản thân người lao động đóng vai trò quyết định đến kết quả của hoạtđộng xuất khẩu lao động, ngoài việc có đủ các điều kiện theo quy định củapháp luật Việt Nam thì người lao động còn phải có các yếu tố khác thuộc bảnthân người lao động mà các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngxuất khẩu lao động Bao gồm:
Yếu tố thuộc về thể lực: thể lực chính là trạng thái sức khoẻ của người lao
động biểu hiện thông qua chiều cao, cân nặng và các giác quan nội tại… làmviệc trong môi trường công nghiệp tư bản đòi hỏi người lao động Việt Namphải có một sức khoẻ tốt, khả năng thích ứng cao nếu không sẽ không đápứng được yêu cầu công việc dẫn đến hàng loạt vấn đề phát sinh gây bất lợicho lao động Việt Nam, đặc biệt trong việc thích nghi với môi trường sống
Các yếu tố thuộc về trí lực:
Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn: đây là trạng thái hiểu biết củangười lao động đối với những kiến thức phổ thông và khả năng thực hành vềmột chuyên môn nghề nghiệp biểu hiện qua các cấp học, qua đào tạo hoặc
Trang 17không qua đào tạo Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của người laođộng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động, nếu người laođộng không có trình độ chuyên môn sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nhàtuyển dụng từ đó dẫn đến hệ quả là người lao động thì thừa nhiều nhưngkhông đủ tiêu chuẩn để tham gia xuất khẩu lao động.
Trình độ ngoại ngữ: do xuất khẩu lao động là ngành đặc thù nên việc yêucầu về mặt ngoại ngữ đối với người lao động là cần thiết tuy chỉ ở mức giaotiếp thông thường Nếu người lao động Việt Nam tham gia xuất khẩu laođộng bị hạn chế về mặt ngoại ngữ sẽ dẫn đến quan hệ chủ - thợ có nhiều bấtđồng, không nắm hết các quy định dễ phát sinh các tranh chấp không đáng cógây bất lợi cho người lao động Việt Nam
Sự am hiểu luật pháp: đặc biệt là pháp luật về lao động của Việt Nam vànước sở tại, bất kỳ ở đâu có quan hệ lao động thì không thể tránh khỏi cáctranh chấp xảy ra và đều bị giàng buộc về mặt pháp lý Nếu bản thân ngườilao động không am hiểu pháp luật trong quá trình hoạt động lao động nhất là
ở nước sở tại thì phần thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về người lao động ViệtNam
Ngoài các yếu tố thuộc về thể lực và trí lực người ta còn quan tâm đếncác yếu tố nội tâm (tâm lực) như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, sựthông minh cần cù sáng tạo, khả năng thích ứng, truyền thống gia đình, phongtục tập quán, sự trung thành, tình trạng hôn nhân… đây không phải là nhữngyếu tố mang tính quyết định nhưng nó sẽ có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cựcthì còn phụ thuộc vào bản thân của mỗi người lao động Nếu các yếu tố trênmang tính bất lợi sẽ dẫn đến việc phá vỡ HĐLĐ, vi phạm pháp luật của nước
sở tại, cư trú bất hợp pháp… sẽ làm mất uy tín đối với lao động Việt Nam,gây ảnh hưởng đến việc giữ vững và phát triển thị trường lao động Điều này
Trang 18không chỉ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động, cho ngườilao động mà còn ảnh hưởng đến uy tín quốc gia, làm cho người lao động vàgia đình không tin tưởng không dám tham gia xuất khẩu lao động.
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng của bên tiếp nhận lao động.
3.2.1 Các yếu tố thuộc về kinh tế, chính trị và xã hội.
Về kinh tế: các khu vực, các nước càng có nền kinh tế phát triển thì nhu
cầu về lao động càng thiếu kể cả lao động có trình độ cao và lao động phổthông do đó họ phải nhập khẩu lao động và ngược lại các nước có nền kinh tếkém phát triển thì họ lại rất thừa lao động chủ yếu là lao động phổ thông vìvậy cần phải xuất khẩu lao động Mặt khác xuất khẩu lao động sang những thịtrường này cũng đem lại thu nhập rất cao cho nên sẽ thúc đẩy hoạt động xuấtkhẩu lao động Bởi vì sức lao động được coi là hàng hoá cho nên nó cũngtuân theo quy luật vận động từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao hơn,
do đó các nước có nền kinh tế phát triển sẽ thu hút được nhiều lao động cótrình độ cao hơn
Về chính trị: người lao động Việt Nam chỉ có thể làm việc tại những nước
mà nhà nước Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao và có ký kết về việc nhập khẩulao động ở cấp Chính phủ thì người lao động mới có thể tham gia xuất khẩulao động Đây là yếu tố quyết định có được xuất khẩu lao động hay khôngđược xuất khẩu lao động sang thị trường đó, mặt khác thể chế chính trị cótương đồng với Việt Nam thì khi xảy ra tranh chấp mới có được sự ủng hộ vàgiải quyết thoả đáng, đặc biệt là những nước có xung đột sắc tộc, có chiếntranh hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh mất ổn định chính trị thì pháp luật
Trang 19Việt Nam nghiêm cấm xuất khẩu lao động sang nước đó Vì vậy tình hìnhchính trị của nước tiếp nhận lao động cũng có ảnh hưởng đến hoạt động xuấtkhẩu lao động của Việt Nam.
