1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc và chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ

29 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 528,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, đề tài luận văn của chúng tôi nghiên cứu Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ là một hướng nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ HÀ THU

HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm-ĐHĐN

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Sáng

Phản biện 1: PGS-TS Lê Đức Luận

Phản biện 2: PGS-TS Võ Xuân Hào

Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học họp tại trường Đại học Sư phạm-ĐHĐN vào ngày 30 tháng 9 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tín hiệu thẩm mĩ, giá trị biểu trưng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương là một vấn đề hấp dẫn, là một cánh cửa rộng mở cho việc tiếp cận thế giới nghệ thuật ngôn từ Đó là cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ - văn hóa về hệ thống tín hiệu thẩm mĩ tồn tại trong ngôn ngữ văn chương Do vậy, đề

tài luận văn của chúng tôi nghiên cứu Hình tượng người phụ

nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lí thuyết tín hiệu thẩm mĩ là một hướng nghiên cứu hoàn

toàn mới, có tính lí luận và tính thực tiễn cao trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn chương từ góc nhìn kí hiệu học hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Lý thuyết kí hiệu học (semiotics) ra đời gắn liền với chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu ngôn ngữ và nhân học của thế kỉ XX Có thể nói như vậy, bởi một lẽ, mãi đến năm 1916,

năm mà Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F.de Saussure

được xuất bản thì người ta mới chú ý đến vai trò của kí hiệu học Luận điểm của F.de Saussure đề xuất: ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, và ngôn ngữ học là một bộ phận của kí hiệu học, xét theo một phương diện nào đó

Ở Việt Nam, những vấn đề về kí hiệu học, đặc biệt là lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ, đã được áp dụng từ những năm 70 của thế kỷ XX, phải kể đến các tác giả tiêu biểu như Hoàng Trinh,

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai, Bùi Minh Toán, Trương Thị Nhàn, Mai Thị Kiều Phượng, Trần Văn Sáng Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy số những công trình nghiên cứu riêng biệt ứng dụng các lý thuyết kí hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương trong một tác giả cụ thể không thật sự nhiều mà chủ yếu là

Trang 4

những bài nghiên cứu riêng lẻ về lí thuyết và/hoặc các phương diện nào đó của kí hiệu học

Đặc biệt, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên

cứu về hình tượng người phụ nữ trong ngôn ngữ Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm từ góc nhìn kí hiệu học như đề

tài của chúng tôi

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cụ thể

- Chỉ ra các ý nghĩa iểu trưng của các t n hiệu thẩm mĩ hằng

thể và t n hiệu thẩm mĩ iến thể chỉ về người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm; qua đó góp phần chỉ ra những đặc

trưng văn hóa dân tộc và quan điểm xã hội, cách nhìn của hai tác giả

về người phụ nữ

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về t n hiệu thẩm mĩ, k hiệu học,

về hoạt động giao tiếp trong ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn;

- Phân t ch, miêu tả đặc điểm hình tượng người phụ nữ được

khảo sát trên ình diện cái iểu đạt và cái được iểu đạt trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm; tìm hiểu, so sánh các đặc điểm

về sự iểu đạt ằng ngôn ngữ và ý nghĩa iểu trưng của t n hiệu thẩm

mĩ chỉ người phụ nữ trong hai tác phẩm

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 5

Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: hình tượng

người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm từ góc nhìn

l thuyết t n hiệu thẩm mĩ

4.2 h m vi nghiên cứu:

Về phương diện khảo sát, luận văn của chúng tôi tiến

hành khảo sát và nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện cái biểu đạt: tín hiệu hằng thể, tín hiệu biến thể, các biểu

thức ngôn từ chỉ về người phụ nữ tương ứng trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm

Về tư liệu khảo sát: luận văn khảo sát trên tác phẩm đã

công bố rộng rãi trong nhà trường, in bằng chữ quốc ngữ:

- Những khúc ngâm chọn lọc – Chinh phụ ngâm khúc và Cung oán ngâm khúc do các tác giả Lương Văn Đang, Nguyễn Thạch Giang và Nguyễn Lộc biên soạn của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

5.1 Thủ pháp thống kê, phân lo i

Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các loại tín hiệu hằng thể và tín hiệu biến thể và phân loại theo

những tiêu chí cụ thể

5.2 hương pháp miêu tả ngôn ngữ

Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các hình thức biểu đạt về người phụ nữ, tức cái biểu đạt, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo,

