1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu sự đa dạng các loài bò sát (rreptilia) và ếch nhái (amphibia) tại khu dự trữ thiên nhiên động châu khe nước trong​

103 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (13)
  • Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (15)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (15)
      • 2.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn (15)
      • 2.1.3. Địa hình và địa chất (16)
      • 2.1.4. Thảm thực vật rừng (17)
      • 2.1.5. Khu hệ động vật (18)
    • 2.2. Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội (19)
      • 2.2.1. Đặc điểm dân số và dân tộc (19)
      • 2.2.2. Đặc điểm kinh tế (19)
      • 2.2.3. Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng (20)
  • Chương 3. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
    • 3.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu (21)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 3.4.1. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (22)
      • 3.4.2. Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN (24)
      • 3.4.3. So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực (26)
      • 3.4.4. Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái (27)
      • 3.4.5. Đánh giá tình trạng bảo tồn (28)
      • 3.4.6. Xác định các mối đe dọa (28)
      • 3.4.7. Đề xuất các giải pháp ưu tiên bảo tồn (28)
    • 3.5. Tư liệu nghiên cứu (28)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (30)
    • 4.1. Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1. Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước (30)
      • 4.1.2. Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước (33)
    • 4.2. Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong (36)
      • 4.2.1. Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC (36)
      • 4.2.2. Đặc điểm hình thái các loài Ếch nhái ghi nhận mới cho KVNC (47)
    • 4.3. Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (54)
      • 4.3.1. Phân bố các loài bò sát theo đai cao (54)
      • 4.3.2. Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh (56)
    • 4.4. So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam (58)
    • 4.5 Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa (60)
      • 4.5.1. Đánh giá tình trạng bảo tồn (60)
      • 4.5.2. Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (62)
      • 4.5.3. Các nhân tố đe dọa (66)
      • 4.5.4. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn (68)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ VĂN NGOẠN NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI BÒ SÁT REPTILIA VÀ ẾCH NHÁI AMPHIBIA TẠI KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN ĐỘNG CHÂU - KHE NƯỚC TRONG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp, tạo nên đa dạng sinh cảnh ở đồng bằng, trung du và vùng núi Điều kiện này cung cấp môi trường sống phong phú và thuận lợi cho sự phát triển của động vật nói chung, đặc biệt là ếch nhái và bò sát.

Nỗ lực nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:

Công trình công bố lần đầu về bò sát và lưỡng cư ở Việt Nam gắn liền với cuốn Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, một tác phẩm cổ có ghi nhận các vị thuốc được làm từ các loài bò sát và lưỡng cư Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972, giúp cho giới nghiên cứu và độc giả Việt Nam tiếp cận nguồn kiến thức y học cổ truyền liên quan đến động vật lưỡng cư và bò sát, từ đó mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo về cổ sinh học và y học dân gian ở nước ta.

Giai đoạn trước năm 1945, đã có một số nhà khoa học nước ngoài đến Đông Dương, trong đó có Việt Nam, nghiên cứu bò sát và lưỡng cư Thời kỳ này xuất hiện hàng loạt sách chuyên khảo ghi nhận sự đa dạng và đặc điểm của hệ động vật khu vực, tiêu biểu với các tác phẩm của Bourret.

Giai đoạn 1954-1975 ghi nhận sự tiến bộ của nghiên cứu bò sát và lưỡng cư ở miền Bắc do các nhà khoa học trong nước thực hiện, nổi bật với Đào Văn Tiến, Trần Kiên và Lê Vũ Khôi Các công trình này công bố thành phần loài và sinh thái của bò sát và lưỡng cư, tạo cơ sở cho nhận thức về sự đa dạng và phân bố của nhóm động vật này tại khu vực miền Bắc Việt Nam, điển hình với công bố của Đào Văn Tiến năm 1957 Những nghiên cứu này đóng góp nền tảng khoa học cho hệ bò sát và lưỡng cư miền Bắc và làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo về sinh thái học, phân loại và bảo tồn.

1962) Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main

Giai đoạn 1975–1996 chứng kiến sự hợp tác giữa các nhà khoa học trong nước và nước ngoài, tập trung nghiên cứu và khám phá đa dạng thành phần loài ở nhiều vùng trên khắp cả nước Nổi bật trong giai đoạn này là loạt công trình định danh loài về bò sát và lưỡng cư của Đào Văn Tiến, được công bố lần lượt vào các năm 1977, 1978, 1979 và 1981, mở ra những đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết về hệ sinh thái Việt Nam.

1982) Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và lưỡng cư đến năm 1996

Giai đoạn từ 1997 đến nay cho thấy vai trò ngày càng lớn của phương pháp sinh học phân tử cùng với hệ thống định loài hình thái truyền thống trong việc phân tích mối quan hệ di truyền và khám phá thêm nhiều loài bò sát và lưỡng cư ở Việt Nam Nhờ sự bổ sung của phân tích di truyền, nhiều loài mới được ghi nhận và cập nhật vào danh sách đa dạng sinh học nước ta Tính đến năm 2005, tổng số loài được ghi nhận là 458 (Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2005), và con số này tăng lên 545 loài vào năm 2009 (Nguyen et al., 2009) Các số liệu thống kê này được tổng hợp từ hai cơ sở dữ liệu toàn cầu về bò sát và ếch nhái, đó là Reptile Database và Amphibian Species of the World.

Theo cơ sở dữ liệu Amphibian Species of the World, tính đến năm 2020 Việt Nam có khoảng 790 loài bò sát và ếch nhái, trong đó 288 loài ếch nhái, 214 loài thằn lằn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu, được ghi nhận bởi Uetz & Hošek (2020) và Forst (2020).

Những kết quả nghiên cứu gần đây về khu hệ ếch nhái và bò sát ở vùng hệ sinh thái núi đá vôi tại Việt Nam cho thấy: Luu et al 2013 đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 bò sát và 50 lưỡng cư), trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình; Ziegler et al 2014 cung cấp danh mục 102 loài (50 lưỡng cư và 52 bò sát), ghi nhận lần đầu cho tỉnh Hà Giang với 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát; Nguyen et al.

2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm

Trong hai năm 2015 và 2016, huyện Hướng Hóa ghi nhận 8 loài mới và tỉnh Quảng Trị ghi nhận 4 loài mới Phạm et al (2017) lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái trong hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng, trong đó ghi nhận 3 loài mới cho tỉnh là Odorrana bacboensis, Odorrana graminea và Rhacophorus maximus.

Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ Nếu trong thời kỳ 1954-1975 chỉ phát hiện được 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976-1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 16 loài (4 loài ếch nhái, 12 loài bò sát), trong giai đoạn từ 1996-2005 số lượng loài mới phát hiện là 57 loài (28 loài ếch nhái, 29 loài bò sát), trong giai đoạn 5 năm gần đây từ 2015-2020 số lượng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 123 loài cho Việt Nam (94 loài ếch nhái và 39 loài bò sát) Một số loài mới được công bố gần đây có thể kể đến: 53 loài BSEN mới được công bố với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam với 33 loài ếch nhái, 20 loài bò sát chẳng hạn như: Cyrtodactylus bobrovi (Nguyen, Le,

Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus Soni( Le,

Nguyen, Le & Ziegler, 2016); Dixonius Minhlei (Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer,

Brennan, Ngo & Nguyen, 2016); Oligodon Condaoensis (Nguyen, Nguyen, Le &

Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler,

2017); Cyrtodactylus Sonlaensis (Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017); Opisthotropis Voquyi (Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018); Parafimbrios Vietnamensis (Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen, Le & Nguyen, 2018); Acanthosaura phongdienensis (Nguyen, Jin, Vo, Nguyen, Zhou, Che, Murphy &

Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019); Scincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler , Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostralis (Nguyen,

Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & Poyarkov, 2020); Rhacophorus vanbanicus

(Kropachev, Orlov, Ninh, and Nguyen, 2019); Megophrys caobangensis (Nguyen,

Pham, Nguyen, Luong, and Ziegler, 2020); Gacixalus trieng (Rowley, Le, Hoang,

Cao, and Dau, 2020); Kurixalus gracilloides (Nguyen, Duong, Luu, and Poyarkov, 2020);

Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al

Trong năm 2016, nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2015–2016 và đã bổ sung cho danh lục của Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá Báo cáo này đã hoàn thiện danh lục với 31 loài bò sát và ếch nhái, thuộc 16 họ của 2 bộ.

Hiện tại nhiều số liệu đã cũ và chưa được cập nhật kịp thời, làm giảm tính chính xác của dữ liệu và ảnh hưởng đến các phân tích nghiên cứu Nhiều loài vẫn thiếu thông tin và dẫn liệu đầy đủ, vì vậy cần tiến hành điều tra bổ sung và cập nhật những số liệu mới nhất để có nguồn tham khảo tin cậy cho các nghiên cứu sau này Việc cập nhật số liệu và bổ sung thông tin về các loài sẽ nâng cao chất lượng nghiên cứu và giúp xây dựng cơ sở dữ liệu tham khảo vững chắc cho các dự án khoa học trong tương lai.

Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Một số nghiên cứu điển hình về bò sát và ếch nhái ở Quảng Bình nổi bật với các công trình tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học; ở đây VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã công bố danh lục bò sát, ếch nhái với 151 loài, trong đó 50 loài lưỡng cư, 12 loài rùa, 31 loài thằn lằn và 58 loài rắn Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây tập trung chủ yếu tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và các khu vực khác chưa được quan tâm đầy đủ Đáng chú ý là KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong mới được điều tra duy nhất một lần vào năm 2015 bởi Phạm Thế Cường và cộng sự, kết quả ghi nhận 67 loài bò sát, ếch nhái tại khu vực Động Châu - Khe Nước Trong (Rừng phòng hộ Động Châu), nhưng phạm vi nghiên cứu chỉ ở một số tiểu khu như 528, 534, 533, 535, do đó cần có thêm nghiên cứu để cập nhật và bổ sung thông tin Từ khi thành lập KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong ngày 25 tháng 6 năm 2020, chưa có nghiên cứu nào về bò sát, ếch nhái tại khu vực này, đây là thông tin để bổ sung cho KVNC về thành phần loài và sự đa dạng của nó.

Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Bình có diện tích rộng và sở hữu sinh cảnh đa dạng phong phú, từ rừng thường xanh đến thủy vực và đồng ruộng, là môi trường phát triển của nhiều loài bò sát và ếch nhái Tuy nhiên, do tác động mạnh mẽ của con người nên quần thể bò sát và ếch nhái tại đây đã chịu nhiều ảnh hưởng; kết quả nghiên cứu thành phần loài tại khu vực sẽ làm cơ sở để xây dựng các giải pháp bảo tồn hiệu quả nhằm khôi phục hệ sinh thái bò sát – ếch nhái và góp phần bảo tồn nguồn gen quý hiếm của khu vực.

Các nghiên cứu nhằm bổ sung thành phân loài, cập nhật hệ thống phân loại, xác định phân bố và đánh giá tình trạng bảo tồn của khu hệ bò sát và ếch nhái trong khu vực là hết sức cần thiết, nhằm cung cấp dữ liệu khoa học cho quản lý đa dạng sinh học và xây dựng chiến lược bảo tồn hiệu quả Từ kết quả này, cần đề xuất các phương pháp bảo tồn cho khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng và cho khu hệ động vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nói chung.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-UNND ngày 25 tháng 6 năm 2020 của chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình thuộc địa giới hành chính xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy; phía Tây giáp với CHDCND Lào, phía Đông giáp với xã Ngân Thủy, phía Bắc giáp với xã Lâm Thủy (huyện Lệ Thủy), phía Nam giáp với Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (tỉnh Quảng Trị) Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong có 22 tiểu khu, với tổng diện tích là 22.595,94 ha.

Có toạ độ địa lý: Từ 16° 55' 19'' đến 17° 4' 55'' vĩ độ bắc

Từ 106° 32' 50'' đến 106° 48' 26'' kinh độ đông

2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông tương đối lạnh Mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến đầu tháng 9, khô hạn gay gắt nhất vào tháng 6 và tháng 7; mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa nhiều nhất vào cuối mùa thu (tháng 10 và 11) Do khu vực này chưa có trạm quan trắc khí tượng tại chỗ, trạm Khe Sanh là trạm gần nhất được tham khảo với điều kiện tương đối phù hợp Theo số liệu quan trắc khí tượng 20 năm tại Khe Sanh, các chỉ tiêu khí tượng trung bình được ghi nhận cho khu vực này.

- Nhiệt độ bình quân năm 22,3 0 C

- Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 0 C vào tháng 6,

- Nhiệt độ bình quân tối thấp 18,1 0 C vào tháng 1,

- Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm,

- Lượng mưa bình quân tháng thấp nhất 18,8 mm vào tháng 2,

- Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10,

Có 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực Gió mùa đông- nam mang theo hơi ẩm và mưa lớn, thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 11 Gió mùa đông- bắc mang theo hơi lạnh và mưa phùn, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Gió mùa tây- nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, thường khô và nóng nên mùa khô bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9

Toàn bộ khu vực là vùng đầu nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang (hai nhánh của sông Nhật Lệ), và là một trong những khu vực sông lớn của tỉnh Quảng Bình Trong phạm vi này hình thành hai hệ sông suối chính là hệ Sa Ram (KNT) và hệ Khe Bang; hệ Sa Ram gồm nhiều nhánh lớn đổ về như Khe Vàng, Khe Bung và suối Sa Ram, trong khi hệ Khe Bang có các nhánh như An Bai, Rào Chân và Khe Bang Các con sông suối ở khu vực thường ngắn, độ dốc lớn và mức xâm thực sâu, nên dễ gây lũ lụt và sạt lở đất, ảnh hưởng tới giao thông và đi lại trong vùng.

2.1.3 Địa hình và địa chất

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong vùng núi thấp với địa hình tương đối dốc Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 500 -

Địa hình khu vực biên giới giữa Quảng Bình, Quảng Trị và Lào dao động từ 120 m đến 1220 m so với mực nước biển Điểm thấp nhất là 120 m, nằm ở ranh giới khu vực Khe Bang; đỉnh cao nhất là 1220 m ở khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị và biên giới Lào Phần lớn các đỉnh núi trong khu vực này cao dưới 1000 m so với mực nước biển.

Vùng núi có độ cao trên 700 m chiếm khoảng 10% diện tích khu vực, trong khi 90% còn lại là đồi núi dưới 700 m Theo Thái Văn Trừng (1978), đây là rừng nhiệt đới thường xanh trên đất núi thấp Trên toàn quốc, rừng ở dạng địa hình này đang bị suy thoái và ngày càng hiếm do dễ tiếp cận và chịu tác động mạnh Do nguy cơ đe dọa cao, các tổ chức bảo tồn thiên nhiên xếp loại rừng này là rừng có giá trị bảo tồn cao (WWF 2008) Ở Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, kiểu rừng trên vùng núi đất thấp chiếm tỷ lệ rất cao, trở thành đối tượng bảo tồn trọng tâm trong khu vực và là mục tiêu bảo tồn trên toàn quốc.

2.1.3.2 Địa chất Địa chất vùng điều tra thuộc miền vòng trống Paleozoi rộng lớn thuộc đới Trường Sơn Bắc, có cấu tạo đặc thù với nhiều mặt cắt Paleozoi khá đầy đủ và dày Bao gồm các trầm tích Odovic thượng và Silua Thành phần bồi lắng gồm có sắt, cát, Conglonurat, cuội, sỏi, dăm Song song với quá trình bồi lắng là quá trình xâm nhập các khối Magma acid như Granit, Daxit, Rhefonit Trong vùng điều tra xuất hiện diện tích đáng kể của kiểu thung lũng kiến tạo và xâm thực nằm dọc theo các con sông suối Nham thạch chủ yếu bao gồm các khối được tạo thành từ Magma, Granit, Rhyonit, đặc điểm đá rất mỏng, có kết cấu hạt thô, tỷ lệ thạch anh lớn khó phong hóa Các vùng thạch tạo từ trầm tích hạt thô như sa thạch, cuội kết, dăm kết, conglomerat có kết cấu hạt thô, bở, rời, phong hóa nhanh, dễ rửa trôi và xói mòn Đất được hình thành trên các loại phiến thạch sét, sa thạch và magma acid kết tính chua, chúng phân bố đan xen vào nhau khá phức tạp, tạo nên khá nhiều loại đất có độ phì khác nhau, tùy thuộc vào các kiểu địa hình, thảm thực bì, độ cao và độ dốc của địa hình

Khu vực này phong phú về các kiểu thảm thực vật rừng, đặc biệt là thảm thực vật ở vùng núi thấp (cao độ dưới 700 m so với mực nước biển) Ở nhiều địa phương khác, kiểu rừng này gần dân cư và dễ tiếp cận đã bị phá hủy và còn lại rất ít Tuy nhiên, ở khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, các kiểu thảm thực vật này vẫn còn khá phong phú, lên tới trên 18.000 ha Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh và điều tra thực địa cho thấy tỷ lệ che phủ rừng trong khu vực đề xuất lên tới 99% Theo quan điểm phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978), các kiểu thảm thực vật chính và phụ của khu vực được trình bày chi tiết tại bảng 2.1.

Bảng 2.1 Hiện trạng thảm thực vật

Stt Kiểu thảm thực vật Diện tích (ha) Tỷ lệ %

1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới 2.019,01 8,94

2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp 12.555,09 55,56

3 Kiểu rừng thứ sinh sau khai thác kiệt 6.261,39 27,71

4 Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau biến mất rừng 495,30 2,19

5 Kiểu rừng phát triển trên núi đá vôi 687,06 3,04

7 Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác 173,63 0,77

(Nguồn: Viện điều tra Quy hoạch rừng điều tra trong các năm 2009- 2011, Chi cục

Kiểm lâm và các chuyên gia rà soát bổ sung đầu năm 2018)

Kế thừa các tài liệu và kết quả khảo sát trước đó, Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt (VietNature) đã tiến hành điều tra trong các năm 2014–2017 và sơ bộ thống kê được 357 loài động vật có xương sống trên cạn, gồm 76 loài thú, 214 loài chim và 67 loài bò sát và ếch nhái; chi tiết xem bảng 2.2.

Bảng 2.2 Thành phần loài động vật có xương sống tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong

Bộ Số loài IUCN SĐVN CITES NĐ 64 Nguồn

Nguồn: Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (VietNature)

Đã ghi nhận tổng cộng 76 loài thú tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, phản ánh đầy đủ các loài đặc trưng cho vùng Bắc Trường Sơn được ghi nhận thông qua khảo sát trực tiếp hoặc kết quả bẫy ảnh Danh sách loài gồm Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Chà vá chân nâu, Vượn siki, Thỏ vằn, Tê tê java, Gấu ngựa, Mang trường sơn, Mang lớn, Saola, Sơn dương và nhiều loài khác, trong đó hai loài đang ở mức đe dọa tuyệt chủng cao nhất là Tê tê java và Saola (CR).

KVNC là khu hệ chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ, nơi đã ghi nhận 214 loài chim Trong khu vực này, 4 trong 7 loài chim đặc hữu có phân bố hẹp được xác nhận, gồm Trĩ sao, Khướu mỏ dài, Chích chạch má xám và Khướu má xám Có hai loài đang bị đe dọa ở cấp toàn cầu là Gà lôi lam mào trắng (CR) và Đuôi cụt bụng đỏ (VU); trong đó, Gà lôi lam mào trắng chỉ ghi nhận được thông qua phỏng vấn thợ săn địa phương Dù đã có nhiều nỗ lực điều tra bằng phương pháp bẫy ảnh của Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam, cho tới thời điểm hiện tại các chuyên gia vẫn chưa ghi nhận được ảnh của loài Gà lôi lam mào trắng trên thực địa.

Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm hoàn toàn trong địa giới hành chính xã Kim Thủy Khu vực này không có dân cư sinh sống trong phạm vi ranh giới được xác định Việc nằm gọn trong phạm vi quản lý của xã Kim Thủy giúp công tác bảo tồn và quản lý khu dự trữ trở nên thuận tiện hơn.

Xã Lâm Thủy giáp ranh với xã Kim Thủy và có khoảng cách tới khu rừng tương đối gần, đồng thời một phần ranh giới xã tiếp giáp với ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên Vì vậy, vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được xác định là diện tích nằm ngoài ranh giới khu bảo tồn thuộc hai xã Kim Thủy và Lâm Thủy.