Về xã hội: xã hội ổn định, người dân hiếu khách, tôn trọng người lao
động, phong tục tập quán không quá khắt khe, thức ăn không quá khác biệt thìngười lao động Việt Nam mới có thể sinh sống và làm việc tại đó được, nếukhông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công việc
3.2.2 Các yếu tố thuộc về vị trí địa lý.
Tức là muốn nói đến khoảng cách giữa Việt Nam và nước tiếp nhận laođộng là gần hay xa, do đó để đạt được hiệu quả xuất khẩu lao động thì ngườilao động Việt Nam phải tính đến yếu tố về vị trí địa lý bởi 3 lý do sau:
Thứ nhất chi phí về giao thông, thông tin liên lạc, dịch vụ chuyển ngoạitệ…nếu xuất khẩu lao động đến một nước quá xa so với Việt Nam thì các chiphí này sẽ rất cao ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động dẫn đến ít laođộng tham gia, do đó cần phải tìm thị trường phù hợp
Thứ hai về khí hậu, thời tiết: người lao động Việt Nam đang ở trong vùngnhiệt đới, nếu đến một nước có nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởngđến sức khoẻ dẫn đến hiệu quả lao động kém
Và cuối cùng là sự chênh lệch về múi giờ sẽ ảnh hưởng đến nhịp sinh họccủa cơ thể Tuy nhiên những ảnh hưởng này sẽ dần được khắc phục sau mộtkhoảng thời gian nhất định
3.2.3 Các yếu tố liên quan đến công việc.
Trang 20Yêu cầu công việc: nếu công việc phù hợp với người lao động Việt Nam
và người lao động Việt Nam có khả năng đáp ứng thì số lượng tham gia xuấtkhẩu lao động sẽ nhiều và ngược lại nếu người lao động Việt Nam không đápứng được thì sẽ có ít người tham gia xuất khẩu lao động
Điều kiện làm việc: làm việc trong điều kiện tốt thì sẽ thu hút được nhiều
lao động và phải không thuộc danh mục mà pháp luật Việt Nam cấm xuấtkhẩu lao động
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi: quy định có phù hợp với sức khoẻ
của người lao động Việt Nam hay không, tức là thể trạng của người lao độngViệt Nam có đáp ứng được hay không
Tiền lương, thu nhập và các chế độ phúc lợi khác: nếu thu nhập cao và
phù hợp với người lao động Việt Nam thì sẽ thu hút được nhiều người thamgia xuất khẩu lao động và ngược lại, tiền lương thấp, các chế độ phúc lợikhông đầy đủ sẽ không thu hút được người lao động tham gia làm việc
3.2.4 Các yếu tố thuộc về người sử dụng lao động.
Người sử dụng lao động bao gồm các tổ chức, các doanh nghiệp hoặc cánhân cần thuê lao động Việt Nam Người sử dụng lao động có đủ tư cáchpháp nhân hay không, có khả năng chi trả tiền lương cho người lao động haykhông và việc thực hiện HĐLĐ đối với người lao động Việt Nam có thực hiệnđúng, đầy đủ và kịp thời hay không
3.2.5 Các yếu tố khác.
Ngoài các yếu tố trên thì các yếu tố sau đây cũng ảnh hưởng đến hoạtđộng xuất khẩu lao động của Việt Nam như: trình độ phát triển công nghệthông tin; hệ thống ngân hàng; hệ thống y tế trong việc chăm sóc sức khoẻ và
Trang 21khống chế các dịch bệnh như cúm H5N1, HIV-AIDS, SARS; hệ thống trợgiúp pháp lý; điều kiện ăn ở sinh hoạt, giá cả tiêu dùng, vui chơi giải trí…
4 QUY TRÌNH TỔ CHỨC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Quy trình xuất khẩu lao động thực chất là việc thực hiện các bước củahoạt động xuất khẩu lao động theo một thứ tự nhất định Theo thông tin từCục quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - TB&XH tại địa chỉ
WWW Molisa gov.vn / xuất khẩu lao động thì tham gia vào quy trình nàygồm có:
Cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động: điều 184 Bộ luật lao
động quy định “Bộ Lao động – TB&XH thống nhất quản lý nhà nước về xuấtkhẩu lao động, UBND tỉnh/thành phố thực hiện quản lý nhà nước về xuấtkhẩu lao động trong phạm vi địa phương”
Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam: đây là những doanh
nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động (theo quyđịnh tại khoản 4 điều 8 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng) là “những doanh nghiệp được thành lập và hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân ViệtNam”
Bên nước ngoài: là đối tác trực tiếp ký HĐLĐ với người lao động Việt
Nam và ký hợp đồng tiếp nhận lao động do doanh nghiệp xuất khẩu lao độngViệt Nam cung ứng Bên nước ngoài có thể là cá nhân, tổ chức cần lao động
Người lao động: phải là công dân Việt Nam, có đủ 18 tuổi trở lên có khả
năng lao động, tự nguyện tham gia xuất khẩu lao động theo quy định của pháp
Trang 22luật Tất cả đều tham gia hoạt động xuất khẩu lao động theo một quy trìnhsau:
Ký kết hợp đồng cung ứng, tiếp nhận lao động giữa doanh nghiệp đượcphép xuất khẩu lao động Việt Nam và chủ sử dụng lao động người nước ngoàisau khi đã đăng ký hợp đồng cung ứng lao động tại Cục quản lý lao độngngoài nước - Bộ Lao động-TB&XH Đây là bước đầu tiên của quy trình xuấtkhẩu lao động sau khi đã đạt được các thoả thuận về xuất khẩu lao động giữahai nhà nước
Sơ đồ1.1: Quy trình xuất khẩu lao động
(Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước Bộ Lao động-TB&XH)
CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XKLĐ
BÊN NƯỚC NGOÀI
Trang 23Tuyển chọn lao động: đây là bước các doanh nghiệp được phép xuất khẩu