ý nghĩa iểu trưng của chúng và đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp trường nghĩa, để miêu tả các tín hiệu thẩm mĩ chỉ về người phụ nữ trong hai tác phẩm khảo sát của luận văn

6 Đóng góp của đề tài

Trang 6

- l luận Củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ ản

của lý thuyết t n hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương; ước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu hình tượng/ iểu tượng trong tác phẩm chương

- th c ti n Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân t ch

mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy t n hiệu thẩm mĩ trong ngôn

ngữ thơ Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nói riêng và trong

giao tiếp văn chương nói chung

7 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan Chương 2: Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện cái biểu đạt

Chương 3: Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc và Chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện cái được biểu đạt

Có nhiều các quan niệm khác nhau về tín hiệu liên quan

đến cách hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả Chúng tôi

thống nhất quan niệm tín hiệu trong đề tài như sau: tín hiệu là đơn vị có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, được chủ thể lý giải, nhận thức và lĩnh hội trong một hệ thống nhất định

Trong luận văn, khái niệm kí hiệu, tín hiệu, dấu hiệu được sử dụng đồng nhất

1.1.1.2 Các đi u kiện của tín hiệu

Trang 7

Đặt trong mối quan hệ với sự vật, người nói, người nghe, Buhler đã thấy tín hiệu thực hiện đồng thời cả ba chức năng: chức năng biểu thị, chức năng iểu cảm và chức năng thỉnh cầu

Tín hiệu có thể được xem là những “biểu tượng” (Symbole), những “hình hiệu” (icones), những “chỉ hiệu”

(indices) trong quan niệm của Ch.Pierce Trong khi cơ chế tín hiệu học theo F de Saussure, tín hiệu là hợp thể cái biểu đạt và cái được biểu đạt

1.1.2 Kí hiệu học hai bình diện của F de Saussure 1.1.2.1 Tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt

Dưới góc nhìn kí hiệu học, ở bất kỳ góc độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt) và

ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những

mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định

1.1.2.2 Các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ

Nói đến tín hiệu ngôn ngữ là nói đến t nh võ đoán, t nh hình tuyến của cái biểu đạt và tính hệ thống cấu trúc Vì thế, có

thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của ngôn ngữ trên tất cả các

đơn vị mang nghĩa ở nhiều cấp độ khác nhau: từ, ngữ, câu, đoạn, văn ản

1.1.3 Kí hiệu học ba bình diện của C.Pierce

Tất cả mọi vật đều được tri giác là kí hiệu nếu nó được

mã hóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), theo đó k hiệu là một tam phân

với ba bình diện:

- Cái biểu đạt (Representament), là phương tiện chuyển

tải và tri giác được

Trang 8

- Đối tượng (Objet) là cái được biểu đạt/ được đại diện

là vật thể tương liên với cái biểu đạt

- Cái thuyết giải (Interpretant) là cái trung gian giữa hai cái trên (cái biểu đạt và đối tượng), là cái lí giải quan hệ giữa

hai cái đó, nghĩa là nhờ nó, trong tư duy người tiếp nhận sẽ có một tín hiệu tương th ch được tạo ra

1.1.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương

1.1.4.1 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ

Hệ thống THTM tồn tại và hoạt động theo những quy luật của tín hiệu và quy luật của tín hiệu ngôn ngữ vì mục đ ch biểu đạt giá trị thẩm mĩ Có thể hình dung THTM theo sơ đồ hai mặt của tín hiệu như sau:

THTM =

CBĐ: t n hiệu ngôn ngữ CĐBĐ: ý nghĩa thẩm mĩ mang hàm ý iểu

trưng

1.1.4.2 Phân lo i tín hiệu thẩm mĩ

Về phân loại tín hiệu thẩm mĩ, hiện nay có nhiều cách phân chia khác nhau của Đồ Hữu Châu, Trương Thị Nhàn, Bùi Minh Toán, Trần Văn Sáng, trong luận văn này, chúng tôi trình bày cách phân loại của Mai Thị Kiều Phượng trong cuốn

“Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học” như sau: t n hiệu thẩm mĩ đơn; tín hiệu thẩm mĩ phức; tín hiệu thẩm mĩ hằng thể; tín hiệu thẩm mĩ biến thể.; tín hiệu thẩm mĩ nghĩa tự thân; tín hiệu thẩm mĩ nghĩa kết hợp; tín hiệu thẩm mĩ trừu tượng – khái quát và tín hiệu thẩm mĩ cụ thể;

1.1.4.3 Biểu trưng hóa, cơ chế hình thành tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn chương

Biểu trưng hóa là muốn thiên về biểu thị cái quá trình

biến những từ ngữ thông thường thành những ẩn dụ, những

Trang 9

biểu trưng, iểu tượng, nghĩa là những từ ngữ có nghĩa óng,

nghĩa iểu trưng Cũng như vậy, khi dùng cơ chế biểu trưng hóa là muốn nhấn mạnh rằng biểu trưng hóa diễn ra theo một

cơ trình với những quy tắc riêng của nó Nếu như biểu trưng hóa là một cơ trình, tức một quá trình diễn ra có tính quy tắc, giống như sự hành chức của một bộ máy, thì biểu trưng là hệ quả, là sản phẩm của cơ trình đó

Từ lý thuyết kí hiệu học, có thể sơ đồ hóa về cơ chế hình thành THTM trong ngôn ngữ văn chương như sau:

1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

1.2.1.1 Ngữ cảnh

1.2.1.3 Di n ngôn

1.2.2 Đặc điểm giao tiếp trong tác phẩm văn chương

1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và b n đọc)

1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp

1.2.2.3 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.3 GIỚI THIỆU VỀ CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ

CHINH PHỤ NGÂM

1.3.1 Về tác phẩm Cung oán ngâm khúc

Cung oán ngâm khúc là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn

Gia Thiều, được viết bằng chữ Nôm, gồm 356 câu thơ làm theo thể song thất lục bát Nó được xem như một bản cáo trạng tố cáo chế độ phong kiến đã chà đạp con người thông qua là tiếng thét ai oán của một trang tố nữ tài sắc vẹn toàn và tình cảm trong sáng, cao quý mà bị ruồng bỏ

=

Trang 10

1.3.2 Về tác phẩm Chinh phụ ngâm

Chinh phụ ngâm được viết bằng chữ Hán, do tác giả

Đặng Trần Côn sáng tác vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII Nội

dung Chinh phụ ngâm phản ánh thái độ oán ghét chiến tranh

phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là đề cao quyền sống cùng khao khát tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của con người thông qua tâm trạng đau uồn của người chinh phụ đang sống trong tình cảnh lẻ loi vì chồng phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực của các vua chúa

1.4 TIỂU KẾT

CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ

Ở đây, chúng tôi chỉ xem xét hình tượng người phụ nữ

trong tính hằng thể là người cung nữ Kết quả phân loại như

sau:

TẦN SUẤT (%)

Trang 11

2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán

ngâm khúc, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể

Các tín hiệu biến thể chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc chính là sự miêu tả-cụ thể hóa các tín hiệu hằng thể

trong mối quan hệ đồng nhất và đối lập, quan hệ kết hợp và liên tưởng qua ngôn ngữ biểu đạt trong tác phẩm

Kết quả được thể hiện qua bảng tổng hợp dưới đây:

Trang 12

2.1.2.1 Các biến thể từ v ng chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc

Cách miêu tả người phụ nữ trong thể loại khúc ngâm

bằng các hình ảnh quen thuộc như đóa trà my, hoa hải đường, những chồi thược dược, những đóa hoa lan, bông đào, đóa lê

phản ánh t nh ước lệ, tượng trưng của thi pháp văn học Trung

đại nói chung mà Cung oán ngâm khúc không phải là một

ngoại lệ

2.1.2.2 Các biến thể kết hợp chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc

a Tín hiệu kết hợp là danh từ/danh ngữ

Các yếu tố miêu tả là danh từ riêng nhằm chỉ vẻ đẹp sắc

nước hương trời của người cung nữ được v như Gấm nàng Ban, nàng Tây Thi, chị Hằng Nga Các tín hiệu thẩm mĩ do