2.2.1 Đặc điểm dân số và dân tộc

Hai xã vùng đệm thuộc khu vực miền núi rẻo cao, giáp biên giới nên mật độ dân số rất thưa Theo số liệu năm 2016, mật độ dân số trung bình của xã Kim Thủy là 75,34 người/km2 và xã Lâm Thủy chỉ 5,97 người/km2 Tỉ lệ tăng dân số cơ học của hai xã rất thấp; năm 2015 dân số xã Kim Thủy là 3.661 người.

Trong năm 2016, tổng dân số của huyện Lệ Thủy là 3.672 người, tăng 0,3% so với năm trước Tại xã Lâm Thủy, dân số năm 2015 là 1.355 người và năm 2016 là 1.360 người, tăng 0,37% Các số liệu này được trích từ Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy, tháng 5/2017.

Thành phần dân tộc tại hai xã này gồm hai nhóm là người Kinh và người Vân Kiều Người Vân Kiều chiếm tới 73,6% tổng số hộ và 78,9% dân số của hai xã, trong khi người Kinh chiếm 26,4% số hộ và 21,1% dân số Cụ thể, xã Lâm Thủy có tới 94,1% dân số là người Vân Kiều, còn xã Kim Thủy có 72,6% dân số là người Vân Kiều.

Kim Thủy và Lâm Thủy là hai xã miền núi nằm ở vùng biên giới Việt Nam - Lào thuộc tỉnh Quảng Bình Đây là hai xã có diện tích tự nhiên lớn nhất trong tỉnh Quảng Bình, với tổng diện tích rộng và địa hình núi non phong phú, mang lại cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và nhiều tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội cho địa phương.

2 xã là 71.527,16 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 94,47%

Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Đơn vị tính: ha

Stt Hạng mục Xã Kim

1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.449,91 404,8 1.854,71 2,59

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5 năm 2017)

Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, 2,59%, nên sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp là nguồn thu nhập chính của khu vực Số hộ tham gia kinh doanh thương mại dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất ít, chỉ khoảng 0,97%; phần lớn còn lại vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.

2.2.3 Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng

2.2.3.1 Giáo dục Điều kiện cơ sở hạ tầng cho giáo dục đã được cải thiện rất nhiều Hầu hết các cụm thôn, bản đều có điểm trường mầm non Hiện tại, địa phương có nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên hầu hết trẻ em ở độ tuổi 5-6 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100% Tỷ lệ mù chữ thấp, chỉ còn tồn tại ở những người lớn tuổi

Các xã đã có trạm y tế kiên cố, nằm ở trung tâm xã và được đầu tư đầy đủ trang thiết bị khám chữa bệnh Mỗi trạm được thiết kế với 10 phòng khép kín Trạm y tế Kim Thủy đã đạt chuẩn quốc gia Lực lượng cán bộ y tế mỗi trạm gồm 01 bác sỹ, 01 y sỹ, 03 y tá và điều dưỡng; ngoài ra, các thôn bản đều có y tá thôn bản tham gia chăm sóc sức khỏe cộng đồng Tuy nhiên, trình độ nghiệp vụ của cán bộ y tế còn hạn chế nên ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh trong vùng.

Trong những năm qua, các tuyến đường chính đã được làm mới và nâng cấp, nổi bật nhất là tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đi qua xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy, cùng với đường tỉnh lộ 16 chạy dọc xã Kim Thủy đã hoàn thành và đưa vào khai thác, mở rộng cơ hội giao thương và giao lưu với bên ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương; diện mạo các xã thay đổi và đời sống người dân được nâng cao.

Xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã cơ bản có điện lưới về tận các bản, bảo đảm nguồn điện cho mọi hộ dân ở địa phương Các thôn bản hiện nay đã có nước sạch phục vụ sinh hoạt, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và điều kiện sinh hoạt tại cộng đồng Trang thiết bị sinh hoạt của các hộ gia đình đang được cải thiện từng bước, với hầu hết hộ dân đã sở hữu ti vi và một số hộ đã có tủ lạnh để lưu trữ thực phẩm Nhìn chung, các kết quả này thể hiện sự tiến bộ về hạ tầng và chất lượng cuộc sống cho người dân ở Kim Thủy và Lâm Thủy.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong là cung cấp dữ liệu về các loài bò sát, ếch nhái và các thông tin liên quan, làm cơ sở khoa học hỗ trợ công tác bảo tồn và quản lý rừng bền vững tại địa bàn Dữ liệu được thu thập, hệ thống hóa và phân tích nhằm đánh giá đa dạng sinh học, tình trạng bảo tồn và sinh thái của bò sát và lưỡng cư ở KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Thông tin này giúp nâng cao hiệu quả quản lý rừng, thiết kế các biện pháp bảo vệ và triển khai các chương trình bảo tồn phù hợp với thực tế địa phương Nội dung này đồng thời phục vụ cho các quyết định quản lý rừng bền vững và bảo tồn tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và nguồn tài nguyên thiên nhiên của Quảng Bình. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tìm hiểu về quản lý rừng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong cùng [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi)!

+ Đánh giá được mức độ đa dạng thành phần loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;

+ Đánh giá được phân bố các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh, theo độ cao tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;

+ Đề xuất được các giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong.

Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát, ếch nhái

- Phạm vi nghiên cứu: Tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

- Thời gian nghiên cứu: Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng

07 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 với tổng cộng 95 ngày thực địa với 38 lượt người tham gia, chi tiết xem bảng 3.1

Bảng 3.1 Nỗ lực nghiên cứu thực địa tại KDTTN Động Châu –

Khe Nước Trong Thời gian Số ngày thực địa Số lượt người tham gia

Nội dung nghiên cứu

Đề tài nhằm xác định sự đa dạng về thành phần loài bò sát và ếch nhái trong khu vực nghiên cứu và đánh giá mức độ tương đồng của cộng đồng loài giữa khu vực này với một số khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và/và vườn quốc gia (VQG) lân cận có sinh cảnh tương tự ở Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam Việc đo lường phong phú loài, phân bố và cấu trúc thành phần loài sẽ được so sánh với các địa điểm bảo tồn lân cận nhằm nhận diện các yếu tố sinh thái và ảnh hưởng của môi trường đến sự hiện diện của bò sát và ếch nhái Kết quả từ phân tích này sẽ cung cấp cơ sở cho các chiến lược bảo tồn, quản lý đa dạng sinh học và xác định khu vực ưu tiên bảo vệ ở vùng Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam.

- Đặc điểm phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo các dạng sinh cảnh sống, theo độ cao ghi nhận loài

Để đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài bò sát và ếch nhái tại khu vực nghiên cứu, bài viết tập trung vào ba tiêu chí chính: tính đặc hữu, tính quý hiếm và mức độ bị đe doạ của từng loài Việc xác định tính đặc hữu giúp nhận diện các loài chỉ có mặt ở khu vực nghiên cứu, trong khi phân tích mức độ quý hiếm và các mức đe doạ cho từng loài giúp xác định ưu tiên bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý sinh thái phù hợp với thực tế địa phương Kết quả đánh giá này cung cấp cơ sở cho chiến lược bảo tồn, giám sát đa dạng sinh học và phân bổ nguồn lực trong khu vực.

- Xác định các nhân tố đe doạ đến quần thể bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Để tiến hành điều tra KDTTN Động, danh sách thiết bị và dụng cụ được chuẩn bị đầy đủ: bản đồ địa hình, GPS, la bàn, đèn pin, dao, túi sơ cứu, gậy bắt rắn, máy ảnh, thước, túi vải đựng mẫu, cồn xử lý mẫu, bộ đồ mổ, xi lanh, nhãn, bút kim, bút chì, lọ nhựa đựng mẫu vật và sổ tay ghi chép; đồng thời, điều tra theo tuyến được thiết kế với 10 tuyến điều tra chính tại KDTTN Động.

Châu - Khe Nước Trong: Tuyến điều tra được thiết lập dựa trên bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của các loài bò sát và ếch nhái tại khu vực nghiên cứu Trong nghiên cứu này, các tuyến điều tra chính được thiết lập dựa trên các đường mòn tuần tra, giám sát do Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt Nam thiết kế; chi tiết các tuyến điều tra chính xem hình 3.1 và bảng 3.2 Các tuyến điều tra phụ sẽ được thiết kế dựa trên các tuyến chính nhằm đảm bảo sẽ đi qua các dạng sinh cảnh, độ cao khác nhau của khu vực nghiên cứu, đặc biệt quan tâm đến các điểm có nước, vách đá và thung lũng Mỗi tuyến điều tra được đánh dấu điểm đầu và điểm cuối bằng các cây to hoặc địa vật cụ thể.

Chọn điểm thu mẫu: Tập trung vào các khu vực ẩm ướt như ven suối, vũng nước, vách đá, cửa hang, trên cây và quan sát dưới mặt đất

Ghi chép các ghi nhận: Ghi các toạ độ bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin

78s (Hệ toạ độ VN-2000), ghi chép vào sổ thực địa Ghi độ ẩm bằng máy Rocktrail Z29592 Chụp ảnh bằng máy ảnh Canon Rebel XL2

Thời gian thu mẫu: Thời gian điều tra quan sát và thu thập mẫu vật ban ngày từ 09:00 - 16:00, ban đêm từ 19:00 - 24:00

Phương pháp thu mẫu chủ yếu dựa trên việc thu thập mẫu vật bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng như kẹp và gậy bắt rắn Mẫu vật được đựng trong túi vải chắc chắn hoặc túi nilon để vận chuyển an toàn Sau khi chụp ảnh và định loại sơ bộ, một số mẫu vật phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên, trong khi những mẫu vật đại diện sẽ được lưu giữ làm tiêu bản nghiên cứu phục vụ cho các phân tích và so sánh sau này.