lao động của Việt Nam tiến hành thông báo và tuyển chọn la động thông quaBCĐ xuất khẩu lao động các cấp, sau đó các đơn vị này sẽ tổ chức sơ tuyển
Đào tạo, giáo dục định hướng cho người lao động: sau khi người lao động
qua vòng sơ tuyển sẽ được các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Namtiến hành đào tạo, giáo dục định hướng chủ yếu là đào tạo ngoại ngữ, giáo dụcđịnh hướng nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật lao động…
Chủ sử dụng lao động người nước ngoài tiến hành kiểm tra tay nghề (tuỳthuộc vào từng ngành nghề cụ thể có thể có hoặc không có)
Khám sức khoẻ cho người lao động: trước khi xuất cảnh người lao độngphải được khám sức khoẻ tại Bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế
Nộp đơn đăng ký hợp đồng cá nhân cho Sở Lao động-TB&XH nơi cư trú
và nhận giấy xác nhận hợp đồng cá nhân để làm căn cứ cho các thủ tục saunày
Nộp lệ phí xuất khẩu lao động, làm thủ tục vay vốn ngân hàng (nếu cần).Làm thủ tục xin cấp hộ chiếu, vi sa
Xuất cảnh
Ký kết HĐLĐ giữa người lao động Việt Nam và chủ sử dụng lao độngngười nước ngoài, tiến hành thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấpxảy ra nếu có
Hoàn tất xuất khẩu lao động sau khi người lao động đã thực hiện xong hợpđồng và về nước
Trang 245 HIỆU QUẢ CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
5.1 Hiệu quả kinh tế:
Xuất khẩu lao động đã được Đảng và nhà nước ta xác định là một lĩnh vựckinh tế đối ngoại quan trọng và được Quốc hội đưa vào chỉ tiêu kế hoặchhàng năm
Theo thống kê của Cục quản lý lao động ngoài nước hiện tại đã có 282600lượt người đi xuất khẩu lao động nâng tổng số lao động Việt Nam đang làmviệc tại nước ngoài lên 400.000 người hàng năm gửi về nước hàng tỷ USD.Như vậy người đi xuất khẩu lao động có thu nhập cao hơn gấp nhiều lần sovới việc làm trong nước trong khi đó vốn đầu tư ít nhưng mang lại lợi íchkinh tế cao, đời sống bản thân và gia đình được cải thiện đáng kể
Mặt khác trong quá trình làm việc tại nước ngoài người lao động được họchỏi thêm về ngoại ngữ, tiếp cận với các phương pháp làm việc tiên tiến, tiếpthu công nghệ mới, có điều kiện nâng cao tay nghề… mà không phải trả tiềnchi phí đào tạo chính điều này sẽ tạo cơ hội cho người lao động sau khi vềnước sẽ tiến thân lập nghiệp
5.2 Hiệu quả về mặt xã hội.
Xuất khẩu lao động được coi là một bộ phận của chính sách giải quyếtviệc làm, XĐGN, hơn nữa trong khi làm việc tại nước ngoài người lao động
Trang 25sẽ có tác phong làm việc công nghiệp, kỷ luật lao động được nân lên (đây làphần rất yếu của lao động Việt Nam), đặc biệt được giao lưu với các nền vănhoá đa dạng trên thế giới góp phần thay đổi nhận thức của một bộ phận trong
xã hội về các vấn đề mang tính hủ tục, lạc hậu bởi vì “đi một ngày đàng họcmột sàng khôn” ngoài ra góp phần quan trọng làm giảm bớt các tệ nạn xã hội
do tình trạng thất nghiệp gây ra như mại dâm, ma tuý, tội phạm hình sự, nạnlừa đảo buôn bán phụ nữ, trẻ em…
Hiệu quả mà xuất khẩu lao động đem lại là không thể phủ nhận cả hiệuquả về kinh tế lẫn hiệu quả về mặt xã hội, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tồntại các hiện tượng gây thiệt hại về kinh tế cho người lao động như các hiệntượng lừa đảo xuất khẩu lao động, ý thức của người lao động sử dụng đồngvốn sau xuất khẩu lao động chưa đúng hoặc tổn hại về mặt xã hội như ảnhhưởng đến việc chăm sóc con cái, đời sống hạnh phúc gia đình bị xáo trộn,nhất là phụ nữ tham gia xuất khẩu lao động thường không được nhìn nhậnmột cách tích cực
6 SỰ CẦN THẾT PHẢI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
Hoạt động xuất khẩu lao động đã có từ lâu nhưng nó chưa mang tính phổbiến và được cụ thể hoá bằng pháp luật, hiện nay trước xu thế hội nhập toàncầu hoá thì hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ ở riêng Việt Nam mà cácnước trên thế giới đều tham gia, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tếđối ngoại quan trọng, đặc biệt từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thịtrường sức lao động trở thành hàng hoá có thể trao đổi, mua bán trên thịtrường thì hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra là một tất yếu khách quan.Nước ta là một nước đang phát triển, dân số đông, số người trong độ tuổilao động chiếm trên 50% dân số, tỷ lệ thất nghiệp bình quân trên 8% trong khi
Trang 26hàng năm cần phải giải quyết việc làm cho từ 1,5 đến 2,0 triệu lao động tăngthêm, bên cạnh đó thiên tai dịch bệnh hoành hành làm cho đời sống của nhândân còn gặp nhiều khó khăn Do vậy giải quyết việc làm tăng thu nhập chongười lao động, tăng mức sống dân cư trở nên cấp bách và là gánh nặng củaChính phủ, từ đó có thể thấy rằng tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ởnước ta hiện nay là rất nghiêm trọng, trong bối cảnh đó xuất khẩu lao độngđược coi là một trong những giải pháp hiệu quả nhằm đẩy mạnh giải quyếtviệc làm, xoá đói giảm nghèo tăng thu nhập và cải thiện chất lượng nguồnnhân lực cho sự phát triển của đất nước.