danh từ riêng đảm nhận đã tạo nên những đặc trưng riêng cho

vẻ đẹp ngoại hình, cho con người của nàng cung nữ

b Tín hiệu kết hợp là động từ/động ngữ

Qua khảo sát cho thấy có khoảng 70 đơn vị với 112 lần xuất hiện Những động từ này giúp miêu tả, khắc họa rõ nét tâm trạng, tính cách của cung nữ khi phải rơi vào cảnh cô đơn, sầu muộn, tâm trạng dùng dằng, buồn tủi, đau đớn của người

chinh phụ khi tiễn chồng ra trận: dằng dặc, cầm tay, bước đi, nhìn, ngẩn ngơ, trông

c Tín hiệu kết hợp là tính từ/tính ngữ

Theo thống kê có khoảng 82 đơn vị với 98 lần xuất

hiện, chiếm 31,8% Chúng là những định ngữ nghệ thuật làm

phong phú thêm những nét nghĩa iểu trưng cho hình tượng

người cung nữ

d Tín hiệu kết hợp là số từ

Các tín hiệu thẩm mĩ kết hợp là số từ trong tác phẩm

Trang 13

Cung oán ngâm khúc xuất hiện tương đối nhiều như: nghìn (vàng), nghìn (tía), một hai, ba nghìn, sáu (khắc), năm (canh), trăm (chiều), mấy, ….Cách miêu tả bằng cách lượng hóa đã thể

hiện được tâm tư, tình cảm của tác giả dành cho nhân vật cung

nữ

2.1.2.3 Biến thể quan hệ chỉ người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc

a Các biến thể quan hệ chỉ thời gian

Trải dài khúc ngâm chúng ta có thể nhận thấy rằng thời gian trong đêm tối được tác giả sử dụng rất nhiều Và đây cũng

là khoảng thời gian cô đơn, giày v tâm can nàng cung nữ, khiến tâm trí nàng luôn mơ về những ngày ái ân nồng đượm

với đấng quân vương: một đêm, chiều ủ dột, đêm xưa, đêm năm canh

b Các biến thể quan hệ là không gian

Không gian trong Cung oán ngâm khúc là không gian

ưng t của chốn phòng the cô quạnh mà người cung nữ phải

sống: thâm khuê, cửa châu, cung quế, lầu đãi nguyệt, gác thừa lương, gác phương, lầu xanh, Những biến thể không gian trong Cung oán ngâm khúc đều tuân thủ qui ước của d ng thơ cung oán khi tác giả đã lấy chốn phòng the làm không gian

trung tâm sự tồn tại của người cung nữ

c Các biến thể quan hệ chỉ con người

Cùng xuất hiện với các tín hiệu thẩm mĩ chỉ người cung

nữ còn có các biến thể quan hệ chỉ người thuộc các tầng lớp khác nhau như nhà vua, chồng, khách công hầu… tất cả đều tạo nên một mối quan hệ mật thiết với hình tượng cung nữ chẳng hạn, vua được so sánh như bóng dương, như chúa xuân

2.2 SỰ BIỂU ĐẠT BẰNG NGÔN NGỮ HÌNH TƢỢNG

Trang 14

NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG CHINH PHỤ NGÂM

2.1.1 Hình tượng người phụ nữ trong Chinh phụ

ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể

Trong Chinh phụ ngâm, tác giả đã miêu tả vẻ đẹp mĩ

miều của người chinh phụ với nhiều hình tượng khác nhau, qua

đó đã khắc họa rõ hơn dung nhan của nàng chinh phụ, thể hiện

qua dữ liệu khảo sát như sau:

2.1.2 Hình tượng người phụ nữ trong Chinh phụ

ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ biến thể

Khảo sát tác phẩm cho thấy THTM chỉ người phụ nữ qua các biến thể từ vựng, biến thể quan hệ, biến thể kết hợp có kết quả như sau

Ngày đăng: 12/04/2022, 08:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ   CHINH PHỤ NGÂM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN   - Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc và chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG CUNG OÁN NGÂM KHÚC VÀ CHINH PHỤ NGÂM NHÌN TỪ BÌNH DIỆN (Trang 1)
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ - Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc và chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ
HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ (Trang 10)
2.1.1. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Chinh phụ ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể  - Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc và chinh phụ ngâm nhìn từ bình diện lý thuyết tín hiệu thẩm mĩ
2.1.1. Hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong Chinh phụ ngâm, xét ở cấp độ tín hiệu thẩm mĩ hằng thể (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w