Hình 3.1 Bản đồ các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu

Bảng 3.2 Các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Tên tuyến Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối

Tuyến 1: Rum Ho- Ngọn khe Đan 567120 1881520 561230 1880562 Tuyến 2: Cầu Khỉ - Ngọn khe Le 567914 1878860 563779 1877580 Tuyến 3: Cầu Khỉ -Ngọn khe Vàng 567914 1878860 567308 1874016 Tuyến 4: Trung Đoàn - Ngọn khe Lương 571069 1878527 569796 1874130 Tuyến 5: Trung Đoàn - Ngọn khe Máy Bay 574068 1879075 569948 1876631 Tuyến 6: TK527 - Ngọn khe Gõ 582886 1876659 578856 1875438

Tuyến 9: Chốt Rộp - Ngọn Kiến Giang 579400 1883584 574639 1879478 Tuyến 10: An Bai - TK529 578114 1885597 574776 1881649

Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ bằng miếng bông thấm ethyl acetate Mẫu cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học phân tử (DNA) được lưu giữ trong cồn 95% và được cách ly trong formalin.

Sau khi gây mê, mẫu vật được gắn nhãn có số hiệu và buộc chặt bằng nhãn chịu nước, chữ trên nhãn được thiết kế để không tan khi tiếp xúc với dung môi Đối với ếch nhái, nhãn được gắn vào khu vực đầu gối để dễ nhận diện Việc cố định mẫu nhằm đảm bảo hình dạng dễ phân tích và quan sát sau này; sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ lên bằng vải màn hoặc giấy thấm và tiến hành xử lý với dung dịch cồn có nồng độ phù hợp trong thời gian thích hợp Đối với các mẫu bò sát và ếch nhái kích thước lớn, có thể tiêm dung dịch cồn vào bụng và cơ của mẫu để hạn chế thối hỏng.

Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%

3.4.2 Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN

3.4.2.1 Phương pháp phân tích hình thái mẫu vật BSEN

Các chỉ số hình thái được áp dụng theo Nguyen et al (2012) cho các loài ếch nhái và rắn Các chỉ số hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool, với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm, bảo đảm độ chính xác của các phép đo kích thước Một số chỉ số chính được thể hiện trong bảng 3.3, cho phép so sánh hình thái giữa các loài và phục vụ cho phân tích hệ thống.

Bảng 3.3 Bảng các chỉ số đo chính của BSEN

Stt Kí hiệu Giải thích

1 SVL Chiều dài mút mõm đến hậu môn

2 HH Chiều cao tối đa của đầu

3 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới

4 SNL Khoảng cách mút mõm đến mũi

5 SE Khoảng cách từ mõm đến mắt

6 NEL Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi

7 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt

8 ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang

9 TED Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt

10 TD Đường kính lớn nhất của màng nhĩ

11 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu

12 IND Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)

13 AOD Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt

14 IOD Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt

15 UEW Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên

16 FLL Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách

17 LAL Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay

19 F2L Chiều dài ngón tay II

20 F3L Chiều dài ngón tay III (ngón dài nhất)

21 F4L Chiều dài ngón tay IV

22 FD3 Chiều rộng đĩa bám ngón tay III

23 MTTi Chiều dài củ bàn trong

Stt Kí hiệu Giải thích

24 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài

25 HLL Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn

26 FL Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)

27 TL Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)

28 FOT Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)

32 T4L Chiều dài ngón IV (ngón dài nhất)

34 TD4 Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV

35 TBW Chiều rộng ống chân

36 MTTi Chiều dài củ bàn trong

37 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài Đuôi

3.4.2.2 Phương pháp định danh mẫu vật

Chúng tôi so sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định danh đang lưu giữ tại Trường Đại học Lâm nghiệp và định danh loài dựa trên các tài liệu tham khảo Inger et al (1999), Bain & Nguyen (2004), Bain et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012) và Ziegler & Vu.

(2009) và một số tài liệu khác có liên quan Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen Van Sang et al (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây

3.4.3 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực

Dựa trên số liệu thu thập được trong quá trình thực địa, kết hợp tham khảo các công trình đã công bố, nghiên cứu này so sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong với các KBT, VQG có sinh cảnh tương tự gồm KBTTN Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), VQG Cúc Phương (Ninh Bình) So sánh tương quan giữa thành phần loài giữa các khu vực, sử dụng phần mềm PAST Statistic (Hammer et al 2001) để phân tích thống kê Số liệu được mã hoá theo dạng đối xứng (1: Có mặt; 0: Không có mặt) Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) được tính như sau: djk=2M/(2M+N); trong đó M là số loài ghi nhận cả 02 vùng, N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở một vùng

3.4.4 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái

3.4.4.1 Phân bố theo sinh cảnh

Dựa trên phân loại thảm thực vật theo UNESCO (1973) và mức độ tác động của con người được mô tả trong “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học” (2003), kết hợp với hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu và kết quả điều tra thực địa, chúng tôi đánh giá phân bố loài rắn ở ba dạng cảnh quan chính: (i) khu dân cư và đất nông nghiệp (ao, vườn quanh nhà, đất canh tác); (ii) rừng thứ sinh đang phục hồi (rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi); và (iii) rừng thường xanh ít bị tác động (rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn hợp thường xanh) Kết quả được thể hiện theo mẫu biểu 01.

Mẫu biểu 01: Phân bố các loài rắn theo sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu

Sinh cảnh ghi nhận Sinh cảnh

3.4.4.2 Phân bố theo độ cao

Các tác giả Bain & Hurley (2011) căn cứ vào điều kiện tự nhiên gồm địa hình và thảm thực vật để phân chia khu vực Đông Dương thành hai đai độ cao dưới 800 m và trên 800 m Về nguyên tắc, chúng tôi vẫn tuân thủ phương pháp phân chia này và tổng hợp số liệu để so sánh Tuy nhiên, để phản ánh đặc điểm thực tế sinh cảnh và mức độ tác động của con người tại KDTTN, chúng tôi điều chỉnh cách phân độ cao tại KVNC theo từng mức 400 m: dưới 400 m là khu vực dân cư, từ 400 m đến 800 m là rừng thứ sinh đang phục hồi, trên 800 m là rừng thường xanh ít bị tác động Kết quả được trình bày theo mẫu biểu 02.

Mẫu biểu 02: Phân bố thành phần loài rắn theo độ cao tại KBT Nam Động

Tên phổ thông Đai cao (m)

3.4.5 Đánh giá tình trạng bảo tồn

Đánh giá tình trạng bảo tồn được thực hiện dựa trên hai nhóm căn cứ: căn cứ pháp lý gồm Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ; và căn cứ khoa học từ Sách Đỏ Việt Nam (2007) cùng Danh lục Đỏ IUCN (2020) Theo đó, các loài có phân bố chỉ ở Việt Nam được coi là đặc hữu.

Xác định khu vực ưu tiên cho bảo tồn được thực hiện từ kết quả đánh giá tình trạng bảo tồn kết hợp với dữ liệu phân bố của các loài bò sát và ếch nhái Dữ liệu này được sử dụng để xây dựng một bộ tiêu chí nhằm phân vùng các tiểu khu thành ba mức độ ưu tiên: cao, trung bình và thấp, từ đó tập trung nguồn lực và biện pháp bảo tồn phù hợp với từng khu vực.

3.4.6 Xác định các mối đe dọa Đánh giá và xác định các mối đe dọa thông qua quan sát trực tiếp trên thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc đối với người dân địa phương, cán bộ kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh cán bộ Bảo vệ rừng của KDTTN Động Châu

Tư liệu nghiên cứu

- Đã phân tích đặc điểm hình thái của 207 mẫu bò sát, ếch nhái thu thập tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong năm 2018, 2019 và 2020

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Trường Đại học Lâm Nghiệp (VNUF)

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Bảo tàng khoa học VQG Cúc Phương

Trong nước và quốc tế, nguồn tài liệu về bò sát và ếch nhái rất đa dạng, bao gồm sách tham khảo, tạp chí khoa học, báo cáo nghiên cứu, luận văn thạc sĩ và các tài liệu liên quan khác Những tài liệu này cung cấp thông tin tổng quan và chi tiết về sinh học, phân loại, sinh thái và bảo tồn của bò sát và ếch nhái, phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước

Dựa trên kết quả phân tích 204 mẫu vật và quan sát 3 mẫu rùa, chúng tôi đã định danh được 56 loài (34 loài bò sát, 22 loài ếch nhái) thuộc 42 giống (28 giống bò sát, 14 giống ếch nhái) và 18 họ (12 họ bò sát, 6 họ ếch nhái) cho KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019), kết quả nghiên cứu này ghi nhận 16 loài mới (11 loài bò sát, 5 loài ếch nhái).

Đã ghi nhận 16 giống (11 giống bò sát, 04 giống ếch nhái) thuộc 10 họ (07 họ bò sát, 03 họ ếch nhái) cho danh lục các loài bò sát, ếch nhái của KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong đó có 01 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình Có 03 họ được ghi nhận mới cho danh lục các họ bò sát, ếch nhái của KDTTN, nâng tổng số họ bò sát, ếch nhái lên 21 họ với 83 loài Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019), kết quả ngày nay không ghi nhận được 03 họ Lacertidae, Pythonidae và Pareatidae; và không ghi nhận được 27 loài (15 bò sát, 12 ếch nhái) so với kết quả của nghiên cứu trước.

4.1.1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại K hu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Dựa trên phân tích 129 mẫu vật bò sát và quan sát 3 mẫu rùa, chúng tôi đã định danh được 34 loài bò sát Kết hợp với kết quả nghiên cứu trước, danh lục bò sát tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong được cập nhật lên 49 loài thuộc 32 giống, 15 họ và 2 bộ; tuy nhiên, có 15 loài bò sát có tên trong tài liệu nghiên cứu trước nhưng không được ghi nhận trong đợt nghiên cứu này Trong 34 loài được định danh qua phân tích mẫu vật, chúng tôi bổ sung 11 loài bò sát cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong (trong đó có 01 loài ghi nhận phân bố mới cho tỉnh Quảng Bình là Rắn khuyết lào Lycodon laoensis) Đặc biệt, ghi nhận bổ sung 3 họ mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong bao gồm họ Anguidae (thằn lằn), họ Homalopsidae và họ Pseudoxenodontidae (xem bảng 4.1).

