1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé n«ng nghiöp PTNT

86 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 882,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cũng thực hiện một số dự án đầu tư để tăng cường nguồn lực cho quản lý bảo vệ.Tuy nhiên, kết quả khảo sát mới đây của Chi cục kiểm lâm đã cho thấy tàinguyên rừng ở Ea Sô, đặc biệt là tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Nông nghiệp & PTNT

TRường đại học Lâm nghiệp

  

Trương văn trưởng

Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng

trên cơ sở cộng đồng ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên easô - Daklak

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Buôn Ma Thuột - 2002

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Nông nghiệp & PTNT

TRường đại học Lâm nghiệp

  

Trương văn trưởng

Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng

trên cơ sở cộng đồng ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên easô - Daklak

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Người hướng dẫn khoa học PGS TS vƯƠNG VĂN qUỳNH

Trang 4

đặt vấn đề

Đaklak là một tỉnh thuộc Cao nguyên Trung bộ có diện tích rừng tự nhiênlớn nhất cả nước – 1.017.955 ha Tài nguyên thiên nhiên của Đaklak rất phongphú và đa dạng về các hệ sinh thái, các loài động thực vật, trong đó có nhiều loài

động thực vật quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới

Ví trí và tiềm năng rừng Đaklak đã góp phần quan trọng trong đời sốngdân sinh kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học.Thế nhưng trong những năm qua rừng của Đaklak ngày càng bị suy giảm vềdiện tích và chất lượng rừng Theo số liệu thống kê bình quân mỗi năm diện tíchrừng mất khoảng 10.000 ha do việc phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đấtlâm nghiệp Việc mất rừng đã làm cho hệ sinh thái rừng bị phá vỡ, môi trường tựnhiên bị biến đổi đã gây nên hạn hán, lũ lụt, làm thiệt hại lớn đồng thời cũnglàm suy giảm tính đa dạng sinh học Trước những thay đổi đó con người ngàycàng hiểu được tầm quan trọng của rừng Ngày nay, quản lý rừng bền vững đã

được nhận thức như một chiến lược vì mục tiêu tồn tại lâu bền của con người vàthiên nhiên

Đứng trước thực trạng trên Đaklak đã có nhiều biện pháp tích cực nhằmbảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học của

địa phương Tỉnh đặc biệt chú trọng đến công tác bảo tồn, đã đầu tư xây dựngmột hệ thống các khu rừng đặc dụng gồm 2 Vườn Quốc gia và 10 Khu bảo tồnthiên nhiên với diện tích 281.545 ha, trong đó có Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô

Đây là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học cao, có ý nghĩa lớn vềcảnh quan và môi trường Từ năm 1999, sau khi được thành lập Nhà nước đã xây

Trang 5

cũng thực hiện một số dự án đầu tư để tăng cường nguồn lực cho quản lý bảo vệ.Tuy nhiên, kết quả khảo sát mới đây của Chi cục kiểm lâm đã cho thấy tàinguyên rừng ở Ea Sô, đặc biệt là tài nguyên động vật vẫn tiếp tục bị suy giảm.Người ta cho rằng một trong những nguyên nhân chủ yếu là thiếu sự tham giatích cực của cộng đồng dân cư địa phương Không ít người thờ ơ với hoạt độngxâm hại rừng, thậm chí còn trực tiếp tham gia vào hoạt động khai thác gỗ và

động vật rừng Người ta cũng đã nhận thức được công tác quản lý rừng khôngthể hiệu quả nếu chỉ đơn thuần dựa vào lực lượng Nhà nước, mà còn phảikhuyến khích được sự tham gia của cộng đồng Vấn đề là làm thế nào để lôicuốn được cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng, cần cónhững giải pháp gì về kinh tế, xã hội, về khoa học công nghệ để xã hội hoá đượccông tác quản lý bảo vệ rừng Đây là vấn đề băn khoăn, trăn trở không chỉ củanhững người trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng mà của cả các cấp chínhquyền địa phương

Để góp phần giải quyết nhiệm vụ trên, trong khuôn khổ của đề tài caohọc, tôi đã chọn đề tài "Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng trên cơ sởcộng đồng ở vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô tỉnh Đaklak"

Trang 6

Chương 1 Tổng quan Quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng 1.1 Nhận thức về quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng

1.1.1 Khái niệm về quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng

Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùngmột khu vực, và thường cùng nhau chia sẽ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hộichung có thể có quan hệ gia đình với nhau (D'arcy Davis Case, 1990) Còn quản

lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là quản lý tài nguyên mà trong đó phát huy

được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý Những giải phápquản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái củaphong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc

điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp v.v Trongkhi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước

đang phát triển mà đặc biệt là ở vùng Châu á - Thái Bình Dương, gia đình vàcộng đồng được đánh giá cao Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiênnhiên trên cơ sở cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh

tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

Don Gilmour và Fischer [14] cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt

động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phươngthực hiện , những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và

nó là một bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác

Trang 7

1.1.2 Chiến lược và chính sách cho quản lý tài nguyên rừng trên cơ

sở cộng đồng

Chiến lược và chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên miền núi trên cơ

sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều tiến hành theo những hướng:

(1)- Bổ sung và sửa đổi chính sách để tăng quyền quản lý và sử dụng tàinguyên tài nguyên cho người dân và các cộng đồng Những giải pháp chủ yếu đểtăng quyền quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là: cấp giấy chứng nhậnquyền quản lý sử dụng tài nguyên lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng, quyhoạch phát triển có sự tham gia của người dân, xây dựng những tổ chức vàhương ước đảm bảo quyền sử dụng và phát triển tài nguyên, xây dựng nhữnghợp đồng trách nhiệm giữa gia đình, cộng đồng với Nhà nước [43]

(2)- Kết hợp những giải pháp hỗ trợ kinh tế để khuyến khích với nhữnggiải pháp hành chính cứng rắn, chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp khoahọc công nghệ, giải pháp kinh tế và giải pháp xã hội cho quản lý tài nguyên

(3)- Những chương trình quản lý tài nguyên và chương trình phát triển nóichung của địa phương được xây dựng theo phương pháp cùng tham gia, ở tất cảcác giai đoạn lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch

và tiếp tục thực hiện kế hoạch Người ta xem đây là phương pháp cho phép pháthuy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đồng cho quản lý tài nguyên

1.1.3 Quan điểm về quản lý rừng bền vững

Trước đây rừng tự nhiên bao trùm phần lớn diện tích mặt đất Tuy nhiên,

do những tác động của con người như khai thác lâm sản quá mức, phá rừng lấy

đất trồng trọt, đất chăn thả, xây dựng các khu công nghiệp, mở rộng các điểmdân cư v.v đã làm cho rừng thu hẹp dần về diện tích Tỷ lệ che phủ của rừng tựnhiên giảm đi mỗi ngày một nhanh Vào đầu thế kỷ XX diện tích rừng trên thếgiới vẫn còn khoảng 60-65%, nhưng đến cuối thế kỷ con số này đã giảm đi một

Trang 8

nửa Theo số liệu của tổ chức lương thực thế giới thì tổng diện tích rừng tự nhiênhiện chỉ còn khoảng 3.454 triệu ha (35% diện tích mặt đất) Mỗi năm diện tíchrừng bị giảm đi trung bình khoảng 20 triệu ha [21].