Nhận thức được vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh
tế đất nước, Đảng và nhà nước ta đã hết sức quan tâm và cho rằng cùng vớigiải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động là một chiếnlược quan trọng, lâu dài góp phần cải thiện đội ngũ lao động cho công cuộcxây dựng đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH, là một bộ phận quan trọng tronghợp tác quốc tế Bởi vì hiện nay lao động dư thừa khá lớn mà tốc độ tăngtrưởng kinh tế của nước ta trong nhiều năm tới không thể sử dụng hết
Người đi xuất khẩu lao động không phải là nhân lực thừa bỏ đi mà đi laođộng để làm ra tiền của cho bản thân, gia đình và xã hội Người đi xuất khẩulao động trở về phần lớn họ có nghề, được đào tạo ở những môi trường thửthách hoặc ở những đất nước có nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam tạo cơhội giao lưu học hỏi cho người lao động Việt Nam Vì vậy trước xu thế hộinhập kinh tế quốc tế và lợi ích mà hoạt động xuất khẩu lao động mang lại chongười lao động Việt Nam thì xuất khẩu lao động là hết sức cần thiết đối vớimột nước đang phát triển như Việt Nam
Trang 27PHẦN IIĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở
HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2002-2007
-I CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC
CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.
1 Đặc điểm về tự nhiên.
Lập Thạch là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Vĩnh Phúcbao gồm 36 đơn vị hành chính ( 35 xã, 01 thị trấn trong đó có tới 25 xã miềnnúi) với diện tích tự nhiên là 32307,7 ha trong đó chủ yếu là đất nông-lâmnghiệp chiếm 80% diện tích, địa hình chủ yếu là đồi núi xen kẽ với ruộng bậcthang tạo thành các thung lũng nhỏ, khí hậu năm trong vùng nhiệt đới giómùa mưa nhiều về mùa hè khô hanh về mùa đông
Là một huyện miền núi, dân số đông tiềm năng đất đai và lao động rất dồidào, tuy nhiên do bất lợi về vị trí địa lý lại nằm giữa 2 dòng sông Lô và sôngPhó đáy Lập Thạch luôn phải chịu ảnh hưởng của thiên tai hàng năm như lũlụt, hạn hán… gây nhiều khó khăn cho việc giao lưu và phát triển kinh tế, đặcbiệt là thông tin liên lạc và giao thông do đó có ảnh hưởng đến hoạt động xuấtkhẩu lao động của huyện
Trang 28Chính sự bất lợi về vị trí địa lý nên đã không thu hút được nhiều cácdoanh nghiệp xuất khẩu lao động hoạt động, mặt khác do ảnh hưởng của địahình nên việc tuyên truyền cho công tác xuất khẩu lao động đến người dângặp rất nhiều khó khăn Cho nên tiềm năng về xuất khẩu lao động của huyệnthì dồi dào nhưng không khai thác được là do Lập Thạch ở một vị trí khôngthuận lợi, giao thông cách trở, cơ sở hạ tầng kém phát triển…
2 Đặc điểm về kinh tế.