Bảng 4.1 Danh lục các loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu –

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)

1 Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829) Ô rô vẩy x x

2 Calotes versicolor (Daudin, 1802) Nhông xám x x

3 C.emma Gray, 1845 Nhông em-ma x x

4 Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 Rồng đất x x

Rửsler, Nguyen, Vu, Ngo & Ziegler, 2008

Thạch sùng ngón giả bốn vạch x X

6 Gekko reevesii (Linnaeus, 1758) Tắc kè x X

7 Hemidactylus frenatus (Schlegel, 1836) Thạch sùng đuôi sần x X

3 Lacertidae Họ Thằn lằn chính thức

8 Takydromus hani Chou, Nguyen & Pauwels,

4 Scincidae Họ Thằn lằn bóng

9 Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1857) Thằn lằn bóng đuôi dài x x

10 Plestiodon quadrilineatus Blyth, 1853 Thằn lằn tốt mã bốn vạch x x

1983) Thằn lằn cổ đuôi đỏ x x

12 S melanosticta (Boulenger, 1887) Thằn lằn cổ x x

13 Sphenomorphus indicus (Gray, 1853) Thằn lằn phê-nô ấn độ x x

14 S maculatus (Blyth, 1853) Thằn lằn phê-nô đốm x x

Bibron, 1839 Thằn lằn tai nam bộ x x

5 Anguidae Họ Thằn lằn rắn

16 Dopasia harti (Boulenger, 1899) * Thằn lằn rắn hác x

17 Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất x

19 Ahaetula prasina (Boie, 1827) Rắn roi thường x x

20 Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)* Rắn leo cây thường x

21 Boiga guangxiensis Wen, 1998* Rắn rào quảng tây x

22 B.kraepelini (Stejneger, 1902) Rắn rào k-ra-pe-lin x

23 Coelognathus radiatus (Boie, 1827)* Rắn sọc dưa x

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)

24 Chrysopelea ornata (Shaw, 1802) Rắn cườm X

25 Ptyas multicinctus (Roux, 1907) Rắn nhiều đai X x

26 Lycodon futsingensis (Pope, 1928) Rắn khuyết fut sing x

L ruhstrati abditus (Vogel, David, Pauwels,

Sumontha, Norval, Hendrix, Vu & Ziegler,

28 Lycodon laoensis Günther, 1864** Rắn khuyết lào x

29 L.cf rosozonatum (Hu & Zhao, 1972) Rắn lệch đầu hồng x x

30 Oligodon chinensis (Günther, 1888)* Rắn khiếm trung quốc x

31 Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839) Rắn sọc đốm đỏ x

32 Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897 Rắn vòi x

8 Natricidae Họ Rắn nước chính thức

33 Parahelicops annamensis Bourret, 1934 Rắn bình mũi trung bộ x

34 Rhabdophis subminiatus (Schlegel, 1837) Rắn sãi cổ đỏ x

35 R chrysargos ( Shhlegel,1837)* Rắn hoa cỏ vàng x

36 Trimerodytes percarinatus (Boulenger, 1899) Rắn hoa cân vân đen x

9 Pareatidae Họ Rắn hổ mây

37 Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) Rắn hổ mây ham-tơn x

38 Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) Rắn cạp nong x

39 B multifasciatus Blyth, 1860 Rắn cạp nia bắc x x

40 Naja cf atra Cantor, 1842 Rắn hổ mang trung quốc x

41 Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)* Rắn bồng chì x

12 Pseudoxenodontidae Họ Rắn hổ xiên

42 Pseudoxenodon bambusicola Vogt, 1922* Rắn hổ xiên tre x

43 Protobothrops muscrosquamatus (Cantor, 1839) Rắn lục cườm x x

44 Trimeresurus stejnegeri Schmidt, 1925 Rắn lục xanh x x

14 Platysternidae Họ Rùa đầu to

45 Platysternon megacephalum Gray, 1930 Rùa đầu to x x

46 Cuora bourreti Obst & Reimann, 1994 Rùa hộp bua-rê x

47 C.mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân x

48 Cyclemys oldhamii Gray, 1863* Rùa đất sepon x

49 Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903) Rùa bốn mắt x x

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN ** Loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình

1Phạm Thế Cường và cs (2019)

Xét theo tính đa dạng về giống thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhất với

Có 10 giống bò sát được ghi nhận, chiếm 31,2% tổng số giống bò sát; tiếp đến là họ Scincidae với 5 giống chiếm 15,6% tổng số giống bò sát được ghi nhận Xếp thứ ba là các họ Agamidae, Gekkonidae và Natricidae, mỗi họ có 3 giống Có tới 3 họ ghi nhận 2 giống, gồm Elapidae, Viperidae và Geoemydidae Các họ còn lại đều ghi nhận duy nhất một giống (xem hình 4.1 và bảng 4.1).

Xét về tính đa dạng thành phần loài, họ Rắn nước Colubridae là đa dạng nhất với 14 loài, chiếm 28,57% tổng số loài ghi nhận; tiếp đến là Scincidae với 7 loài, chiếm 14,28% tổng số loài Có 3 họ ghi nhận 4 loài mỗi họ, gồm Agamidae, Natricidae và Geomydidae, trong đó Natricidae chiếm 8,16% tổng số loài Các họ còn lại ghi nhận 2 loài cho Gekkonidae, Elapidae, Viperidae và Pythonidae; các họ khác đều ghi nhận 1 loài Xem hình 4.1 và bảng 4.1.

Hình 4.1 Đa dạng các họ bò sát theo giống và loài

4.1.2 Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Phân tích 75 mẫu vật đã định danh được 23 loài ếch nhái Kết hợp với tài liệu nghiên cứu trước, chúng tôi cập nhật danh mục ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong gồm 34 loài thuộc 19 giống và 6 họ Có 05 loài ếch nhái được ghi nhận bổ sung cho KVNC; tuy nhiên có 12 loài được ghi nhận trong nguồn dữ liệu trước đây.

Số giống Số loài nghiên cứu trước nhưng không ghi nhận được trong nghiên cứu này (Chi tiết xem bảng 4.2.)

Bảng 4.2 Danh lục các loài ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu

Stt Tên khoa học Tên Việt Nam

2 Ingerophrynus macrotis (Boulenger, 1887) Cóc tai to x

3 Brachytarsophrys intermedia (Smith, 1921) Cóc mắt trung gian x x

Richards, Phimmachak & Sivongxay, 2010) Cóc núi nâu x

6 Megophrys maosonensis Boulenger, 1937 Cóc mắt bên x x

7 M microstoma Boulenger, 1903* Cóc núi miệng nhỏ x

8 M gerti (Ohler, 2003) Cóc núi gớt x

9 Microhyla heymonsi Vogt, 1911 Nhái bầu hây môn x x

10 M marmorata (Bain & Nguyen, 2004) Nhái bầu hoa cương x

11 M pulchra (Hallowell, 1861) Nhái bầu vân x x

4 Dicroglossidae Họ Ếch nhái chính thức

13 Limnonectes kiziriami Ye, Fei & Jiang,

14 L limborgi (Sclater, 1892) Ếch lim-boc x x

15 L poilani (Bourret, 1942) Ếch poa-lan x x

16 Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) Ếch gai sần x x

17 Amolops cremnobatus Inger et Kottelat,

18 Hylarana attigua (Inger, Orlov & Darevsky, Ếch đồng dạng x

Stt Tên khoa học Tên Việt Nam

20 Sylvirana guentheri (Boulenger, 1882)* Chẫu chuộc x

21 S maosonensis (Bourret, 1937)* Chàng mẫu sơn x

22 Odorrana chloronota (Günther, 1875) Ếch xanh x

23 O morafkai (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov

& Ho, 2003) Ếch mô-ráp-ka x

24 Rana johnsi Smith, 1921 Hiu hiu x x

25 Kurixalus banaensis (Bourret, 1939) Nhái cây bà nà x

26 K bissaculus (Taylor, 1962) Nhái cây sần nhỏ x x

27 Polypedates megacephalus Hallowell, 1861 Ếch cây đầu to x x

28 Rhacophorus annamensis Smith, 1924 Ếch cây trung bộ x x

29 Zhangixalus dennysi (Blanford, 1881)* Ếch cây đốm xanh x

1999 Ếch cây nếp da mông x

31 R orlovi Ziegler & Kohler, 2001 Ếch cây oóc-lốp x x

32 Theloderma asperum (Boulenger, 1886) Ếch cây sần a-x-pơ x

33 T corticale (Boulenger, 1903)* Ếch cây sần bắc bộ x

O RLOV & H O , 2005 Nhái cây trường sơn x x

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Phạm Thế Cường và cs (2019) phân tích tính đa dạng thành phần giống ở KDTTN và cho thấy trong 6 họ được ghi nhận, Ranidae (ếch nhái) là họ có đa dạng giống cao nhất với 5 giống, chiếm 26,3% tổng số giống; tiếp theo là hai họ Rhacophoridae (họ ếch cây) và Megophryidae (họ cóc bùn), mỗi họ ghi nhận 4 giống; tiếp đến là Dicroglossidae với 3 giống; Bufonidae với 2 giống; và cuối cùng Microhylidae với 1 giống Xem hình 4.2 và bảng 4.2.

Hình 4.2 Đa dạng các họ ếch nhái theo giống và loài

Xét theo tính đa dạng thành phần loài, họ Ếch cây Rhacophorus là họ đa dạng nhất với 10 loài (chiếm 29,4% tổng số loài); tiếp đến là họ Ếch nhái Ranidae với 8 loài; họ Cóc bùn Megophrydae ghi nhận 6 loài; họ Ếch nhái chính thức ghi nhận 5 loài; tiếp đến là họ Nhái bầu Microhylidae ghi nhận 3 loài và họ Cóc Bufodidae ghi nhận 2 loài Chi tiết xem hình 4.2 và bảng 4.2.

Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

4.2.1 Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC

So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này đã bổ sung 3 họ mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong và ghi nhận các hiện trạng, phân bố cũng như thông tin mới của hệ sinh thái khu vực. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tăng cường nội dung SEO chất lượng với Pollinations.AI, kiểm tra ngay [dịch vụ của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi)!

12 loài cho KVNC, trong đó có 10 loài bò sát có vảy và 1 loài rùa: Thằn lằn rắn hác

Dopasia harti (Boulenger, 1899), Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin,

1789), Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998), Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827), Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

This article profiles several Asian snake species, including Tropidolaemus popeiorum (Pope, 1928), Lycodon laoensis (Günther, 1864), Oligodon chinensis (Günther, 1888), Rhabdophis chrysargos (Schlegel, 1837), and Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827) These snakes span diverse lineages—from the kukri snakes Lycodon laoensis and Oligodon chinensis to the keelbacks Rhabdophis chrysargos and Hypsiscopus plumbea, with Tropidolaemus popeiorum representing Pope’s pit viper—highlighting the biodiversity of the region.

Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922), Rùa đất sepon Cyclemys oldhamii

(Gray, 1863) Một số đặc điểm hình thái của các loài này được trình bày cụ thể ở phần dưới đây:

Hình 4.3 Các loài bò sát ghi nhận mới tại KVNC

Họ Thằn lằn rắn Anguidae

1 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti (Boulenger, 1899)

Mẫu vật nghiên cứu (n = 1): 01 mẫu cái kí hiệu KNT.19.45 Đặc điểm nhận dạng: SVL 120,5 mm 16 hàng vảy giữa hai nếp gấp sườn;

Loài được nhận diện bởi 95 hàng vảy dọc theo nếp gấp sườn; mặt lưng màu nâu xám hoặc trắng kem, dọc lưng có sọc ngang sẫm màu; hai bên lưng có sọc nhỏ sẫm màu chạy từ sau mắt tới mút đuôi; bụng trắng đục Định loại theo Nguyen et al., 2011.

Thông tin khác về mẫu: Mẫu vật được thu vào khoảng 9h30, ở ven đường mòn có nhiều lá khô, trong rừng phục hồi

Hình 4.4 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti

This taxonomy-focused overview lists major families across reptiles, amphibians, and a rodent group, starting with Gekkonidae (geckos), Lacertidae (lizards), Scincidae (skinks), Anguidae (glass and legless lizards), Pythonidae (pythons), Colubridae and Natricidae (colubrid snakes), and Viperidae (vipers), and includes Platysternidae (the platysternid turtles) It then covers amphibian lineages such as Megophryidae, Microhylidae, Dicroglossidae, Ranidae, and Rhacophoridae Rounding out the list is Geomyidae (pocket gophers), illustrating how biodiversity spans distinct vertebrate groups The piece serves as a concise reference for taxonomy, field guides, and biodiversity studies, with an emphasis on family-level classification and the characteristic features that define each group.

Phạm Thế Cường và cộng sự Nghiên cứu này

2 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực KNT.19.30 (SVL 685,2 mm, TaL

303 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Theo Smith (1943), Nguyễn Văn Sáng (2007) và Ngô Đắc Chứng cùng Dương Đức Lợi (2016) ghi nhận các kích thước và cấu trúc tấm trên cơ thể, gồm dài đầu 20,2 mm, rộng đầu 9,6 mm, đầu phân biệt với cổ; dài tấm gian mũi 1,9 mm; dài tấm trước trán 2,5 mm; DSR 15-11-11, trơn; 201 tấm bụng; vảy dưới đuôi 145, chia đôi; tấm hậu môn chia; môi trên 9 tấm, tấm thứ 3,4,5 tiếp giáp mắt ở bên trái, tấm 4,5,6 tiếp giáp mắt ở bên phải, tấm thứ 5/6 lớn nhất; môi dưới 9 tấm, có 04 tấm tiếp giáp tấm sau cằm trước; 01 tấm trước ổ mắt; 02 tấm sau ổ mắt; 02 tấm thái dương trước; 2/3 tấm thái dương sau.

Màu sắc mẫu sống nổi bật với mặt lưng vàng nâu; ở phần đầu có một đường đen từ mõm qua mắt tới gáy, và dọc sườn có một đường vàng nhạt viền đen Môi, họng và bụng có màu vàng rất nhạt.

Một số đặc điểm sinh thái: mẫu vật thu được tử vong do xe cán trên đường; sinh cảnh xung quanh là rừng trồng keo, nhiệt độ môi trường 27,0°C và độ ẩm 65% Thức ăn của loài gồm ếch nhái, thằn lằn và chim nhỏ (theo Nguyễn Văn Sáng, 2007).

Phân bố: Ở Việt Nam, loài này phân bố từ Điện Biên đến Cà Mau, cho thấy phạm vi phân bố rộng từ miền núi phía Bắc đến khu vực phía Nam Trên thế giới, loài này được ghi nhận tại Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á (Nguyen et al.).

2009) Loài ghi nhận phân bố mới cho KVNC

Hình 4.5 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Ảnh: Hà Văn Nghĩa)

3 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu cái (KNT.19.34) Đặc điểm hình thái của mẫu vật thu được phù hợp với mô tả của Ziegler et al (2007) Kích thước SVL 985 mm; TaL 380 mm Đầu dài hơn rộng, HL 23,32 mm, HW 13,2 mm; mắt to hình bầu dục Tấm thái dương trước 2/2; tấm thái dương sau 3/3; vảy môi trên 8/8; vảy môi dưới 10/10; hàng vảy thân: 23:15:15; vảy bụng 270; vảy dưới đuôi 145; kép.

Màu sắc khi mẫu sống thể hiện ở đầu và thân có màu nâu đỏ; phía trước thân có các khoang màu đỏ đen, càng về phía cuối thân các khoang này càng mờ dần và không còn rõ Bụng có màu vàng nhạt.

Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật được thu khi đang trườn trên mặt đất rừng ở rừng thứ sinh tự nhiên

Hình 4.6 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis

4 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827)

Mẫu vật nghiên cứu gồm 01 mẫu đực (KNT.19.36) Đặc điểm hình thái của mẫu vật thu được phù hợp với mô tả của Hoàng Xuân Quang và cs (2012): SVL 925 mm, TailL 180 mm Đầu dài, phân biệt rõ với cổ; mắt trung bình, con ngươi tròn Lỗ mũi nằm giữa tấm mũi chia Tấm mõm rộng hơn cao, có thể nhìn thấy một phần từ phía trên; 2 tấm gian mũi bé hơn 2 tấm trước trán; tấm trán dài hơn rộng, chạm tấm trước mắt ở một điểm Có 1 tấm má dài hơn cao, nằm trên tấm mép trên thứ hai và thứ ba; 1 tấm trước mắt cao, 2 tấm sau mắt Tấm thái dương 2 + 2 Có 9 tấm mép trên, tấm thứ 4,

Đặc điểm nổi bật của loài gồm 5 và 6 chạm mắt; 10 tấm mép dưới mỗi bên, 4 tấm đầu tiên chạm tấm sau cằm thứ nhất; tấm cằm nhỏ hình tam giác, viền viền cằm nhỏ hơn viền mõm; có hai cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất lớn hơn và tiếp xúc với nhau, cặp thứ hai bị phân cách bởi 1–2 vảy họng; vảy thân xếp thành 19 hàng có gờ yếu, riêng hàng vảy ngoài cùng nhẵn; 227 vảy bụng; 60 vảy dưới đuôi, kép; tấm hậu môn nguyên; thân và đầu màu nâu hồng; quanh mắt có 3 vệt đen nhỏ, gồm hai vệt chạy xuống môi và một vệt chạy ra sau nối với vòng đen ở phía bên gáy; lưng màu nâu xám hoặc xám, có 4 sọc đen chạy dọc tới quá nửa thân, hai sọc ở giữa lưng to và liên tục, hai sọc hai bên mảnh hơn và đứt đoạn; bụng màu vàng nhạt.

Phân bố: Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước

Hình 4.7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus

5 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis (Pope, 1928)

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu đực KNT19.35 (SVL 470,0 mm, TaL 130,0 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Bourret (1936), Nguyễn Văn Sáng (2007), Vogel et al (2009), Luu et al (2013b),

Theo Nguyen et al (2016), Pham et al (2017) và Nguyen et al (2018), loài được mô tả có thân dài và đầu phân biệt với cổ, với hệ thống tấm đặc trưng gồm 02 tấm thái dương trước, 03 tấm thái dương sau, 01 tấm má không chạm mắt, 01 tấm trước ổ mắt và 02 tấm sau ổ mắt; môi trên gồm 08 tấm, trong đó tấm thứ 3, 4 và 5 tiếp giáp với mắt và tấm số 06 lớn nhất; môi dưới gồm 10 tấm, 05 tấm tiếp giáp với tấm sau và cằm trước; DSR 17-17-15, trơn; 201, tấm bụng; tấm hậu môn đơn; vảy dưới đuôi.

Màu sắc mẫu sống: Màu sắc màu xám đen có 19 vòng trắng quanh thân, có

14 vòng trắng quanh đuôi, bụng màu trắng đục

Mẫu vật được thu thập vào ban đêm, đang trườn ở ven suối, cho thấy đặc điểm sinh thái liên quan đến nơi trú ngụ và hoạt động trong môi trường rừng thường xanh núi đất Quan sát được trong khoảng 19h30–21h20, với nhiệt độ môi trường từ 22,9–24,1 °C và độ ẩm không khí từ 88,0–93,0%, cho thấy điều kiện sinh thái phù hợp cho hoạt động của mẫu vật vào buổi tối.

Phân bố: Ở Việt Nam, loài này phân bố từ Lào Cai đến Đà Nẵng Trên thế giới, loài được ghi nhận tại Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào và Nhật Bản, theo các nghiên cứu của Nguyen et al (2009, 2016) và Vogel et al (2009).

Hình 4.8 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

6 Rắn khuyết lào Lycodon laoensis (Günther, 1864)

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu cái kí hiệu thực địa KNT 19.42

Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

4.3.1 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

Có 20 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m như: Thạch sùng đuôi sần, Hemidactylus frenatus, Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám

Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus…

Có 25 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao từ 400 - 800m như: Ô rô vẩy

Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus, Rắn khiếm Trung Quốc Oligodon chinensis, Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos…

Có 5 loài bò sát được ghi nhận từ độ cao trên 800 m: Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus, Gekko reevesii, Rắn roi thường

Ahaetula prasina, Rắn lệch đầu hồng Lycodon rosozonatus, Rắn hổ xiên tre

Pseudoxenodon bambusicola Độ cao từ 400 – 800 m có mức độ đa dạng về loài với 25 loài bò sát ( so với

Đợt nghiên cứu ghi nhận 31 loài bò sát, cho thấy độ cao được khảo sát ở mức này thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài Tuy nhiên, ở độ cao từ 800 m trở lên chỉ ghi nhận 5 loài bò sát, cho thấy độ cao này có thể do điều kiện điều tra còn hạn chế và khu vực trên 800 m ở khu vực này không nhiều, nên có thể chưa ghi nhận được đầy đủ các loài.