ở Việt Nam hiện tượng mất rừng cũng tương tự như vậy Vào những năm

1940 tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên còn khoảng 40-45% diện tích lãnh thổ

Đến 1995 tỷ lệ này là xấp xỉ 25% Rừng tự nhiên không chỉ bị thu hẹp về diệntích mà còn giảm đi về chất lượng Các loài gỗ quý đã bị khai thác cạn kiệt, cácloài cho sản phẩm có giá trị cao như lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyênliệu cho công nghiệp, thủ công mỹ nghệ v.v trở nên khan hiếm, nhiều loài

động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng Từ năm 1995 đến nay vớinhiều chính sách kinh tế xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng, tỷ lệ che phủ rừng

đã bắt đầu tăng lên Đến năm 2000, theo kiểm kê của Nhà nước, tỷ lệ che phủrừng đã tăng lên khoảng 33% Tuy nhiên, phần lớn diện tích rừng tăng lên lànhững rừng phục hồi gần như chưa có trữ lượng và mang lại rất ít lợi ích kinh tếcho người dân Vì vậy, nhiều người cho rằng xu hướng tăng lên của tỷ lệ che phủrừng là chưa thực sự bền vững

Trước tình hình đó một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải quản lý rừng nhưthế nào để ngăn chặn được tình trạng mất rừng, quản lý mà trong đó việc khaithác những giá trị kinh tế của rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích vàchất lượng của nó, duy trì và phát huy những chức năng sinh thái to lớn với sựtồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên Đây cũng là xuất phát điểm củanhững ý tưởng quản lý rừng bền vững - quản lý rừng nhằm phát huy đồng thờinhững giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường của rừng Mặc dù nội dung củaquản lý rừng bền vững rất phong phú và đa dạng với những khác biệt nhất địnhphụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng quốc gia, song người

Trang 9

Chẳng hạn theo Tổ Chức gỗ Nhiệt đới (ITTO) [63] thì “Quản lý rừng bền vững

là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định nhằm đạt được những mục tiêu

là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn màkhông làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng,không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường vật lý và xã hội “ Còntheo hiệp ước Helsinki thì “ Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đấtrừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng táisinh, sức sống của rừng, đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năngkinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ởcấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các

hệ sinh thái khác” Mặc dù có sự sai khác nhất định trong cách diễn đạt ngôn từ,nhưng các khái niệm đều hướng vào mô tả mục tiêu chung của quản lý rừng bềnvững Đó là quản lý để đạt được sự ổn định về diện tích, sự bền vững về tính đadạng sinh học, về năng suất kinh tế và hiệu quả sinh thái môi trường của rừng.Các khái niệm cũng chỉ rõ sự cần thiết phải áp dụng một cách linh hoạt của cácbiện pháp quản lý rừng phù hợp với từng địa phương, và quản lý rừng bền vữngphải được thực hiện ở các quy mô từ địa phương, quốc gia đến quy mô toàn thếgiới

Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì : về mặt nguyên tắc, hiệu quả sinhthái môi trường của rừng hoàn toàn có thể quy đổi được thành những giá trị kinh

tế Vì thực chất, việc nâng cao giá trị sinh thái môi trường của rừng sẽ góp phầnlàm giảm bớt những chi phí cần thiết để cải tạo và ổn định môi trường vật lý cho

sự tồn tại của con người và thiên nhiên, duy trì và cải thiện năng suất của các hệsinh thái cũng như nhiều hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác v.v Như vậy,quản lý rừng bền vững về thực chất là một hoạt động nhằm góp phần vào sử

Trang 10

dụng bền vững, sử dụng tối ưu không gian sống của mỗi địa phương, mỗi quốcgia và toàn thế giới.

Với ý nghĩa kinh tế và sinh thái môi trường cực kỳ quan trọng, quản lýrừng bền vững hiện được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất củahoạt động quản lý tài nguyên, một giải pháp lớn cho sự tồn tại lâu bền của conngười và thiên nhiên trên trái đất

1.2 Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở một số nước trong khu vực 1.2.1 Vấn đề quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng trong những năm gần đây

Nhìn chung, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng đang

được xem như là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tàinguyên, hỗ trợ giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên Đã có không ít nhữngmô hình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng thành công ở Lào, Thái Lan,Malaysia, Trung Quốc Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xâydựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên trên cơ sở cộng đồng ở ViệtNam

Để đảm bảo sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững, trong những nămgần đây ở mỗi nước, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mìnhmột chiến lược và chính sách quản lý thích hợp Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế

- chính trị - xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗiquốc gia mà mỗi nước hình thành nên một hệ thống quản lý sử dụng tài nguyênkhác nhau Nhìn tổng quát, có xu hướng chung là gắn liền đất đai tài nguyênrừng với những cư dân địa phương, phát triển một phương sách quản lý tàinguyên vì con người, do con người

Không giống như các phương thức quản lý tài nguyên truyền thống chỉ

Trang 11

lý hệ sinh thái tự nhiên Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đòi hỏi phải có

sự kết hợp hài hoà giữa vấn đề kỹ thuật với vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt chú

ý phát huy vai trò của kiến thức bản địa và các tổ chức quần chúng ở địa phương[1]

Một trong những vấn đề cơ bản nhất trong quản lý tài nguyên là vấn đề sửdụng và quyền sở hữu Tất cả các thảo luận và tranh cãi về sở hữu công cộng đềuliên quan trực tiếp tới tài nguyên, tự nhiên và xã hội Vì vậy, quản lý tài nguyên

là một khái niệm khá rộng, bao quát nhiều vấn đề khác nhau Tuy nhiên, với đềtài này chủ yếu quan tâm nhiều tới lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng - một loạitài nguyên có khả năng phục hồi cao, sức sản xuất lớn, có vai trò quan trọngtrong kinh tế và bảo vệ môi trường nhưng đang trong tình trạng bị suy thoái vàphải chịu nhiều đe doạ Vì lý do đó mà công cuộc quản lý tài nguyên rừng trêncơ sở cộng đồng đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của thế giới và trongnước

Trong khu vực Đông Nam á ước tính có khoảng từ 80 đến 100 triệu ngườisống trên đất rừng công cộng, con số này có thể sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng

từ 20 - 30 năm tới Hơn thế, có tới 200 triệu cư dân nông thôn ít nhiều sống phụthuộc vào rừng, và cuối cùng, có khoảng 150 triệu người dân thành thị hưởngthụ những giá trị môi trường từ các hệ thống rừng đầu nguồn mang lại Tuynhiên, diện tích rừng trong khu vực này đã bị giảm sút một cách đáng kể Cácnhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đã chỉ ra rằng một trong nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn tới sự phá rừng xuất phát từ việc thiếu sự phân quyền vàtrách nhiệm quản lý cho các cộng đồng cư dân địa phương từ chính phủ cácnước Vì lý do đó mà trong thế kỷ qua đã có tới 360 triệu ha hoặc tương đươngmột phần hai diện tích rừng của khu vực Đông Nam á đã bị mất

Trang 12

Những người dân bản xứ cùng cộng đồng của họ và những cộng đồng địaphương khác có một vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môitrường, bởi lẽ họ đã được tích luỹ vốn kiến thức truyền thống cùng với nhữngkinh nghiệm thực tế qua nhiều năm Chính phủ các nước cần nhận ra và khuyếnkhích sự tham gia của họ trong chiến lược quản lý tài nguyên và phát triển bềnvững [60].