Với đặc thù là huyện miền núi, dân số đông, kinh tế chậm phát triển, cơcấu kinh tế lạc hậu chủ yếu là sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm trên 84%,công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp không có gì đáng kể, hoạt động dịch vụ nhỏ
lẻ Dân số chủ yếu sống ở nông thôn chiếm trên 95%, tốc độ tăng trưởng kinh
tế hàng năm cao 13,92% nhưng giá trị mang lại không lớn, thu nhập bìnhquân đầu người thấp năm 2007 mới đạt 4,71 triệu đồng, đời sống dân cư còngặp rất nhiều khó khăn Lao động thiếu và không có việc làm tính bình quânmỗi năm dư thừa 12000 lao động (chiếm tỷ lệ 9,6%) trong khi đó số lao độnggia tăng hàng năm từ 3000 – 5000 lao động chủ yếu là học sinh PTTH vì vậygiải quyết việc làm là hết sức khó khăn hiện nay và phải đặt vào mục tiêuchiến lược lâu dài bằng nhiều chương trình trong đó có xuất khẩu lao động.Với đặc điểm kinh tế của huyện như vậy nó sẽ có ảnh hưởng đến hoạtđộng xuất khẩu lao động ở cả 2 khía cạnh:
Thuận lợi: do kinh tế chậm phát triển cho nên việc thu hút, sử dụng lao
động của huyện không đáng kể, số lượng lao động dư thừa khá lớn đây lànguồn cung dồi dào cho xuất khẩu lao động Mặt khác thu nhập của ngườidân không cao, mức sống thấp, do đó họ có xu hướng thay đổi cuộc sống,muốn có thu nhập cao hơn cho nên họ sẵn sàng tham gia xuất khẩu lao động
Trang 29Khó khăn: do sản xuất nông nghiệp là chủ yếu cho nên trình độ văn hoá,
trình độ chuyên môn của người lao động còn thấp đặc biệt là ngoại ngữ và sự
am hiểu pháp luật cũng như tác phong làm việc còn rất hạn chế, điều này gâykhó khăn, trở ngại cho hoạt động xuất khẩu lao động, bởi vì nguồn cung thìnhiều mà chất lượng lại không đáp ứng được yêu cầu Đây là một bài toánkhó cho chính quyền và nhân dân toàn huyện, bởi vì trong tương lai muốntham gia xuất khẩu lao động thì bắt buộc người lao động phải có một trình độtay nghề nhất định thì mới đáp ứng được yêu cầu
đó mà phong tục, tập quán và đời sống văn hoá rất đa dạng, phong phú
Người dân Lập Thạch luôn sống vì cộng đồng, đoàn kết, yêu lao động…chính những đặc điểm này góp phần giúp cho lao động của huyện Lập Thạch
đi xuất khẩu lao động nhanh chóng hoà nhập với môi trường làm việc, dễthích nghi… Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều tư tưởng, hủ tục lạc hậu cùng songsong tồn tại gây khó khăn cho sự phát triển xã hội nói chung và hoạt độngxuất khẩu lao động nói riêng thậm chí là cản trở, đặc biệt là vấn đề lao động
nữ đi xuất khẩu lao động làm giúp việc gia đình, điều dưỡng, chăm sóc sứckhoẻ tại Đài Loan luôn bị cấm đoán, khinh rẻ từ phía gia đình, công đồng vìcho rằng không trong sáng, mặc dù chi phí xuất khẩu lao động ít, thu nhậpcao, công việc nhàn hạ rất phù hợp cho lao động là nữ của huyện Lập Thạchnhưng vẫn không thu hút được nhiều người tham gia như mong muốn
Trang 30II ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2002 – 2007.
1 Kết quả xuất khẩu lao động ở Lập Thạch giai đoạn 2002-2007.
Thực hiện Chỉ thị số 41/CT-TƯ ngày 22/09/1998 của Bộ Chính trị vềcông tác xuất khẩu lao động, Thông tri số 20/TT-TU ngày 11/10/2002 củaTỉnh uỷ Vĩnh Phúc về tăng cường lãnh đạo công tác xuất khẩu lao động đếnnăm 2007 và Kế hoạch số 2042/KH-UB ngày 12/11/2002 của UBND tỉnhVĩnh Phúc về kế hoạch xuất khẩu lao động đến năm 2007 huyện Lập Thạch
đã tập trung chỉ đạo, đầu tư cho công tác xuất khẩu lao động và bước đầu thuđược kết quả đáng khích lệ
Theo báo cáo của UBND huyện Lập Thạch tổng kết 5 năm công tác xuấtkhẩu lao động giai đoạn 2002-2007 thì hiện nay công tác xuất khẩu lao động
đã trở thành phong trào ở địa phương, 100% số xã/thị trấn đã có người thamgia xuất khẩu lao động, đặc biệt có xã số người tham gia xuất khẩu lao độnglên tới vài trăm người như: xã Quang Yên là 300 lao động, Hải Lựu trên 100lao động, Đình Chu 130 lao động, Sơn Đông 195 lao động…
Bảng 2.1: Tổng hợp số người đi xuất khẩu lao động
của huyện Lập Thạch qua các năm từ 2002 đến 2007
Tổng, số Trong đó % Nữ
Trang 31(Nguồn: Báo cáo của UBND huyện Lập Thạch tổng kết 5 năm công tác
xuất khẩu lao động giai đoạn 2002-2007)
Từ năm 2002 đến năm 2007 huyện Lập Thạch đã đưa tổng số 1560 người
đi xuất khẩu lao động, hiện nay huyện đang có trên 700 lao động đang làmviệc ở nước ngoài, trong đó có 38% là lao động nữ, hàng năm gửi về huyệntrên 10 tỷ đồng Thị tường lao động chủ yếu là: Malaisia chiếm 67,92%, ĐàiLoan 26,60% (đây là những thị trường có yêu cầu không cao, chi phí xuấtkhẩu lao động thấp nên rất phù hợp với lao động của huyện Lập Thạch), HànQuốc 3,03%, Nhật Bản 2,30% còn lại là thị trường Singapore, Trung quốc,Quatar, Arap xê út…
Biểu 2.2: biểu đồ về số lượng người đi xuất khẩu lao động
qua các năm từ 2002-2007 của huyện Lập Thạch
Trang 32(Nguồn: Báo cáo của UBND huyện Lập Thạch tổng kết 5 năm công tác
xuất khẩu lao động giai đoạn 2002-2007)
Qua bảng 2.1 và biểu 2.2 ở trên ta thấy: số lượng người đi xuất khẩu laođộng từ năm 2002 đến năm 2007 có sự tăng, giảm rõ rệt, từ năm 2002 đến
2004 tăng lên rất nhanh, đặc biệt năm 2003 là 308 người vượt kế hoạch đề ra
8 người (chiếm 2,60%) và năm 2004 là 386 người vượt kế hoạch 86 người(chiếm 28,6%) Trong khi đó từ năm 2005 đến năm 2007, đặc biệt là năm
2005 chỉ có 172 người đi xuất khẩu lao động đạt 57,33% so với kế hoạch đề
ra, năm 2006 có 285 người đi xuất khẩu lao động đạt 95,3% kế hoạch, năm
2007 có 210 người đi xuất khẩu lao động đạt 70% so với kế hoạch Sở dĩ cóhiện tượng tăng, giảm số người đi xuất khẩu lao động qua các năm là do một
số nguyên nhân sau:
Thứ nhất trong 3 năm đầu thực hiện công tác xuất khẩu lao động (2002 –2004) số người đi xuất khẩu lao động tăng cao là do cơ chế, chính sách quyđịnh còn chưa chặt chẽ dẫn đến nhiều doanh nghiệp được phép tham gia hoạt
Trang 33động xuất khẩu lao động, hơn nữa phong trào xuất khẩu lao động trong nhữngnăm đầu thực hiện chủ trương nên rất sôi nổi và thu hút được nhiều lao độngtham gia.
Thứ hai trong 3 năm sau ( 2005-2007) số lượng nười đi xuất khẩu laođộng giảm mạnh, đặc biệt là năm 2005 nguyên nhân chủ yếu là do đầu năm
2005 thị trường Malaysia thông báo ngưng tiếp nhận lao động nước ngoàitrong đó có Việt Nam, thị trường Đài Loan ngưng tiếp nhận lao động giúpviệc gia đình dẫn đến lao động không đăng ký tham gia xuất khẩu lao độnghoặc đã dăng ký nhưng không thể xuất cảnh được Ngoài ra còn có nguyênnhân nữa là một số gia đình vay vốn đi xuất khẩu lao động không chịu trả nợhoặc trả không đúng kỳ hạn nên ngân hàng không muốn cho vay, vì vậy chỉnhững gia đình có điều kiện kinh tế mới có thể tham gia xuất khẩu lao động.Mặt khác tỉnh Vĩnh Phúc trong một vài năm gần đây đã có sự phát triển kinh
tế vượt bậc thu hút được nhiều nhà đầu tư, tạo ra nhiều chỗ làm mới trong đó
có lao động của huyện Lập Thạch tham gia, do đó mà số lao động của huyệnLập Thạch đi xuất khẩu lao động cũng giảm
Theo báo cáo của Phòng Nội vụ- LĐTBXH huyện thì lao động của huyệnLập Thạch đi xuất khẩu lao động chủ yếu làm việc trong các ngành nghề sau:dệt may, điện tử, cơ khí, sản xuất đồ nhựa, đồ gỗ, trang trí nội ngoại thất, xâydựng, giúp việc gia đình… đây là những ngành nghề đòi hỏi trình độ khôngcao, rất phù hợp với lao động là người Lập Thạch hơn nữa cũng cho mức thunhập khá
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì vẫn còn một số tồn tại chẳng hạnnhư số lao động của Lập Thạch đi xuất khẩu lao động vi phạm HĐLĐ, bỏ hợpđồng ra ngoài làm ăn và cư trú bất hợp pháp tuy không nhiều nhưng cũng ảnhhưởng đến kết quả chung Số lao động về nước trước thời hạn tính đến tháng
Trang 3412/2007 theo báo cáo của BCĐ xuất khẩu lao động huyện là 235 người trong
đó 65 người do đau ốm, 105 người do hoàn cảnh gia đình, 40 lao động ít việclàm thu nhập thấp hoặc nhà máy đóng cửa nên phải về nước hoặc xin vềnước Đặc biệt số lao động chết và mất tích tại nước ngoài (chủ yếu là tạiMalaysia) là hơn 10 người
Nguyên nhân của những tồn tại trên là do quá trình tuyển tuyển lao động ồ
ạt, không chú ý đến chất lượng; thị trường lao động Malaysia có rất nhiều laođộng từ nhiều nước đang làm việc mà chủ yếu là lao động phổ thông, do đóviệc bất đồng ngôn ngữ, cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến ẩu đả gây tửvong hoặc sự hoạt động của các băng nhóm tội phạm, tai nạ giao thông hơnnữa nhiều lao động do không am hiểu thị trường, thiếu thông tin cần thiết kỳvọng quá nhiều vào xuất khẩu lao động nên khi thực tế không đúng như mongmuốn nên đã tự ý rút lui hoặc do dư luận không tốt về xuất khẩu lao động ởđịa phương như lao động khổ cực, chủ sử dụng lao động nhẫn tâm, thu nhậpthấp, làm vợ bé… làm cho gia đình ngán ngại phải gọi người thân trở về nướctrước thời hạn
Tuy nhiên những kết quả đáng buồn trên chỉ là một phần rất nhỏ so với lợiích mà xuất khẩu lao động đem lại Hiện tại theo báo cáo của Phòng Nội vụ-Lao động TBXH thì nhu cầu đi xuất khẩu lao động của người dân trong huyện
là rất đông khoảng từ 600 – 900 lao động/năm trong khi đó thực tế hoạt độngxuất khẩu lao động mới chỉ đạt hoặc chưa đạt kế hoạch đề ra là 300 laođộng/năm Nguyên nhân của việc không đáp ứng được nhu cầu thực tế là do
số doanh nghiệp được phép tham gia hoạt đông xuất khẩu lao động trên địabàn huyện còn rất ít, năm 2002 mới có 2 doanh nghiệp và đến nay đã có 12doanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn huyện, sựphối hợp công tác trong hoạt động xuất khẩu lao động còn rất hạn chế, quan
Trang 35liêu, thủ tục rườm rà, đặc biệt là thủ tục vay vốn ngân hàng, các chính sách hỗtrợ đến với người lao động còn chậm thay đổi, chưa kịp thời hoặc không đầy
đủ Chính từ những hạn chế thực tế không đáp ứng được nhu cầu này mà xảy
ra hàng loạt tiêu cực trong hoạt động xuất khẩu lao động như:
Các doanh nghiệp không có chức năng, không có giấy phép hoạt độngxuất khẩu lao động lợi dụng sự thiếu thông tin, kém hiểu biết cộng với tâm lýngười lao động muốn được nhanh chóng xuất cảnh tránh thủ tục phiền hàhoặc là lao động thiếu tiêu chuẩn để tiến hành lừa đảo xuất khẩu lao động gâyhậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về xã hội hoặc tiếnhành các hoạt động xuất khẩu lao động bất hợp pháp như xuất khẩu lao độngbằng con đường du lịch, thăm thân, đăng ký kết hôn giả với người nướcngoài…
Hiện tại theo đánh giá của BCĐ xuất khẩu lao động huyện Lập Thạch thì
số người đi xuất khẩu lao động không qua đăng ký với BCĐ là rất nhiều chủyếu băng 2 con đường sau:
Đi theo sự dẫn dắt của người nhà đang làm việc tại nước ngoài
Những người đã hết hạn HĐLĐ nhưng cố tình ở lại để làm việc hoặc đã
về nước nhưng do có sự quen biết từ trước nên tiếp tục đi xuất khẩu lao động
mà không qua bất kỳ một tổ chức nào Những người đi xuất khẩu lao độngtheo con đường này thì mức độ rủi ro rất lớn, khi xảy ra tranh chấp thì lạikhông được pháp luật bảo vệ và phần thiệt thòi luôn luôn về phía người laođộng
Trang 362 Tổ chức bộ máy xuất khẩu lao động.
Căn cứ kế hoạch số 2042/KH-UB ngày 12/01/2002 của UBND tỉnh VĩnhPhúc về việc xuất khẩu lao động, chủ tịch UBND huyện Lập Thạch đã raQuyết định số 790/QĐ-CT ngày 06/02/2002 về việc thành lập BCĐ xuất khẩulao động huyện Lập Thạch giai đoạn 2002-2007 trực thuộc UBND huyện LậpThạch quản lý
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy làm công tác xuất khẩu lao động
ở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc
(Nguồn: theo Quyết định số 4117/QĐ-CT ngày 11/01/2002 của chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc thành lập bộ máy xuất khẩu lao động gai đoạn 2002-2007 và Quyết định 790/QĐ-CT ngày 06/02/2002 của Chủ tịch UBND huyện Lập Thạch về việc thành lập BCĐ xuất khẩu lao động huyện)
Thành phần bao gồm 11 nhân viên trong đó có 1 nhân viên là Phó chủ tịchUBND huyện làm trưởng ban, 1 nhân viên là Trưởng phòng TC-LĐTBXHlàm phó ban thường trực và 09 nhân viên là thủ trưởng của các cơ quan trong
Trang 37huyện làm uỷ viên đại diện cho các cơ quan như Công an huyện, TT y tế,ngân hàng, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội liên hiệp phụ nữ huyện, MTTQhuyện…
Nhiệm vụ chính của BCĐ là xây dựng quy chế hoạt động của BCĐ xuấtkhẩu lao động huyện, mục tiêu kế hoạch xuất khẩu lao động giai đoạn 2002-
2007, phân công trách nhiệm cho từng thành viên phụ trách cụm xã, giám sáthoạt động của BCĐ xuất khẩu lao động các xã, thị trấn
Nguyên tắc hoạt động của BCĐ xuất khẩu lao động là tập trung, dân chủlàm việc theo chế độ kiêm nhiệm, gắn trách nhiệm từng thành viên BCĐ vớichức năng nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình phụ trách
Ngoài BCĐ xuất khẩu lao động huyện thì tổ chức bộ máy xuất khẩu laođộng còn có BCĐ xuất khẩu lao động xã, thị trấn do Chủ tịch UBND xã, thịtrấn làm trưởng ban và các đoàn thể tham gia BCĐ
Như vậy: Tổ chức bộ máy làm công tác xuất khẩu lao động ở tỉnh VĩnhPhúc nói chung và huyện Lập Thạch nói riêng được triển khai đồng đều, trêndiện rộng, có sự chỉ đạo từ tỉnh đến xã, phường và đến từng thôn xóm với đủcác thành phần tham gia và đều là lãnh đạo của các cơ quan liên quan nhưvậy là rất thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động của huyện Tuy nhiên trong triển khai hoạt động bộ máy tổ chức vẫn bộc lộ rất nhiềuhạn chế như: quy chế hoạt động không rõ ràng chỉ ở mức chung chung tức làchưa gắn trách nhiệm cụ thể đến từng thành viên BCĐ dẫn đến sự phối hợpcông tác giữa các thành viên trong BCĐ đại diện cho các cơ quan và doanhnghiệp xuất khẩu lao động không thống nhất, chưa có kế hoạch cụ thể hoặcquy trình xuất khẩu lao động thống nhất cho từng năm mà áp dụng một cáchcứng nhắc không phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện, chưa dự báo được
Trang 38sự biến động của thị trường, ít chú ý đến việc tạo nguồn cho xuất khẩu laođộng, công tác thông tin tuyên truyền ít được chú trọng, việc thu hút cácdoanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động về địa phương còn hạnchế, công tác thanh kiểm tra, giám sát còn bỏ ngỏ dẫn đến hàng loạt tiêu cựcgây phiền hà cho người lao động, do đó người lao động đi xuất khẩu lao độngnhiều nhưng không thông BCĐ theo một quy trình thống nhất Mặt khác BCĐchưa có kế hoạch, giải pháp sử dụng, giúp đỡ cho số lao động sau khi hoànthành HĐLĐ về nước làm ăn hoặc sử dụng đồng vốn có hiệu quả mà coi đây
là trách nhiệm các nhân dẫn đến bỏ phí một lực lượng lao động đáng kể cho
sự phát triển kinh tế của huyện Đây là những hạn chế trong hoạt động của tổchức bộ máy, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu laođộng của huyện
Sự hạn chế trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ quan lẫn kháchquan, trong đó xuất khẩu lao động là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại đặc thù,mới chỉ bắt đầu được 5 năm nên huyện chưa có nhiều kinh nghiệm, phải cạnhtranh với nhiều lao động thuộc các khu vực khác nhau trong và ngoài tỉnh vốn
có nhiều kinh nghiệm hơn Mặt khác quy định BCĐ về số lượng ít, thànhphần tham gia chưa đầy đủ, do đó không tạo ra được sự xã hội hoá trong côngtác xuất khẩu lao động Mặt khác chất lượng cán bộ trong bộ máy tổ chức làmcông tác xuất khẩu lao động còn rất bất cập do phải làm việc ở chế độ kiêmnhiệm, trình độ chuyên môn không được đào tạo hoặc đào tạo không đúngchuyên môn, nhiều cán bộ vẫn không hiểu về xuất khẩu lao động cả lý luậnlẫn thực tiễn mà chỉ biết thực hiện nhiệm vụ theo mệnh lệnh một cách thụđộng
Trang 393 Hình thức và quy trình thực hiện xuất khẩu lao động.
Hình thức xuất khẩu lao động chủ yếu của huyện Lập Thạch là cung ứnglao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài và đưa lao động đi làmviệc theo hợp đồng nhận thầu khoán công trình ở nước ngoài
Công việc chủ yếu là công nhân cơ khí, điện tử, dệt may, chế biến hải sản,xây dựng, lao động trên biển, giúp việc gia đình …
Thị trường trọng điểm là Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc…
Đối tượng chủ yếu là lao động phổ thông và thực hiện xuất khẩu lao độngtheo một quy trình sau:
Tuyển chọn người đi xuất khẩu lao động: do doanh nghiệp được phép
xuất khẩu lao động tiến hành khi đã được sự đồng ý của BCĐ xuất khẩu laođộng tỉnh, sau đó các đơn vị này sẽ làm việc trực tiếp với BCĐ xuất khẩu laođộng huyện để thông báo số lượng, yêu cầu tuyển dụng và một số vấn đềkhác Sau đó BCĐ xuất khẩu lao động huyện sẽ thông báo xuống các xã, thịtrấn trong huyện và BCĐ xuất khẩu lao động xã sẽ thông báo đến người laođộng về yêu cầu tuyển chọn và lập danh sách số lao động đăng ký tham giaxuất khẩu lao động gửi lên BCĐ xuất khẩu lao động huyện để tổng hợp vàBCĐ xuất khẩu lao động huyện sẽ gửi danh sách cho đơn vị được phép xuấtkhẩu lao động tiến hành tổ chức sơ tuyển
Như vậy quá trình tuyển chọn qua nhiều khâu trung gian tạo điều kiện chotiêu cực xảy ra, hơn nữa việc tuyển chọn không được chuyên nghiệp vì không
có sự tham gia trực tiếp của đơn vị xuất khẩu lao động hơn nữa người laođộng không nắm bắt được thông tin về đơn vị xuất khẩu lao động mà mìnhtham gia ký kết, từ hạn chế này mà người lao động muốn nhanh được xuất