Hình 4.20 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

4.3.1.2 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao

Kết quả tổng hợp và phân tích số liệu cho thấy các loài ếch nhái tại KVNC được phân bố theo độ cao; dưới 400 m có 11 loài được ghi nhận, ví dụ gồm Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi và Nhái bầu vân Microhyla pulchra.

Từ 400 - 800m có 15 loài được ghi nhận gồm các loài như Ếch nhẽo

Limnonectes bannaensis, Ếch lim-boc Limnonectes limborgi, Ếch poa-lan

Limnonectes poilani, Cóc mắt bên Megophrys majo…

Từ độ cao 800m có 2 loài được ghi nhận gồm Ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa, Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale

Ta thấy được độ cao từ 400 - 800 m thì số loài ghi nhận được nhiều nhất với

Trong đợt điều tra này, 15 loài ếch nhái được ghi nhận trên tổng số 19 loài, cho thấy mức độ đa dạng loài tại khu vực được khảo sát Điều này có thể giải thích bởi độ cao của khu vực, đây là môi trường thích hợp cho nhiều loài ếch nhái sinh sống.

Sốloài Độ cao trên 800 m ghi nhận được số loài ít nhất với 2 loài do thời gian ít và sinh cảnh ở đây đi lại điều tra khó khăn

Hình 4.21 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao

4.3.2 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh

Tùy đối tượng nghiên cứu và KVNC, các tác giả khác nhau có cách phân chia sinh cảnh khác nhau: Trần Ngũ Phương (1970) đã đề xuất bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên các yếu tố đất đai, khí hậu và độ cao; UNESCO (1973) đã phân loại thảm rừng ở Việt Nam thành hai lớp quần hệ; Thái Văn Trừng (1999) chia thảm thực vật thành nhiều kiểu khác nhau; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có các hệ thống phân loại riêng cho rừng và thảm thực vật ở Việt Nam.

Việt Nam đã xác định và phân loại rừng theo các tiêu chí từ năm 2009 và được mở rộng với 10 kiểu rừng khác nhau do Vũ Tấn Phương và nnk trình bày vào năm 2012 Theo quan điểm của Lê Nguyên Ngật (2003) trong Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học, chúng tôi phân tích các dạng sinh cảnh dựa trên đối tượng nghiên cứu, điều kiện tự nhiên (địa hình, thảm thực vật) và mức độ tác động của con người tại KVNC Dựa trên KVNC, chúng tôi chia thành 3 sinh cảnh chính: Khu dân cư và đất nông nghiệp (ao, vườn quanh nhà, đất canh tác); rừng thứ sinh đang phục hồi (rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi); và rừng thường xanh ít bị tác động (rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh).

4.3.2.1 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh

Nhìn vào biểu đồ hình 4.22 ta thấy số lượng loài bò sát phân bố nhiều nhất ở dạng sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động với 25 loài (chiếm 50 % tổng số loài

Sốloài bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng giàu chủ yếu ở các tiểu khu như 517,

516, 535,…Các loài bò sát ghi nhận ở sinh cảnh này như Rồng đất, Thạch sùng ngón giả bốn vạch, Tắc kè, Rắn lục cườm, …Như vậy, có thể thấy rằng sinh cảnh sinh cảnh này phù hợp nhất cho nhiều loài bò sát sinh sống và phát triển

Trong KDTTN, sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận phân bố của 16 loài bò sát (chiếm 32% tổng số loài bò sát ở KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng phục hồi chủ yếu ở các tiểu khu 523, 527 và khu vực lân cận, nơi ghi nhận sự hiện diện của các loài như Thằn lằn bóng đuôi dài, Thằn lằn phê nô ấn độ và Rắn nhiều đai.

Trong KDTTN, sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp ghi nhận ít loài nhất với 7 loài, chiếm 14% tổng số loài bò sát, và đây là sinh cảnh chủ yếu phân bố các loài bò sát phổ biến như Thằn lằn bóng đuôi dài, Rắn sọc dưa và Ô rô vảy.

Hình 4.22 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh tại KVNC

4.3.2.2 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh

Nhìn vào biểu đồ hình 4.23, sinh cảnh rừng thường xanh ghi nhận sự đa dạng sinh học cao với số lượng loài ếch nhái lớn nhất Cụ thể, tại sinh cảnh này có 19 loài ếch nhái, chiếm 38% tổng số loài ếch nhái được KDTTN ghi nhận, bao gồm Cóc mắt bên, Ếch gai sần, Ếch cây trung bộ và các loài khác Nhờ vậy, sinh cảnh rừng thường xanh được xem là môi trường phù hợp nhất cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài ếch nhái.

Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động

Trong sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi của KDTTN, đã ghi nhận 16 loài ếch nhái, chiếm 32% tổng số loài ếch nhái của KDTTN Các loài ếch nhái được ghi nhận ở sinh cảnh này gồm Hiu hiu, Ếch cây oóc-lốp, Chàng mẫu sơn và một số loài khác.

Sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp ghi nhận ít loài ếch nhái nhất, với chỉ 6 loài, chiếm khoảng 12% tổng số loài ếch nhái của KDTTN; các loài được ghi nhận tại sinh cảnh này gồm Ếch cây đầu to, Chẫu chuộc và Ngóe, do khu vực gần dân cư nên dễ chịu tác động của con người và hoạt động thu bắt ếch nhái làm thức ăn cũng như mua bán thương mại vẫn diễn ra; vì vậy sinh cảnh này chủ yếu ghi nhận các loài ếch nhái thông dụng.

Hình 4.23 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh tại KVNC

So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam

Để đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và các khu bảo tồn lân cận có sinh cảnh tương tự, chúng tôi dựa trên dữ liệu thành phần loài từ 03 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, gồm KBTTN Bắc Hướng Hoá theo Nguyen Thanh Luan et al (2016) và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng theo Luu et al., để phân tích mức độ đồng nhất và sự khác biệt về đa dạng bò sát và ếch nhái giữa các địa điểm. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá thêm về đa dạng loài với Pollinations.AI miễn phí—[Ủng hộ sứ mệnh của chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để nâng cao nghiên cứu bảo tồn!

(2013), VQG Cúc Phương theo Nguyễn Huy Quang và cs (2018)

Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động

Kết quả đánh giá cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức đa dạng loài cao hơn KBTTN Bắc Hướng Hoá nhưng vẫn kém đa dạng so với VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, điều này có thể giải thích do hai VQG có diện tích rộng hơn và được điều tra, nghiên cứu nhiều hơn Kết quả so sánh chỉ số tương đồng Sorensen-Dice ở bảng 2 cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái cao nhất với VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (djk = 0,51), tương đồng thấp nhất với KBTTN Bắc Hướng Hoá (djk = 0,39) Nguyên nhân được cho là KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở cùng khu vực địa lý và thuộc cùng tỉnh Bên cạnh đó, vẫn còn thiếu nhiều nghiên cứu tại KBTTN Bắc Hướng Hoá, nên thành phần loài bò sát, ếch nhái ở khu vực này chưa phản ánh đúng thực tế.

Bảng 4.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài bò sát, ếch nhái giữa một số KBTTN và VQG Địa điểm Động Châu-Khe

Bắc Hướng Hoá Động Châu-Khe

KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng tập hợp thành một nhánh địa lý gần nhau và đã được nghiên cứu kỹ lưỡng (xem hình 4.24) Trong khi đó, KBTTN Bắc Hướng Hóa chưa thực hiện nhiều nghiên cứu về bò sát và ếch nhái.

Trong Hình 4.24, sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái được nhóm theo các nhóm giữa một số khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG) ở Việt Nam, cho thấy mức độ chia sẻ loài giữa các địa điểm này và sự khác biệt giữa một số khu vực Phân tích dựa trên dữ liệu có sẵn và sử dụng bootstrap với 1000 lần lặp lại để đánh giá độ tin cậy của các nhánh trong cây phát sinh loài và sự nhóm địa lý của chúng Những kết quả này có ý nghĩa cho công tác quản lý đa dạng sinh học bò sát và ếch nhái tại Việt Nam, giúp xác định khu vực có sự phong phú cao và đặc trưng loài, từ đó hỗ trợ lập kế hoạch bảo tồn hiệu quả.

Ghi chú: BHH: Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá;PNKB: VQG Phong Nha -

Kẻ Bàng; CP: VQG Cúc Phương; DC-KNT: KDTTN Động Châu - Khe Nước

Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa

4.5.1 Đánh giá tình trạng bảo tồn

Trong tổng số 83 loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận tại KDTTN Động Châu - KNT, có 14 loài quý hiếm và đặc hữu, chiếm 16,86% tổng số loài được ghi nhận Trong số này, 08 loài được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam, chiếm 57,14% số loài quý hiếm và đặc hữu được ghi nhận, trong đó có 02 loài ở cấp CR (Rất nguy cấp) và 03 loài ở cấp EN (Nguy cấp).

Hiện có 03 loài ở bậc nguy cấp VU (Sẽ nguy cấp); có 07 loài được ghi nhận trong IUCN 2020, chiếm 50,00% số loài quý hiếm và đặc hữu được ghi nhận, trong đó có 01 loài ở bậc CR (Rất nguy cấp), 03 loài ở EN (Nguy cấp) và 03 loài ở VU (Sẽ nguy cấp) Có 07 loài được ghi tên trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP (chiếm 50,00% số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được); trong đó nhóm IB (nhóm các loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và thuộc phụ lục I công ước CITES) có 01 loài, nhóm IIB (nhóm các loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và thuộc phụ lục II công ước CITES) có 06 loài, và có 03 loài đặc hữu Việt Nam (chiếm 21,42% số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được).

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ 5/14 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm được ghi nhận, gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to và Tắc kè; 9 loài còn lại được ghi nhận bởi Phạm Thế Cường và cộng sự (2019).