Vì vậy, con đường tốt nhất hiện nay để giảm tình trạng suy thoái tàinguyên rừng là phải dựa vào những người dân sống trong rừng, gần rừng và gắn

bó với rừng Với trên 1.000 nhóm ngôn ngữ khác nhau, khu vực Đông Nam á đãtrở thành một bức tranh sinh động và giàu có nhất về các phương thức quản lýtài nguyên và các hoạt động truyền thống Trong phần lớn các lãnh địa củaPhilippines, Indonesia, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Burma, và TháiLan, những cộng đồng văn hoá bản địa vẫn giữ một vị trí quan trọng trong quản

lý tài nguyên đất, nước và rừng Do vậy, cần phải thực hiện chính sách phânquyền và trao quyền cho họ trong việc quản lý và phục hồi các nguồn tài nguyênquý báu ấy[60] [61]

Nhiều cuộc hội thảo quốc tế về Lâm nghiệp cộng đồng đã đi đến nhữngnhận định chung về yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự thành công của Lâm nghiệpcộng đồng, một trong những số đó là:

+ Chính phủ các nước phải đưa ra những cam kết về mặt pháp lý ổn định,lâu dài như quyền sử dụng đất và các chủ trương phát triển nông thôn, miền núidưới dạng các luật và các nghị quyết dưới luật để mọi người yên tâm đầu tư và

sử dụng mảnh đất của mình một cách lâu dài Các chính sách về quản lý tàinguyên mỗi khi ban hành phải thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân

địa phương, đặc biệt là các gia đình nghèo lâu nay sống bằng nghề rừng

Trang 13

+ Việc hoạch định chính sách quản lý tài nguyên phải thông qua đàmthoại và khảo sát thực tế tại các cộng đồng địa phương để tìm hiểu rõ nhu cầu vàkhả năng của người dân, tránh các chủ trương gò ép, duy ý chí được đưa từ trênxuống.

+ Các cấp quản lý trực tiếp (cấp thôn bản và cấp hộ gia đình) có vai trò

đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc động viên và huy động cácnguồn lực của dân, đến việc quản lý và sử dụng đất và rừng, đến việc giải quyếttranh chấp hay xung đột trong nội bộ cộng đồng Nói tóm lại nó trực tiếp hìnhthành môi trường kinh tế và xã hội thuận lợi cho việc quản lý tài nguyên Cho tớinay, cấp thôn bản ở một số nước trong đó có Việt Nam vẫn chưa chính thức

được công nhận nằm trong bộ máy hành chính nhà nước, tuy nhiên, nó là một tổchức tự quản của dân, do dân bầu ra cùng nhau bàn bạc và ra quyết định Chínhvì vậy nhà nước phải làm sao phát huy hết vai trò to lớn nội tại của tổ chức này[17]

1.2.2 Đặc điểm về chính sách quản lý tài nguyên rừng ở một số nước trong khu vực

- ở Thái Lan

Sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân

được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân cótrách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Người nôngdân nhận đất được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đấtrừng của Nhà nước ở những nơi phù hợp cho việc trồng cây nông nghiệp lưuniên Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đã làm gia tăngmức độ an toàn cho người thuê đất trong thời gian sử dụng Do vậy đã ảnhhưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất

Trang 14

Campuchia là nước có truyền thống lâm nghiệp cũ, từ lâu đời toàn bộsản phẩm rừng chủ yếu dùng cung cấp cho nhu cầu người dân trong nước, vàhơn 1/4 thế kỷ trở lại đây tình hình rừng Campuchia có những biến đổi sâusắc Theo tài liệu của Ban thư ký Mê Công thì tới nay rừng Campuchia chỉcòn khoảng 11.200.000 ha Vì vậy chính sách lâm nghiệp Campuchia đã và

đang hướng vào mục tiêu phát triền Lâm nghiệp cộng đồng, quy định nhữngnội dung tham gia hoạt động lâm nghiệp của người dân và những quyền lợi

mà họ được hưởng

- ở Philippine

Từ những năm 1970 Chính phủ đã quan tâm đến phát triển LNXH, Nhànước xây dựng các dự án LNXH tổng hợp do Bộ tài nguyên thiên nhiên chủ trì

và phối hợp với các bộ có liên quan, phân chia thành từng vùng phát triển LNXH

do giám đốc vùng phụ trách, xây dựng mạng lưới đến cấp huyện, Philippine chútrọng chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp, kỹ thuật canh tác đất dốc đếnngười nông dân để phát triển nông nghiệp Năm 1982 Chính phủ xây dựng dự ánphát triển LNXH quốc gia công nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng.Một dạng hợp đồng sử dụng của cộng đồng là hợp đồng thuê quản lý rừng được

ký với các hộ gia đình, cộng đồng, hoặc các nhóm Trong thời hạn thực hiện hợp

đồng các chủ nhân được phép thu hoạch, chế biến sản phẩm, bán hoặc các hìnhthức sử dụng khác Một dạng thứ hai của hợp đồng cộng đồng ở Philippine làcông nhận quyền quản lý của các dân tộc thiểu số trên mảnh đất tổ tiên họ đểlại, người dân được ký hợp đồng nhận đất nhận rừng với Chính phủ trong 25năm và có thể kéo dài trong 25 năm tiếp theo ở Philippine đã hình thành pháttriển công nghệ canh tác trên đất dốc (SALT - Sloping Agricultural LandTechnology), SALT là hệ thống canh tác phát triển nông lâm nghiệp, bảo vệ đất,

Trang 15

- ở ấn Độ

Những điểm nổi bật trong chính sách quản lý rừng của ấn Độ đó là duytrì mối quan hệ thực chất giữa rừng với người dân các bộ tộc và những ngườinghèo sống ở trong rừng và gần rừng, bảo vệ quyền lợi và nhận rừng và hưởnglợi về rừng lâu đời của họ [17] Vào những năm 70 của thế kỷ 20 ấn Độ đã pháttriển lâm nghiệp xã hội (LNXH), năm 1986 ấn Độ hoàn thành mục tiêu pháttriển LNXH tại các bang khác nhau ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tácquản lý những vùng đất rừng của Chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng

được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợicây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang

- ở Nhật bản

Nước này đã có 25.21 tr ha rừng, trong đó rừng cộng đồng chiếm 10%,rừng tư nhân 60% và rừng quốc gia chỉ chiếm 30% [23], 1996) Không phải làcường điệu khi nói rằng văn hoá Nhật Bản phát triển trong mối quan hệ mật thiếtcủa gỗ và rừng, tiêu biểu là những toà nhà bằng gỗ đền "Horyn" và nhiều cây gỗlinh thiêng còn lại xung quanh những đền, miếu và điện thờ Từ sự đam mê vàquan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bềnvững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêuchính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố

rõ ràng để đẩy mạnh phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay

từ những năm 1800 [54]

1.3 Quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

1.3.1 Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng

Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nêncơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên

Trang 16

nhiên Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tàinguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ramột cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những

xu hướng phát triển của thế giới [34]

Khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nôngnghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhiều tác giả đã khẳng định tầm quantrọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [53] Chínhnhững cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về tàinguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan hệkinh tế - xã hội trong cộng đồng của họ Họ biết, phát triển những loài cây trồng,vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương

Người ta nhận thấy rằng, sự tham gia của các cộng đồng góp phần làmgiảm những mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên Nghiên cứu ở vùnglòng hồ Hòa Bình cho thấy, thiếu sự tham gia của các cộng đồng đã không giảiquyết hợp lý được mối quan hệ về lợi ích giữa quốc gia và cộng đồng dân cư địaphương Sự thất bại của dự án 747 "ổn định dân cư phát triển kinh tế xã hội vùngchuyển dân sông Đà" trong những năm đầu triển khai và thực hiện dự án có mộtphần quan trọng là thiếu sự tham gia của cộng động trong việc xây dựng nhữnggiải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên [47] Bản thân những tranh chấp về tàinguyên giữa các cá thể trong cộng đồng cũng chỉ có thể giải quyết tốt trên cơ sởcác luật tục, hương ước cũng như những mối quan hệ làng bản ở từng địaphương Ngoài ra, một số chính sách Nhà nước có thể không được thực thi mộtcách triệt để, khi thiếu sự tham gia của các cộng đồng [48] Những người dân

địa phương là những người thực hiện và giám sát hiệu quả nhất các chương trình,

dự án triển khai trên địa bàn của họ [13]

Trang 17

Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã đượcnhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiênnhiên vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều đượctham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân vàhình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, pháttriển và sự dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh củamỗi gia đình và cộng đồng.

Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tàinguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau Nó phụ thuộc vào đặc

điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vàonhững quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôngiáo, nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v Trong nhiều trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ

đầy đủ Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tàinguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân tộc cùng toàn

bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn đang được đặt ra như một trongnhững nhiệm vụ cấp bách ở Việt Nam

1.3 2 Các nghiên cứu chính liên quan đến quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam.

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác giao đất lâmnghiệp ở nước ta, mỗi chính sách nghiên cứu đều có cách tiếp cận riêng và cónhững nhận định riêng về tác động và kết quả của chính sách này đối với quátrình phát triển kinh tế, xã hội của vùng trung du và miền núi

Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia "Chương trình hành động lâm nghiệpnhiệt đới" của cộng đồng quốc tế Dự án "Tổng quan về lâm nghiệp Việt Nam"với mã hiệu VIE - 08 - 037 đã được tiến hành và kết thức vào năm 1991, dự án

Trang 18

đã đóng góp quý báu vào việc đánh giá hiện trạng lâm nghiệp Việt Nam thời

điểm lúc đó và đưa ra những khuyến cáo về việc định hướng phát triển ngànhlâm nghiệp cho đến năm 2000 và một số năm tiếp theo

Dự án "Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp" đây là dự án xuất phát từyêu cầu cấp bách đối với nước ta sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng đã đượcban hành (năm 1991) [24], mục tiêu của dự án là tìm hiểu học tập và hợp tác đểtìm ra các giải pháp chiến lược thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển ngànhlâm nghiệp, trong điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam

Đề tài "Định hướng và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộinông thôn miền núi" tác giả Trần Thanh Bình đã đưa ra một số khuyến nghịnhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi [47]

Đề tài "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng chínhsách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các hộ gia đình nông dân" củanhóm tác giả Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn [47] [48] được thực hiệnvới các mục tiêu:

- Nghiên cứu, phân tích các cơ sở lý luận vào cơ sở thực tiễn của việc xâydựng hệ thống chính sách, chế độ quản lý và khuyến khích phát triển rừng chocác hộ gia đình nông dân

- Trên cơ sở tổng kết đánh giá hệ thống chính sách, chế độ hiện hành,bước đầu đề xuất các khuyến nghị về việc hoàn thiện hệ thống chế độ, chínhsách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các hộ gia đình nông dân [48]

Đề tài "Những định hướng và giải pháp bước đầu nhằm đổi mới giao đấtgiao rừng ở miền núi", tác giả Nguyễn Đình Tư đã xem xét phân tích quá trìnhgiao đất giao rừng từ năm 1968 - 1992, đã góp phần đánh giá được thực trạngrừng và đất rừng sau khi được giao Đề tài đã đưa ra được những định hướng và

Trang 19

Công trình "Tăng cường công tác giao đất lâm nghiệp và khuyến khíchtrồng rừng trên đất được giao", của tác giả Đoàn Diễm đã đưa ra những tồn tạitrong việc qui hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp, đưa ra những kiến nghị

đẩy nhanh tiến độ qui hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong thời giantới

Một trong những dự án lớn nhất về lâm nghiệp cộng đồng có lẽ phải kể tới

Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà Bắt đầu vào năm 1993, bên cạnhnhững điểm hạn chế, cho tới nay dự án đã thu được những thành công và nhữngbài học kinh nghiệm quý báu Dự án này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụngrừng" hơn là với các đơn vị quản lý hành chính lâm nghiệp Tại những nơi ngườiH'Mông sinh sống thì "nhóm sử dụng rừng" cũng chính là "nhóm bảo vệ rừng"

và đó cũng chính là "cấp" để dự án can thiệp Trong khi đó, nơi người Thái sinhsống thì "nhóm bảo vệ rừng" không đại diện cho "nhóm sử dụng rừng" và ở đónhững can thiệp của dự án tập trung vào cấp bản, bắt đầu bằng những hoạt động

ký hợp đồng bảo vệ rừng cho cả bản Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổchức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau

đó tiến hành lập những "nhóm bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân bản xây dựng nhữngquy chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng củacộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát củadân bản tránh sự phá hoại rừng từ những bản bên cạnh Củng cố tổ chức cấpthôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo Những Ban quản lý thôn bản mà ítnhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được thiết lậpkhi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản hàng năm Trong quá trình xâydựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để giới thiệu và tăng cường thựcthi quản lý Lâm nghiệp cộng đồng đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địaphương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực

Trang 20

Nhìn chung, quản lý tài nguyên rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng làmột vấn đề tổng hợp và phục thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách củatừng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một môhình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻnhững bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiếttrong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay.

Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinhnghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng [52]

Trang 21

CHƯƠNG 2 Mục tiêu, đối tượng nội dung

và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung:

Góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng và nâng cao chất lượng cuộcsống người dân ở Ea Sô huyện Eakar Đaklak

Mục tiêu cụ thể:

Xác định được thực trạng quản lý tài nguyên rừng ở địa phương và sựtham của cộng đồng

Xác định được những nhân tố cản trở hoặc thúc đẩy sự tham gia của ngườidân vào quản lý tài nguyên rừng ở địa phương

Đề xuất được một số giải pháp lôi cuốn cộng đồng vào quản lý hiệu quảtài nguyên rừng

Giới hạn của đề tài:

Về đối tượng, đề tài chọn địa điểm nghiên cứu là xã Ea Sô huyện Ea Kartỉnh Đaklak Bởi vì vùng đệm và hành lang vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên

Ea Sô được quy hoạch với diện tích 34.981 ha nằm trên địa bàn của 3 tỉnh GiaLai, Phú Yên, Đaklak nhưng vùng đệm chủ yếu Khu BTTN Ea Sô là xã Ea Sôvới diện tích 6673 ha, diện tích còn lại xem hành lang giảm áp lực vào khu bảotồn [6]

Về nội dung nghiên cứu, trong khuôn khổ giới hạn của thời gian và điềukiện nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào phân tích thực trạng quản lý rừng,những nguyên nhân và giải pháp cho nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng

mà không xác định những biện pháp kỹ thuật cụ thể hay những điều khoản chi

Trang 22

tiết của các chính sách kinh tế xã hội cho quản lý rừng Kết quả chính của luậnvăn sẽ là những những giải pháp định hướng cho việc tăng cường năng lực và lôicuốn cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng, hình thành môitrường thuận lợi cho phát triển phương thức quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng.

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

2.2.1.1 Vị trí địa lý: Ea Sô là một xã vùng III miền núi nằm ở phía Đông

Bắc của huyện Ea Kar cách trung tâm huyện 15 Km

- Có toạ độ địa lý: Từ 12049’ 30’’đến 13002’12’’độ vĩ Bắc, từ 108028’

48’’đến 108043’54’’độ kinh Đông

- Có ranh giới phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông Bắc giáp tỉnhPhú Yên, phía Đông Nam giáp huyện MaDrak và xã Ea Tih huyện Ea Kar, phíaTây giáp huyện Krông Năng và xã Xuân Phú huyện Ea Kar, phía Nam giáp xã

Ea Đar, thị trấn Ea Knốp, thị trấn Ea Kar huyện Ea Kar,

- Xã Ea Sô có diện tích tự nhiên 34.473 ha được chia thành hai khuvực: Khu vực phía Bắc là khu BTTN Ea Sô với diện tích 27.800ha nằm gọn trong

địa bàn hành chính của xã Ea Sô, khu vực phía Nam là vùng đệm chủ yếu củakhu BTTN Ea Sô với diện tích 6.673 ha

2.2.1.2 Địa hình địa mạo:

Khu vực cao nhất ở phía Tây ( đỉnh Cư Ble 1014- 1046 m ) và nhiều đỉnhnối tiếp nhau thoái dần về hướng Đông, thấp nhất là các giải đất ven suối EaPuich ( 140m ) Suối Ea Puich đã chia khu vực thành hai phần khác biệt nhau về

địa hình, địa mạo:

- Phía Bắc suối Ea Puich là các dãy núi liên tiếp thấp dần từ Tây sang

Đông, địa hình chia cắt mạnh với các đồi núi lượn sóng độ dốc từ 100– 250.

Trang 23

- Phía Nam suối Ea Puich là những khu vực tương đối bằng phẳng, có độcao bình quân 300m và thấp dần về hai sông Krông Năng và suối Ea Puich.Trong khu vực này thỉnh thoảng nhô lên các đồi có độ cao gần 400m như CưTrêăng ( 387m ).

Địa hình đa dạng đã tạo ra nhiều sinh cảnh đặc sắc, trong đó có sinh cảnh

đồng cỏ xen lẫn trảng cây bụi, sinh cảnh rừng tự nhiên ven sông suối, và sinhcảnh rừng tự nhiên trên núi cao Với các sinh cảnh như vậy Ea Sô đã trở thànhmột trong những khu vực có tổ thành thực vật phong phú và là nơi cư trú củanhiều loài động vật khác nhau

2.2.1.3 Khí hậu thuỷ văn:

Khí hậu:

Do phân bố sát phía Tây của dãy Trường sơn nên khí hậu của Ea Sô cónhiều đặc điểm khác với Buôn Ma Thuột, mặc dù có cùng độ cao tuyệt đối EaSô chịu chi phối của kiểu khí hậu chuyển tiếp giữa cao nguyên và duyên hảimiền Trung nên mùa mưa thường đến muộn và kéo dài hơn so với Buôn MaThuột Nhìn chung khí hậu của Ea Sô vẫn mang những nét chung của khí hậunhiệt đới ẩm gió mùa, tổng nhiệt độ trung bình năm 8400-8500 0 C, nhiệt độtrung bình năm 23-240C Nhiệt độ tháng nóng nhất (IV) khoảng 25-260 C, thánglạnh nhất ( I ) khoảng 19 – 200 C, nên mùa hè ở đây nóng, hầu như không cóbiểu hiện mùa đông Nhiệt độ tối cao 36, 50C và tối thấp 11, 60C Biên độ nhiệtngày đêm 8-100C Độ ẩm không khí trung bình vào khoảng 80 – 90%

Trong một năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng

12, lượng mưa trung bình 2200-2300 mm, tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng

10 – 12 lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa chiếm đến 90 – 92 % lượngmưa Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 4, theo kinh nghiệm của các nhà khítượng thuỷ văn Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc, Nguyễn Viết Phổ nếu lượng

Trang 24

mưa trung bình tháng < 100 mm Nếu xác định chỉ số khô hạn theo Thái VănTrừng thì X= 2.0.0 thì Ea sô chỉ có 2 tháng khô ( xem phụ biểu 1).

Hệ thống sông suối phân bố khắp trong vùng, kể cả khu núi cao đến vùngbằng phẳng phía Nam, cùng với hệ thống đầm lầy, hồ tự nhiên nhỏ có nguồnnước phong phú quanh năm đã tạo điều kiện cho việc quần cư của nhiều loài

động thực vật

Hệ thống sông suối và thảm thực vật Ea Sô có vai trò rất quan trọng trongviệc điều hòa nguồn nước và hạn chế lũ lụt cho vùng hạ lưu sông Ba tỉnh PhúYên Do vậy việc bảo vệ và phát triển các khu rừng ven sông suối trong khu vực

là một nhiệm vụ rất cấp thiết

Trang 25

2.2.1.4 Tài nguyên đất

2.2.1.4.1 Đất đai thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra của Khoa Nông Lâm nghiệp Trường Đại học Tâynguyên năm 1998 trên địa bàn xã Ea Sô có 4 loại đất chính:

- Đất xám trên đá cát và đá Granit (Xa ) có diện tích 18.711 ha chiếm

54, 3 % Loại đất này phân bố chủ yếu ở phía Nam suối Ea Puich, vùng đấttương đối bằng phẳng được che phủ bởi các thảm cỏ cây bụi Tầng đất mỏngphân bố trên độ dốc 3-80, đất có màu xám, có tầng kế tiếp màu xám hơi vàng,kết cấu rời kém bền vững, thành phần cơ giới thịt nhẹ, khả năng giữ nước của đấtkém, do đó mùa khô mất nước trở nên khô hạn, mùa mưa đất bị bào mòn rửa trôimạnh nên đất nghèo dinh dưỡng

- Đất đỏ vàng trên đá Granit ( Fa ) có diện tích 14.524 ha chiếm 42,1%.Loại đất này phân bố chủ yếu phía Bắc suối Ea Puich, trên các dãy đồi lượnsóng, được che phủ bởi các kiểu rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá ở độdốc cao có tầng đất mỏng ( độ dốc trên 150), có màu vàng và đỏ vàng, thànhphần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, kết cấu viên cục nhỏ kém bền vững, khảnăng thấm nước tốt nhưng giữ nước kém dẫn đến mùa khô bị hạn, dinh dưỡng

đất thuộc loại nghèo đến trung bình

- Đất vàng đỏ trên đá phiến sét ( Fs ) có diện tích 1144 ha chiếm 3,3% phân bố ở đồi có độ dốc cao, tầng đất mỏng, có một số tính chất tương tựnhư đất đỏ vàng trên Granit, đất nghèo dinh dưỡng

- Đất phù sa sông suối ( Py ) có diện tích 94 ha chiếm 0, 3 % phân bốchủ yếu ven sông Ea Krông Năng

Trang 26

Biểu 2.1: Diện tích các loại đất xã Ea Sô

2.2.1.4.2 Cơ cấu đất đai của xã

Theo số liệu thống kê của UBND xã Ea Sô vào tháng 12 năm 2001 thì cơcấu sử dụng đất của xã như sau

Biểu 2.2 Hiện trạng các loại đất đai theo mục đích sử dụng ở Ea Sô

Trang 27

2.3 Đất trống có cây rải rác (IC) 7826.7 22.70

Qua số liệu trên cho thấy xã Ea Sô có diện tích tự nhiên tương đối rộng,diện tích đất lâm nghiệp chiếm 88, 22% tổng diện tích tự nhiên, bình quân 5 ha

đất lâm nghiệp / người Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ 6.58% so vớitổng diện tích tự nhiên, bình quân 0, 38 ha đất nông nghiệp/ người Ea Sô thật sự

là vùng đất rộng người thưa đang có sẳn những điều kiện thuận lợi và tiềm ẩnnhiều khả năng để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp

2.2.1.5 Tài nguyên sinh vật.

2.2.1.5.1 Thảm thực vật rừng:

Với đặc trưng đa dạng về địa hình, khí hậu, thuỷ văn Ea Sô có hầu hết cáckiểu thảm thực vật đặc trưng cho Tây nguyên và khu vực duyên hải miền Trung:

- Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới

- Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới

- Rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới ( rừng khộp )

Trang 28

Trong khu BTTN Ea Sô diện tích có rừng 14580 ha, với độ che phủ 52%,còn lại 48% diện tích đồng cỏ Tỷ lệ này rất thích hợp cho việc bảo tồn các loài

động vật hoang dã, phần đồng cỏ cung cấp thức ăn, diện tích có rừng là nơi trú

ẩn cho các loài động vật

Trong vùng đệm xã Ea Sô diện tích có rừng 339, 3ha, diện tích đồng cỏ

2729 ha Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi, trồng rừng phòng hộtạo hành lang làm giảm áp lực tác động vào khu bảo tồn

Như vậy ở khu vực Ea Sô đã có một số kiểu rừng đại diện cho rừng nhiệt

đới và ở trong các kiểu rừng này có những đặc trưng khác với những khu vựckhác như rừng Căm xe, Bằng lăng, Lành ngạnh, Cẩm liên, Giáng hương gần nhưthuần loài

ở trảng cỏ có nhiều loài cỏ có giá trị chăn nuôi là nguồn thức ăn cho cáclòai động vật rừng

2.2.1.5.2 Tài nguyên diện tích, trữ lượng rừng:

Theo kết quả kiểm kê rừng năm 2000 xã Ea Sô được phân chia thành 33Tiểu khu với tổng diện tích tự nhiên 34.447 ha trong đó diện tích có rừng tựnhiên 14.919, 9 ha với tổng trữ lượng gỗ 1.719.853 m3, trữ lượng bình quân115m3/ ha [51]

Trong khu vực có 5155ha có trạng thái IIIA3, III A2, diện tích rừng này íthoặc chưa bị tác động, còn giữ nguyên các đặc trưng sinh thái cấu trúc Đây làcác mô hình mẫu chuẩn tự nhiên rất tốt, có tổ thành loài phong phú, trữ lượngcao trên 300m3 /ha, nên cần có biện pháp bảo tồn để nghiên cứu, học tập và bảo

vệ đa dạng sinh học

Trang 29

2.2.1.5.3 Tài nguyên thực vật:

Theo kết quả nghiên cứu của Th.S Nguyễn Đức Định khoa Nông Lâmnghiệp Trường Đại học Tây Nguyên ( 1998 ) Ea Sô có 4 ngành thực vật với sốlượng như sau [6]:

- Ngành Thông đất ( Li copdiophyta ) : 4 loài, 2họ

Một số họ có số lượng loài rất ít nhưng số cá thể gặp nhiều như họ Lànhngạnh ( Hypericaceae ) 2 loài, họ Chiếc ( Lecythidaceae ) 3 loài, họ Tung (Datiscaceae ) 1 loài

Trong danh lục thực vật Ea Sô có 14 loài được sách đỏ đề cập đến ở cácmức độ khác nhau, từ không biết chính xác (K) đến sẽ nguy cấp (V) Đặc biệtchú ý đến những loài được sách đỏ ghi là sẽ nguy cấp (V), trong đó có các loài:

Gõ đỏ ( Afzelia xylocarpa ), Cẩm lai Bà rịa ( Dalbergia bariaensis ), Cẩm lai vú

(Dalbergia mamosa ), Trắc (Dalbergia cochinchinensis ).v.v

Về cây thuốc, dựa vào những tài liệu về cây thuốc và điều tra một số kinhnghiệm của nhân dân, kết quả cho thấy số lượng cây thuốc trong khu rừng Ea Sôkhá lớn, khoảng 163 loài, chiếm 23% số loài có mặt Các loài cây thuốc thườngtập trung ở các họ như: Họ Gừng, Họ Cúc, Họ Mã tiền, Họ Đinh lăng v.v Nổi

Trang 30

bật là các loài như: Sa nhân, Địa liền, Mã tiền, Ngũ gia bì, củ mài, Ba gạc, Thổphục linh, Kỳ nam kiến v.v Đây là những loài có giá trị cao đối với ngànhdược liệu của nước ta.

Ngoài ra có những loài có khả năng trồng làm cảnh đẹp và có giá trị caonhư các loài trong họ Phong lan ( Orchidaceae), đặc biệt như loài: Giả hạc, Ngọc

điểm, Giáng hương, ý thảo v.v cho hoa đẹp, hiện còn nhiều trong khu vực mànhững nơi khác khó gặp Ngoài họ Phong lan còn có một số cây thuộc các họkhác có thể trồng làm cảnh đẹp như loài Mía dò ( họ Gừng ), các loài trong chiFicus của họ Dâu tằm v.v Một số cây gỗ hoặc dây leo thân thảo cho hoa đẹpnhư: Muồng hoa đào, Móng bò tía, Móng bò trắng ( họ Vang ), Bằng lăng tím (

họ Tử vi ) v.v

Ngoài một số loài được sách đỏ ghi nhận, trong khu vực Ea Sô có thể gặpnhững loài khác có giá trị kinh tế cao như cho gỗ: Sao đen, Trâm các loại, Cẩmliên, Bằng lăng, Căm xe v.v Các loài cỏ có giá trị về chăn nuôi và là nguồnthức ăn cho động vật rừng như: Cỏ tranh, Cỏ Chỉ, Cỏ bông lau, Sặt, Cỏ đuôichồn, Cỏ mần trầu v.v

Ea Sô có khu hệ thực vật phong phú về số lượng loài và số lượng cá thểtrong loài, nó có các kiểu rừng tương đối đặc trưng cho rừng nhiệt đới ( 4 kiểurừng ) Các kiểu rừng này có giá trị kinh tế và sinh thái cao, chứa đựng trong nónhững nguồn gien quý hiếm Mặc dù số lượng loài quý hiếm không nhiều nhưng

số lượng cá thể của loài khá cao Đây là một điểm thuận lợi cho việc bảo tồnthiên nhiên Với các kiểu rừng này là nơi trú ngụ và nuôi dưỡng nhiều loài độngvật rừng làm phong phú hệ động vật của khu bảo tồn ( xem thêm ở phần phụbiểu 10 )

Trang 31

2.2.1.5.4 Tài nguyên động vật

Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của Giáo sư Đặng Huy Huỳnh Viện sinhthái & tài nguyên sinh vật (1998 ) về tài nguyên động vật tại khu vực rừng Ea Sônhư sau:

 Đánh giá giá trị khoa học của khu hệ thú ở Ea Sô:

Trong 44 loài thú có ở khu vực rừng Ea Sô thì có 17 loài thú thuộc diện

Trang 32

1- Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus, bậc V.

2- Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides, bậc V

3- Khỉ đuôi lợn Macaca nemestrina, bậc V

4- Voọc vá Pygathri nemaeus, bậc E

5- Vượn đen Hylobates concolor, bậc E

6- Sói đỏ Cuon alpinus, bậc E

7- Gấu chó Ursus malayanus, bậc E

8- Gấu ngựa Ursus thibetanus, bậc E

9- Beo lửa Felis temmincki, bậc V

10- Hổ Panthera tigris, bậc E

11- Voi Elaphas maximus, bậc V

12- Cheo cheo Tragulus javanicus, bậc V

13- Hươu vàng Cervus porcinus, bậc E

14- Hoẵng Muntiacus muntjak, bậc V

15- Bò tót Bos gaurus, bậc E

16- Bò rừng Bos banteng, bậc V

17- Rái cá lông mượt Lutra perspicillata, bậc V

Theo kết luận của Đặng Huy Huỳnh, số lượng cá thể của loài bò rừng và

bò tót ở khu vực Ea Sô có thể nói là cao nhất ở khu vực Tây nguyên ( xem thêm

ở phần phụ biểu 11 )

b) Về chim:

Kết quả thống kê đã phát hiện ở khu vực có 158 loài chim thuộc 51 họtrong 15 bộ, trong đó có 9 loài đã được ghi trong sách đỏ Việt nam là những loàiquý hiếm cần phải được bảo vệ ở nước ta:

1-Gà lôi trắng Lophura nycthemera, bậc T

Trang 33

3-Công Pavo muticus, bậc R.

4-Sả mỏ rộng pelagrgops capensis, bậc T

5-Hồng hoàng Buceros bicornis, bậc T

6-Mỏ rộng đen Corydon sumatranus, bậc R

7-Đuôi cụt bụng vằn Pitta elliotii, bậc T

8-Trèo cây trán đen Sitta frontalis, bậc T

2-Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, bậc T

3-Rồng đất Physingathus cocinenus, bậc V

4-Kỳ đà vân Varanus nebulosus, bậc V

5-Kỳ đà hoa Varanus salvator, bậc V

6-Trăn đất Python molurus, bậc V

7-Rắn ráo Ptyas ptyas, bậc T

8-Rắn cạp nong Bungarus fasciatus, bậc T

9-Rắn ráo trâu Ptyas mucosus, bậc V

10-Rắn hổ mang Naja naja, bậc T

11-Rùa núi vàng Indotestudo elongata, bậc V

( xem thêm ở phần phụ biểu 13 )

Trang 34

2.2.1.6 Tài nguyên cảnh quan

Ea sô là một trong những nơi có cảnh quan đặc sắc của tỉnh Đaklak Vớikiến tạo địa hình từ đơn giản đến phức tạp, độ cao nâng dần từ 200-1000 m, với

sự phân bố xen kẽ, hài hoà của các cánh đồng cỏ mênh mông xen lẫn với những

đám rừng ven sông suối, những dãy núi phủ kín rừng Ea Sô tạo nên một cảnhquan thiên nhiên thơ mộng Ngoài ý nghĩa về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệmôi trường, khu Ea sô thực sự là một thắng cảnh tự nhiên hoang dã có giá trịthẩm mỹ cao, một địa điểm lý tưởng cho việc tham quan, du lịch sinh thái vànghiên cứu khoa học

2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.2.1 Lịch sử hình thành xã Ea Sô

Người dân và cán bộ địa phương cho biết trước năm 1945 khu vực Ea Sô

đã có các buôn của dân tộc Ê Đê sinh sống

Thời kỳ từ năm 1945 đến 1954, dưới sự cai trị của Pháp khu vực Ea Sô có

8 buôn: Buôn Bra, Buôn Mlê, Buôn Trang, Buôn Hoanh, Buôn Tưng, Buôn Sú,Buôn Dul, Buôn Năng Ví với dân số khoảng 800 người Năm 1947 Pháp thànhlập đồn quân sự tại Buôn Bra và liên tục đàn áp, khủng bố nhân dân ta Năm

1951 Pháp đưa máy bay ném bom phá huỷ nhiều buôn làng và giết hại nhiềungười Chúng đã cưỡng bức, dồn dân vào những khu định cư mới để dễ quản lý

và bóc lột Chúng đưa dân vào các đồn điền Cao su, Cà phê, Chè ở Km52, Buôn

Hồ, Km3 để làm thuê cho bọn chúng

Thời kỳ từ năm1951 - 1975 khu vực Ea Sô hầu như không có dân định cưsinh sống Chỉ có vài khu vực rừng gần xã Ea Đar được người dân canh tácnương rẫy, nhưng diện tích không lớn

Trang 35

Sau năm 1975 khi đất nước được thống nhất dân các buôn làng bắt đầu vềkhu vực Ea Sô để canh tác nương rẫy, nhưng vẫn tiếp tục du canh du cư, nơi ởchưa ổn định.

Năm 1989 đồng bào các dân tộc phía bắc (Tày, Nùng, Dao v.v ) di dânvào Ea Sô thành lập 2 điểm dân cư mới có tên là Thôn Đoàn kết 1, Đoàn kết 2khoảng 60 hộ dân Từ năm 1991 đến nay tình hình di dân diễn biến khá phứctạp Dân số tăng nhanh, chủ yếu là tăng cơ học do di dân ở các tỉnh phía Bắcchuyển vào với số lượng lớn

Tháng 9- 1994 Xã Ea Sô chính thức được thành lập, trong xã có 10 thôn.Trước đây địa bàn hành chính Ea Sô trực thuộc xã Ea Đar Năm 1998 thực hiệnquyết định 364 / CP, xã Ea Sô đã tách 2 thôn ( Thôn 6, Thôn 7 ) nhập vào xãXuân Phú Năm 2002 trên địa bàn hành chính xã có 15 thôn

Nhìn chung Ea Sô là một xã nghèo thuần nông, kinh tế chưa phát triển,cần sự đầu tư của Nhà nước về xây dựng cơ sở hạ tầng, về vốn, kỹ thuật canhtác

2.2.2.2 Dân số và lao động

Theo số liệu thống kê tháng 6-2002, tình hình dân số và lao động xã EaSô như sau: Tổng số hộ 1446 hộ với 6016 nhân khẩu, bình quân 4, 1 người/ hộ,trong đó nam là 3223 người chiếm 53.6%, nữ 2793 người chiếm 46, 4%

Tổng số lao động 3941 người chiếm 65% tổng số dân, trong đó lao độngnông lâm nghiệp 3862 lao động chiếm 98%, nghề khác 79 lao động chiếm 2%.Tiềm năng lao động của xã là rất lớn( xem phụ biểu 2 ).

Thành phần dân tộc: Ea sô là một xã vùng III miền núi đồng thời cũng là

điểm di dân kinh tế mới nên thành phần dân tộc trong xã rất đa dạng Trongvùng có 9 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó:

Dân tộc Kinh 2718 người chiếm 45, 2 % dân số

Trang 36

2.2.2.3 Văn hoá và xã hội:

a)Về giáo dục

Năm học 2001-2002 cả xã chỉ có một trường cấp I, II với tổng số 970 họcsinh trong đó:

- Khối mẫu giáo có 7 lớp với 155 cháu

- Khối cấp I có 22 với 690 học sinh

- Khối cấp II có 3 lớp 6 với 125 học sinh

Nhìn chung cơ sở vật chất trường học còn nghèo nàn và thiếu thốn, thiếuphòng học, thiếu giáo viên, có nơi còn tổ chức học ghép các lớp, học sinh dântộc nhiều, giáo viên người dân tộc ít nên việc giáo dục về ngôn ngữ gặp nhiềukhó khăn chất lượng giáo dục chưa cao

Phân tích phụ biểu 4 cho thấy trình độ văn hóa của người dân trong xã

tương đối thấp Số người có trình độ cấp I khá cao, tính trung bình toàn xã có 46,

7 %, tỷ lệ số người có trình độ cấp II giảm hẳn so với cấp I, trung bình toàn xãchỉ còn 29, 9%, tỷ lệ số người có trình độ cấp III rất thấp trung bình toàn xã chỉ

có 7, 1% Tỷ lệ mù chữ 6, 7%, số trẻ em trong độ tuổi ( 6-14 tuổi ) chưa đến

Trang 37

đây là điều kiện không thuận lợi trong việc tiếp thu các kiến thức về khoa học kỹthuật.

b) Về y tế

Xã có một Trạm y tế với 5 giường bệnh, có 5 nhân viên gồm 1 bác sỹ, 2 y

sỹ, 2y tá Trạm y tế xã thường xuyên bảo vệ chăm sóc sức khoẻ và khám chữabệnh cho nhân dân Tuyên truyền vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh ăn uống, vệsinh môi trường.Thực hiện đầy đủ và đạt kết quả các chương trình y tế quốc gia

về tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng định kỳ cho trẻ em, phụ nữ trong độ tuổi

c)Công tác dân số, kế họach hóa gia đình và trẻ em

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền lồng ghép dịch vụ kế họach hóa gia đìnhphấn đấu hạ tỷ lệ tăng dân số xuống dưới 2, 8% vào cuối năm 2002 Nhìn chungtheo đánh giá của Ban dân số và kế hoạch hoá gia đình Ea Sô đã thực hiện tốtLuật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

2.2.2.4 Cơ sở hạ tầng

a) Về giao thông: Ea Sô có đường quốc lộ 26B chạy từ Phú Yên lên

Đaklak mới được xây dựng năm 2001 đi ngang qua địa phận xã có chiều dài25Km, Đường liên thôn đi lại trong xã tương đối thuận tiện Đây cũng là một

điều kiên thuận lợi để phát triển kinh tế của các thôn trong xã Tuy nhiên, đườngquốc lộ đi ngang khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô trên 15Km, đây là một trở lựclớn trong công tác quản lý bảo vệ rừng Việc xây dựng đường đi ngang KBTTN

Ea Sô đã chia cắt các hệ sinh thái, phá vở cảnh quan môi trường sống của cácloài động vật hoang dã

b)Về thuỷ lợi: Nhà nước đang đầu tư 1,3 tỷ đồng xây dựng một công

trình thuỷ lợi nhỏ có khả năng tưới tiêu 50ha ruộng nước Hiện tại đã làm xongphần đập, khả năng năm 2003 đưa vào sử dụng

Trang 38

c) Về điện: Nhà nước đang đầu tư kéo đường dây điện về đến trung tâm

xã cuối năm 2002 khoảng 50% số thôn trong xã có điện lưới quốc gia

d)Về chợ: Đã quy hoạch chợ trung tâm xã và đã xây dựng 200m2 nhà chợ.Hiện tại có khoảng 10 hộ kinh doanh các mặt hàng nhu yếu phẩm và thu muacác loại nông sản

2.2.2.5 Cơ cấu kinh tế

a) Về trồng trọt:

Về cơ cấu cây trồng khá da dạng, vừa để phục vụ tại chổ, vừa bán lấy tiền

để nâng cao đời sống, người dân đã tận dụng hầu hết các diện tích đất có thểcanh tác để trồng cây nông nghiệp Tổng diện tích gieo trồng của xã năm 2001

là 2267.4 ha, tổng sản lượng lương thực quy thóc 5533 tấn bình quân lương thực

đầu người 280kg/người/năm.Thu nhập từ trồng trọt bình quân trên nhân khẩucủa xã đạt 1,3 triệuđồng /người / năm ( xem phụ biểu 5 )

b) Về chăn nuôi:

Theo tập quán truyền thống, với nền sản xuất tự túc tự cấp, người dân cácdân tộc bản địa chỉ chăn nuôi một số con vật như trâu, bò, heo gà với các giốngbản địa tuy nhỏ con, chậm lớn nhưng có khả năng thích nghi với điều kiện môitrường Số lượng vật nuôi của các hộ rất ít, chủ yếu phục vụ cho nghi thức cúng

tế và sinh hoạt hằng ngày

Trong những năm gần đây nhờ có các hoạt động khuyến nông chuyểngiao kỹ thuật tình hình chăn nuôi đã có những thay đổi trong nhận thức Ngườidân đã biết chọn những giống vật nuôi có năng suất cao theo hướng sản xuấthàng hoá và đặt biệt đã có nhiều hộ nuôi trâu bò để lấy sức kéo Số lượng giasúc, gia cầm trên địa bàn xã theo số liệu báo cáo của UBND xã năm 2001nhưsau:

Trang 39

- Bò : 471 con

- heo : 1.439 con

- Gia cầm : 23.346 conCác loài vật nuôi đã góp một phần không nhỏ cho thu nhập của các hộ gia

đình Tổng thu nhập từ chăn nuôi của xã Ea Sô đạt 2643 triệu đồng/năm, bìnhquân đạt 430.000 đồng/người/năm Trong vùng đệm khu Ea Sô diện tích đấttrống với các trạng thái IA, IB IC chưa sử dụng còn tương đối lớn, đây là điềukiện thuận lợi đề phát triển chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên, nhiều gia đìnhkhông chăn nuôi gia súc Khi trả lời phỏng vấn phần lớn đều cho rằng nguyênnhân chủ yếu là không có tiền để mua giống vật nuôi

c) Lâm nghiệp:

Theo truyền thống, cuộc sống của các dân tộc thiểu số miền núi phụ thuộcrất nhiều vào rừng sử dụng rất nhiều chủng loại sản phẩm từ rừng để ăn, làmnhà, phục vụ sinh hoạt hằng ngày và làm thuốc Khi được phỏng vấn những dân

địa phương đều cho biết vì không được phép khai thác nên thu nhập từ lâmnghiệp của người dân xã Ea Sô hầu như không đáng kể, chủ yếu là những sảnphẩm phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình

d) Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:

Trong xã có một số lò rèn để chế tạo và sửa chửa công cụ sản xuất Một

số hộ có máy xay xát lúa, bắp, cà phê giúp người phụ nữ giảm bớt gánh nặngtrong công việc gia đình Ngoài ra có một số hộ làm nghề mộc phục vụ chongười dân trên địa bàn xã.Về mặt dịch vụ ngoài khu vực chợ trung tâm trong cácthôn đều có những hộ buôn bán nhỏ, đáp ứng những mặt hàng tiêu dùng hằngngày cho người dân và thu mua các loại hàng hoá khi người dân có nhu cầu bán

Tóm lại do vị trí địa lý, nguồn tài nguyên và hoàn cảnh kinh tế nên ngànhtiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn xã chưa có điều kiện phát triển

Trang 40

Hiện tại chỉ có một số hoạt động phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu tại chổcủa người dân.

e) Kinh tế nông hộ

Ea Sô là một xã thuần nông Thu nhập từ nông nghiệp chiếm khoảng 90

% tổng thu nhập của xã Ngoài sản xuất nông nghiệp, người nghèo còn có thêmthu nhập từ làm thuê theo thời vụ cho các hộ có nhu cầu Số hộ có thu nhập từcác nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ rất thấp

Trong năm 2001, 2002 do thời tiết thay đổi bất thường hạn hán liên tụccác loại cây trồng trong các vụ gieo trồng chính bị thất thu Mặt khác đa sốngười dân thiếu vốn sản xuất, khả năng đầu tư thấp, tiếp thu khoa học kỹ thuậtchậm v.v vì thế đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn

Tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ của các thôn như sau:

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để phù hợp với mục tiêu đã đặt ra, đề tài tiến hành một số nội dungnghiên cứu sau:

Ngày đăng: 12/04/2022, 08:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w