Danh sách các loài ghi nhận tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong gồm Liu điu xanh, Nhái cây bà nà, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang Trung Quốc, Rắn sọc đốm đỏ, Rùa hộp bua-rê, Rùa sa nhân, Trăn đất và Trăn gấm Những loài này cho thấy mức độ hiếm của chúng tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Bảng 4.4 Tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

2 Tắc kè Gekko gecko VU

3 Liu điu xanh Takydromus hani VN

4 Trăn đất Python molurus CR VU IIB

5 Trăn gấm Python reticulatus CR IIB

6 Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus VU

7 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN

Rắn hổ mang trung quốc Naja atra

9 Rùa đầu to Platysternon megacephalum EN EN IB

10 Rùa hộp bua-rê Cuora bourreti (C galbinifrons) EN CR IIB

11 Rùa sa nhân Cuora mouhotii

12 Rùa bốn mắt Sacalia quadriocellata EN IIB

13 Nhái cây bà nà Kurixalus banaensis VN

14 Nhái cây trường sơn Philautus truongsonensis DD VN

4.5.2 Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

Kết quả phân tích và tổng hợp số liệu cho thấy, trong 17 tiểu khu rừng được nghiên cứu, tiểu khu 516 và 517 ghi nhận số loài bò sát và ếch nhái nhiều nhất với 29 loài ở mỗi tiểu khu, chiếm 51,8% tổng số loài ghi nhận được Tiếp theo là các tiểu khu 533, 534, 535 ghi nhận được lần lượt 26, 24, 20 loài bò sát, ếch nhái (xem hình 4.25 và bảng 4.5).

Hình 4.25 So sánh các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

Các tiểu khu còn lại đều ghi nhận dưới 10 loài ở mỗi tiểu khu, (chi tiết về số loài ghi nhận ở mỗi tiểu khu xem hình 4.6 và phụ lục 4)

Dựa trên ghi nhận 05 loài quý, hiếm gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, Tắc kè và các loài bò sát, ếch nhái khác tại các tiểu khu rừng KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong, chúng tôi tiến hành phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái dựa theo các tiêu chí được đề xuất tại bảng 4.5, phân các khu vực ưu tiên thành 04 cấp độ: CAO, TRUNG BÌNH, THẤP, CHƯA RÕ (chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá).

Số loài ghi nhận cao nhất/TK

Số loài ghi nhận/TK

Số loài ghi nhận ít nhất/TK

Bảng 4.5 Tiêu chí đề xuất xếp hạng khu vực ưu tiên bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Cấp độ ưu tiên

Một tiểu khu rừng được phân vùng để ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái ở mức cao, và mức độ ưu tiên này chỉ được áp dụng khi tiểu khu đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí được liệt kê dưới đây Việc xác định tiêu chí nhằm tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý hệ sinh thái rừng, đồng thời giúp bảo vệ nguồn gen và hành lang sống cho bò sát, ếch nhái, góp phần vào phát triển bền vững khu bảo tồn.

1 Có ít nhất 02 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có trên 20 loài bò sát, ếch nhái

Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái ở mức trung bình khi đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí được quy định, nhằm xác định những khu vực có giá trị bảo tồn cao Việc áp dụng mức trung bình giúp tập trung nguồn lực và quản lý hiệu quả hơn nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, chất lượng môi trường sống của bò sát và ếch nhái cũng như các hệ sinh thái liên quan.

1 Có 01 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có từ 11 đến dưới 20 loài bò sát, ếch nhái

Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức THẤP khi đáp ứng 02 (hai) tiêu chí sau:

1 Không có loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có dưới 11 loài bò sát, ếch nhái

CHƯA RÕ Các tiểu khu chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá

Kết quả tổng hợp, phân tích và đánh giá cho thấy các tiểu khu 516, 517, 533,

534, 535 được xếp vào phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái ở cấp độ CAO, do chúng đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên này Theo đó, các khu vực này ghi nhận số loài quý hiếm và đặc hữu lần lượt là 2, 3, 3, 2 và 2, đồng thời tổng số loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận lần lượt là 29, 29 và 26.

Trong khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, các tiểu khu chủ yếu là rừng giàu, có hệ thủy dày đặc và phân bố ở phía Tây; các tiểu khu 496, 522, 524, 525, 528, 529, 531 và 538 được xếp vào hạng phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở cấp độ TRUNG BÌNH, do đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên này khi có một loài quý hiếm, đặc hữu; các tiểu khu còn lại được xếp hạng phân vùng ưu tiên ở cấp độ THẤP (chi tiết xem bảng 4.6, hình 4.26 và phụ lục 4) Kết quả đề xuất phân khu ưu tiên bảo tồn nhằm cho các đơn vị chức năng cũng như đơn vị quản lý nắm rõ được tình trạng phân bố của các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu, từ đó có hoạch định chính sách và biện pháp bảo tồn các loài quý hiếm tại khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.6 Số loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được phân theo các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

Các loài quý hiếm, đặc hữu

Số loài thông thường khác 1

1Loài thông thường là loài không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN

2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và không phải loài đặc hữu

Hình 4.26 Bản đồ phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

4.5.3 Các nhân tố đe dọ a

Mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng và thực thi pháp luật tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong được triển khai nghiêm túc và quyết liệt, tuy nhiên do xung quanh khu bảo tồn chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều, điều kiện dân sinh và kinh tế ở các xã vùng đệm còn nghèo, cuộc sống lệ thuộc vào tài nguyên rừng nên các hoạt động bất hợp pháp tác động tới tài nguyên rừng vẫn thường xuyên xảy ra Qua quá trình điều tra, nghiên cứu và phỏng vấn cán bộ, người dân sống trong và quanh vùng đệm của Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong cũng như kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác tại khu vực, hiện nay các mối đe dọa đối với hệ bò sát và ếch nhái của khu này chủ yếu là: săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã, phá rừng và suy thoái môi trường sống, ô nhiễm nguồn nước, áp lực khai thác tài nguyên từ đời sống người dân vùng đệm và xâm nhập của tác nhân ngoại lai, khiến đa dạng sinh học tại đây chịu nhiều thách thức.

Hình 4.27 Săn bắt các loài bò sát ếch nhái làm thực phẩm tại Lâm Thủy

Ngày đăng: 12/04/2022, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1981. Kết quả điều tra cơ bản bò sát-ếch nhái Miền Bắc Việt Nam (1956-1976) trong Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam. Nxb KH và KT, Hà Nội. trang 365-427 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb KH và KT
13. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (1985): Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam. Hà Nội.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam. "Hà Nội
Tác giả: Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Năm: 1985
1. Bourret R., (1936) Les Serpents de l'Indochine. H. Dasuyau, Toulouse, Vol. 1 et 2, 141 et 505 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Serpents de l'Indochine
2. Bourret R., (1941) Les Tortues de l'Indochine. Mémoires de Institut Océanographique de L'Indochine, Hanoi, 253pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Tortues de l'Indochine
3. Bourret R., (1942) Les Batraciens de l'Indochine. Mémoires de Institut Océanographique de L'Indochine, Hanoi, 517pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Batraciens de l'Indochine
4. Camp-den Main S., (1970) A field guide to the snakes of South Vietnam. Smithsonian Institution Washington, 114 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: A field guide to the snakes of South Vietnam
5. Dao T. V., (1957) Rapport sur les recherches zoologiques dans la region de Vinh- Linh (Province de Quang-tri, Centre Vietnam). Journal of Zoology, 36(8): 1209-1216 (in Russian) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Zoology
6. Dao T. V. (1962) Data of the vertebrate fauna of Vietnam. Journal of Zoology, 41(5): 724-735 (in Russian) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Zoology
8. Frontier Vietnam (2002) Hardiman, N., Canh, L.X., & Fanning, E. (eds.) Kim Hy Proposed Nature Reserve: Biodiversity Survey and Conservation Evaluation.Frontier-Vietnam Forest Research Programme Report No. 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Hy Proposed Nature Reserve: Biodiversity Survey and Conservation Evaluation
11. Luu, V.Q., Nguyen, T.Q., Pham, C.T., Dang, K.N., Vu, T.N., Miskovic, S., Bonkowski, M. & Ziegler, T. (2013): No end in sight? Further new records of amphibians and reptiles from Phong Nha-Ke Bang National Park, Quang Binh Province, Vietnam. Biodiversity Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: No end in sight? Further new records of amphibians and reptiles from Phong Nha-Ke Bang National Park
Tác giả: Luu, V.Q., Nguyen, T.Q., Pham, C.T., Dang, K.N., Vu, T.N., Miskovic, S., Bonkowski, M. & Ziegler, T
Năm: 2013
13. Nguyen, S.V., Ho, C. T. & Nguyen, T.Q. (2009): Herpetofauna of Vietnam. Edition Chimaira, Frankfurt am Main Sách, tạp chí
Tiêu đề: Herpetofauna of Vietnam
Tác giả: Nguyen, S.V., Ho, C. T. & Nguyen, T.Q
Năm: 2009
14. Smith M.A. (1921) New of little known reptiles and batraciens from Southern Annam (Indo-China). Proceedings of the Zoological Society of London, 1(92): 423- 440 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Proceedings of the Zoological Society of London
18. Ziegler T. & Nguyen T.Q. (2010): New discovery of amphibians and reptiles from Vietnam. Bonn zoological Bulletin, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: New discovery of amphibians and reptiles from Vietnam
Tác giả: Ziegler T. & Nguyen T.Q
Năm: 2010
7. Forst, D. R. (2020): Amphibian Species of the World (http://research.amnh.org/ vz/herpetology/amphibia) Link
10. IUCN (2020): The IUCN Red List of Threatened Species (http://www.iucnredlist.org/) Link
17. Uetz, P. (2020): The Reptile Database (http://www.reptile-database.org) Link
9. Hammer, ỉ., Harper, D.A.T., Ryan, P.D. (2001): PAST: Paleontological statistics software package for education and data analysis. Palaeontologia Electronica 4(1) Khác
12. Magurran, A.E. & McGill, B.J. (2011): Biological diversity, Frontiers in measurement andAssessment, Oxford University Press (Oxford, New York) Khác
15. Smith M.A. (1935) The fauna of British India, including Ceylon and Burma. Amphibia and Reptilia, 2-Sauria. London Khác
16. Smith M.A. (1943) The fauna of British India, Ceylon and Burma, including the whole of the Indo-Chinese subregion. Reptiles and amphibians, 3-Serpentes. London, 525 pp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm