1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát

15 651 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
Tác giả Nguyễn Tất Toàn
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hiệp Thương
Trường học Đại Học Ngân Hàng Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – tiền tệ
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần mở đầu Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong việc triển khai các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô sau một thời gian su

Trang 1

Phần mở đầu

Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong việc triển khai

các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ

mô sau một thời gian suy giảm do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu Theo số liệu báo cáo thống kê mới nhất, tổng sản

phẩm trong nước bình quân 6 tháng đầu năm 2010 của Việt Nam đạt 6,16% so

cùng kỳ năm ngoái và theo xu hướng tăng quý sau cao hơn quý trước và tăng cả

ở ba khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Trong đó, khu vực nông,

lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,31%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng

6,50%; khu vực dịch vụ tăng 7,05%, điều này cho thấy nền kinh tế nước ta đang

phục hồi nhanh và có khả năng đạt mức tăng trưởng cao hơn trong thời gian tới

Tuy nhiên, đứng trước những biến động khó lường của kinh tế thế giới và

trong nước, những khó khăn thách thức đặt ra cũng không phải là nhỏ Chỉ số

tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng 4,78% là khá cao so với chỉ tiêu lạm phát cả

năm 2010 là 7% Do đó những lo ngại liên quan đến tình trạng lạm phát trở lại,

tình trạng nhập siêu lớn và thâm hụt ngân sách ở mức cao không phải là không

có căn cứ Việc điều chỉnh tỷ giá thời gian vừa qua một mặt đem lại nguồn cung

ngoại tệ dồi dào, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của thị trường và làm giảm tỷ giá,

song mặt khác cũng tiềm ẩn nguy cơ tăng nghĩa vụ trả nợ nước ngoài cũng như

trả nợ vay bằng ngoại tệ trong nước, làm tăng giá nhập khẩu Theo một số

chuyên gia kinh tế thì hiện nay lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhưng nhiều ý

kiến cũng cho rằng tình hình kinh tế vĩ mô vẫn chưa thật ổn định

Việc lựa chọn và thực thi chính sách tiền tệ trong năm 2010 và những năm

tiếp theo sẽ tiếp tục gặp phải những khó khăn phát sinh từ những vấn đề mang

tính căn nguyên, đó là thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách kéo dài, hiệu

quả sử dụng vốn đầu tư thấp, nguy cơ lạm phát gia tăng và sự phục hồi chưa

chắc chắn của kinh tế thế giới, nguy cơ khủng hoảng nợ công sẽ gây hiệu ứng

dây chuyền được bắt từ các nước châu Âu như Hy Lạp hiện nay… Do vậy, việc

hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ đúng đắn nhằm đạt được mục tiêu tăng

trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát tại Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp

bách mà thực tiễn đặt ra

Chính vì sự quan tâm đến những vấn đề trên mà học viên chọn đề tài:

“Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát

trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam” để nghiên cứu và hoàn thành bài tiểu luận

môn học Tài chính – tiền tệ của mình

Mục đích, đối tượng và phạm vi của việc nghiên cứu đề tài là nhằm củng cố

những lý thuyết về tài chính và tiền tệ đã được TS Lê Thị Hiệp Thương hướng

dẫn và truyền đạt, trên cơ sở đó phân tích thực trạng chính sách tiền tệ nước ta

trong thời gian qua đã tác động đến nền kinh tế như thế nào và đề xuất một số

Trang 2

chính sách, giải pháp trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ nhằm

mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sử dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứu khoa học kinh tế như phân tích, diễn giải, thống kê, so sánh qua các

năm để làm sáng tỏ chủ đề, nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Kết cấu của đề tài gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận

Nội dung đề tài

I Một số cơ sở lý luận về CSTT:

1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ :

tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ,

biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn

việc làm, tăng trưởng kinh tế Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà

chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: Chính sách tiền tệ mở

rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất

nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chống thất nghiệp); hoặc chính

sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất

kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - chính sách tiền tệ

ổn định giá trị đồng tiền)

Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền

tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào

lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách

kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách

kinh tế đối ngoại…

Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính

sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho

chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn

2 Các mục tiêu của chính sách tiền tệ:

NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng

tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua

đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua

Trang 3

đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ) Tuy vậy, CSTT

hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không,

vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được Trong điều kiện nền kinh tế trì

trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích

thích tăng trưởng kinh tế trở lại

CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu

quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ

lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp

nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng

Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch

định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó

ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện

lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả

hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà

Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời

Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn

với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau Vậyđể đạt được các mục tiêu trên một cách

hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các

chính sách kinh tế vĩ mô khác Phần lớn NHTW các nước coi sự ổn định giá cả

là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chính sách tiền tệ

3.Các công cụ của CSTT:

Để thực thi chính sách tiền tệ theo hướng mở rộng hay thắt chặt thì NHTW

có các công cụ điều tiết sau:

Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên

thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối

lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung

ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối

lượng tiền tệ

- Ưu điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là

một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng chứng

khoán mua (bán) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém

về chi phí, dễ đảo ngược tình thế

- Nhược điểm: Vì được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ

thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và mặt khác để công cụ này

hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ, thị trường

vốn

Trang 4

Công cụ dự trữ bắt buộc: NHTW qui định các NHTM phải duy trì một

lượng tiền dự trữ bắt buộc gửi tại NHTW mà không được dùng để đầu tư hay

cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi

của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và đảm bảo sự ổn định của hệ

thống ngân hàng

- Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp

đến số nhân tiền tệ trong cơ chế tạo tiền của các NHTM Mặt khác khi tăng hoặc

giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vay của các NHTM giảm hoặc tăng,

làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm), từ đó làm cho lượng cung ứng tiền giảm

(tăng)

- Ưu điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên giúp

NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó

cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh

hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền)

- Nhược điểm: Tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó

rất chậm, phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động

kinh doanh của các NHTM

cho vay ngắn hạn đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng

việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho

vay tái chiết khấu

- Cơ chế tác động: Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế

(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay

của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm

(tăng) Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của mình thì

thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại Ngoài ra, ở các nước có thị trường

chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để có thể làm công cụ tái chiết

khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc cho vay tái cấp

vốn ngắn hạn đối với các NHTM

Ưu điểm: Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người

cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn trong thanh

toán, và có thế kiểm soát được hoạt động tín dụng của các NHTM đồng thời có

thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua việc

ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể

Nhược điểm: hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho

vay của các NHTM, mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai

lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường

tổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng hay một tỷ lệ

tăng trưởng nào đó trong một thời gian nhất định (thông thường một năm) để

thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình

Trang 5

Cơ chế tác động :Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với

lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho

nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục

tiêu của NHTM

Ưu điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi

các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao

trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh

tế

Nhược điểm: Có thể triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM, làm

giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín

dụng ngoài sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu

tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

ấn định một trần lãi suất để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn

đó, từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể kiểm

soát được mức cung tiền

Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ

ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho

lượng tiền cung ứng thay đổi theo

Ưu điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục

tiêu của từng thời kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện

để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp

Nhược điểm: Dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì

thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính

quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định điều

chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động, tốn kém trong hoạt động kinh

doanh

4 Bẫy thanh khoản:

Liên quan đến việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ, nhất là trong

điều kiên nền kinh tế thường bất ổn hiện nay và những nỗ lực để thực hiện mục

tiêu tăng trưởng (chống suy giảm) hoặc kiềm chế lạm phát có thể rơi vào “bẫy

thanh khoản” Vậy bẫy thanh khoản là gì? Bẫy thanh khoản là hiện tượng trong

đó chính sách tiền tệ được nới lỏng bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất

xuống thấp quá một mức nhất định khiến cho mọi người quyết định giữ tài sản

của mình dưới dạng tiền mặt và chính sách tiền tệ trở nên bất lực Khi đó việc

điều tiết chu kỳ kinh tế chỉ còn trông cậy vào chính sách tài chính Đây là một

trong những lý luận của kinh tế học Keynes Kinh tế học Keynes cho rằng khi

nền kinh tế rơi vào tình trạng này thì chỉ có cách sử dụng tích cực chính sách tài

khóa (giảm thuế, tăng chi tiêu công cộng), tăng xuất khẩu ròng, khuyến khích tư

nhân đầu tư để đổi mới công nghệ Cũng có quan điểm cho rằng chính sách tiền

tệ không mất hoàn toàn hiệu lực mà vẫn có thể triển khai qua biện pháp giảm giá

Trang 6

đồng tiền trong nước để kích thích xuất khẩu ròng, thực hiện mục tiêu lạm phát,

biện pháp nới lỏng tiền tệ qua tăng trực tiếp lượng tiền cơ sở

II/ Điều hành CSTT của Việt Nam trong thời gian qua:

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới những năm vừa qua

đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước ta Chính phủ đã có nhiều biện

pháp can thiệp quyết liệt, kịp thời, trong đó phải kể đến vai trò hết sức to lớn của

NHNN với việc thực thi CSTT một cách linh hoạt, giúp ổn định giá cả, hạn chế

tối đa suy giảm nền kinh tế trong nước Có thể nhìn lại các biện pháp điều hành

cụ thể liên quan đến CSTT trong từng giai đoạn như sau:

- Từ cuối năm 2007 đến khoảng tháng 5 năm 2008: trong bối cảnh khủng

hoảng tài chính bắt đầu bùng phát tại Mỹ và dần lan ra phạm vi toàn cầu, tình

hình nền kinh tế trong nước thì lạm phát gia tăng, NHNN ngay lập tức đã áp

dụng CSTT thắt chặt bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND

dưới 12 tháng lên 11%; tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm; phát

hành hơn 20.000 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc Các giải pháp của Chính phủ nhằm

giảm lượng tiền trong lưu thông để chống lạm phát đã dẫn tới hệ lụy là tính

thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại bị sụt giảm nghiêm trọng và

xảy ra cuộc đua lãi suất giữa các ngân hàng, đẩy lãi suất huy động và cho vay

liên tiếp kịch trần Trong khi chính sách tiền tệ thắt chặt thì chính sách tài khóa

lại có sự nới lỏng, khiến áp lực lạm phát và lãi suất tiếp tục gia tăng Công cụ

CSTT thời gian này xem như chưa đạt hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát

- Từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 9 năm 2008: Chính phủ cùng đồng thời

thực thi CSTT và CSTK thắt chặt Tuy nhiên, tín hiệu xấu của kinh tế vĩ mô

những tháng đầu năm 2008 tiếp tục tạo sức ép cho nền kinh tế, lạm phát tiếp tục

leo thang Trước khó khăn đó, lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng lên 14% vào

tháng 6/2008 và giữ mức lãi suất đó đến tháng 9/2008, đồng thời áp dụng một số

biện pháp điều hành quyết liệt của NHNN nên lạm phát đã được ngăn chặn

- Kể từ đầu quý 4/2008, nguy cơ lạm phát leo tháng tạm thời được khống chế

nhưng nền kinh tế bước vào thời kỳ suy giảm nhanh chóng, một mặt do tác động

của khủng hoảng tài chính toàn cầu, mặt khác có thể do NHNN đã áp dụng

chính sách tiền tệ thắt chặt quá mạnh và đột ngột nên tiền mặt từ lưu thông được

rút về nhanh chóng do các NHTM huy động với lãi suất cao, mặt khác lãi suất

cho vay quá cao, có thời điểm kịch trần 21%/năm nên nền kinh tế nhanh chóng

rơi vào đà suy giảm Đến lúc này, để ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã

thực thi CSTT nới lỏng linh hoạt, giảm nhanh lãi suất cơ bản từ 14% xuống 7%/

năm, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mở rộng biên độ tỷ giá USD/VND lên +/-5%,

cho phép các TCTD thanh toán trước hạn hơn 20.000 tỷ đồng tín phiếu bắt

buộc…Có thể nói chỉ trong vòng một năm 2008, “vòng luẩn quẩn” từ việc

chống lạm phát rồi lại chống suy giảm đã biểu hiện khá rõ nét đối với nền kinh

tế Việt Nam

- Năm 2009, để thực hiện các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, Chính

phủ cũng đã áp dụng gói chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế 8 tỷ USD,

Trang 7

bao gồm việc miễn giảm thuế, sử dụng 1 tỷ USD từ dự trữ ngoại hối để hỗ trợ

lãi suất 4% cho các doanh nghiệp, tổ chức, các nhân vay vốn phát triển sản xuất

kinh doanh…

Từ những chính sách kinh tế trên, kinh tế nước ta nhanh chóng lấy lại đà

tăng trưởng GDP năm 2009 đạt 5,32%, tuy thấp hơn mức tăng trưởng của năm

2008 (6,18%) nhưng cao hơn chỉ tiêu được Quốc hội điều chỉnh là 5%; chỉ số

giá tiêu dùng năm 2009 tương đối ổn định, ngoài tháng 2 và tháng 12/2009 chỉ

số giá tiêu dùng tăng trên 1%, các tháng còn lại giảm hoặc tăng thấp nên chỉ số

giá tiêu dùng tháng 12 năm 2009 so với tháng 12 năm 2008 tăng 6,52%, thấp

hơn nhiều so với chỉ tiêu tăng dưới 10% Quốc hội đề ra Chỉ số giá tiêu dùng

bình quân năm 2009 tăng 6,88% so với bình quân năm 2008, là mức thấp nhất

trong 6 năm trước đó Tuy nhiên chỉ số CPI tháng 12/2009 tăng 1,38% so với

tháng trước đó, là mức tăng cao nhất trong năm 2009 Điều này khiến cho những

nhà hoạch định chính sách phải cẩn trọng với nguy cơ tái lạm phát xảy ra

trongnăm 2010

- Năm 2010, trong những tháng đầu năm, mặc dù kinh tế nước ta tiếp tục đối

mặt với những khó khăn và thách thức mới nhưng với sự chủ động, linh hoạt và

thận trọng, Chính sách tiền tệ đã đóng góp quan trọng cho quá trình phục hồi

kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, ngăn chặn lạm phát cao trở lại, tăng

khả năng bảo đảm an sinh xã hội, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam với vai trò là cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền

tệ, đã thực hiện điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng

nhằm kiểm soát tăng trưởng tiền tệ ở mức hợp lý, điều tiết lãi suất và tỷ giá phù

hợp với các cân đối vĩ mô, đảm bảo khả năng an toàn thanh toán của hệ thống và

hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế đảm bảo phù hợp với các Nghị quyết của

Quốc hội và Chính phủ, trong đó các biện pháp cơ bản như:

+ Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện các biện pháp chính sách tiền tệ tập

trung vào việc thiết lập một mặt bằng lãi suất mới, ổn định theo xu hướng giảm

dần để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Đồng thời, NHNN kiểm soát chất lượng cũng

như tốc độ tăng trưởng tín dụng gắn với tăng trưởng nguồn vốn; từng bước hạn

chế những mất cân đối kỳ hạn vốn đã tồn tại từ lâu trong hệ thống ngân hàng

thương mại Việt Nam Đặc biệt, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ được kiểm

soát chặt chẽ gắn với tăng trưởng nguồn vốn ngoại để đảm bảo thanh khoản, góp

phần đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu hàng hóa thiết yếu, qua đó giảm

áp lực lên tỷ giá

+ Mặt khác, để ổn định thị trường ngoại hối, tăng cung ngoại tệ cho các

NHTM và hạn chế việc găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp, NHNN đã sử

dụng công cụ tiền tệ gián tiếp, khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ cho

ngân hàng Cụ thể, cơ quan này đã thực hiện hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại

tệ, hạ lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp và nâng tỷ giá danh

nghĩa lên thêm 3,36% Cùng lúc, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực

mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước Đồng thời, NHNN

bán ngoại tệ ở mức hợp lý để hỗ trợ ngoại tệ nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu

Trang 8

phục vụ sản xuất Ngoài ra, cơ quan này cũng tiến hành đóng cửa sàn vàng, góp

phần quan trọng ổn định tỷ giá cũng như ổn định thị trường ngoại hối

+ Triển khai thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như để ổn định lãi suất thị

trường theo xu hướng giảm dần, theo đó NHNN đã tích cực hỗ trợ thanh khoản

cho các NHTM với kỳ hạn dài hơn, khối lượng lớn hơn so với trước đây thông

qua hoạt động tái cấp vốn, thị trường mở, hoán đổi ngoại tệ, mua ngoại tệ để

tăng dự trữ ngoại hối và can thiệp tỷ giá phù hợp trên thị trường

+ Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 17.961VND/1USD lên

18.544VND/1USD; điều chỉnh lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức

kinh tế (trừ TCTD) tại TCTD xuống còn 1%/năm và giảm mạnh dự trữ bắt buộc

bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% kể từ kỳ dự trữ bắt buộc tháng 2/2010

+ Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và đẩy mạnh quy mô tín dụng cho

các dự án trọng điểm của nhà nước, DNNVV và các chi phí sản xuất nông, lâm,

ngư, diêm nghiệp, thu mua và chế biến nông sản phục vụ xuất khẩu

+ Phối hợp với Hiệp hội Ngân hàng và chỉ đạo các NHTM nhà nước nâng

cao vị thế, tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn và điều chỉnh giảm

dần lãi suất cho phù hợp với diễn biến kinh tế và quy luật thị trường

+ Chỉ đạo các NHTM thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản

vay ngắn hạn VND phát sinh trong năm 2009 và tiếp tục triển khai cơ chế hỗ trợ

lãi suất đối với những khoản vay trung, dài hạn VND, khu vực nông nghiệp,

nông dân và nông thôn…

Với những biện pháp điều hành trên của NHNN, kết quả là thị trường tiền tệ

về cơ bản ổn định trở lại, lãi suất thị trường đã nằm trong ngưỡng kiểm soát của

NHNN, tiền gửi dân cư tăng, đầu tư của tổ chức kinh tế tăng, chỉ tính riêng trong

Quý 1/2010, dư nợ tín dụng tăng 3,34% so với cuối năm 2009, thanh khoản và

tiền mặt cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu phát triển kinh tế, lòng tin của các tầng lớp

dân cư và các tổ chức kinh tế đối với hệ thống ngân hàng và đối với chủ trương,

chính sách do hệ thống ngân hàng thực hiện ngày càng được nâng cao Trạng

thái ngoại tệ của các NHTM trong những tháng đầu năm 2010 tương đối tốt khi

các NHTM đang tự cân đối được cung - cầu ngoại tệ của mình, diễn biến tỷ giá

đã có nhiều tín hiệu lạc quan khi tỷ giá trên thị trường chính thức duy trì xu

hướng ổn định và tỷ giá tự do đang tiến gần sát với tỷ giá chính thức; sự ổn định

của thị trường ngoại hối là nhân tốt, có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngặn

chặn nguy cơ lạm phát trước mắt và tạo được niềm tin của doanh nghiệp và

người dân vào sự ổn định của tỷ giá, khả năng can thiệp và kiểm soát thị trường

ngoại hối của Nhà nước cũng được nâng lên… Từ những chính sách, biện pháp

trên đã góp phần phục hồi nhanh tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả trong

nước, cụ thể là:

+ Tổng sản phẩm trong nước quý I/2010 tăng 5,83% so với cùng kỳ năm

2009, ước tính quý II/2010 tăng 6,4%, bằng 109,8% tốc độ tăng quý I/2010

Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng sản phẩm trong nước tăng 6,16% so với cùng

kỳ năm trước Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm tuy chưa

Trang 9

bằng mục tiêu 6,5% đề ra cho cả năm nhưng đã gấp 1,6 lần tốc độ tăng trưởng 6

tháng đầu năm 2009 và tăng cả trong ba khu vực Xu hướng tăng trưởng quý sau

cao hơn quý trước trong 6 tháng đầu năm cho thấy nền kinh tế nước ta đang

phục hồi nhanh và đạt mức tăng trưởng cao

Bảng1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2010

%

Tốc độ tăng so với

6 tháng đầu năm trước

Đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2010

6 tháng đầu năm 2009

6 tháng đầu năm 2010

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 1,47 3,31 0,59

(Nguồn: www.gso.gov.vn )

+ Kết quả ngăn ngừa lạm phát cao trở lại :

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2010 tăng 0,22% so với tháng trước, tăng

8,69% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,78% so với tháng 12/2009 Tuy chỉ

số giá tiêu dùng quý I/2010 có biểu hiện tăng cao trở lại với mức tăng bình quân

tháng là 1,35%, nhưng sang quý II mức tăng bình quân tháng đã giảm xuống còn

0,21%, bằng 15,6% mức tăng bình quân tháng trong quý I/2010 và bằng một

nửa mức tăng bình quân tháng trong quý II/2009 Điều này cho thấy các chính

sách bình ổn giá đã bước đầu phát huy tác dụng Tuy nhiên, giá trên thị trường

thế giới còn có những biến động khó lường, đặc biệt là giá các mặt hàng nguyên,

nhiên vật liệu phục vụ sản xuất do kinh tế thế giới trên đà phục hồi, nhiều nền

kinh tế lớn đang kỳ vọng đạt mức tăng trưởng cao Điều này chắc chắn sẽ tác

động mạnh đến thị trường giá cả và sản xuất trong nước trong thời gian tới

Giá vàng tháng 6/2010 so với tháng trước tăng 3,09%; so với tháng 12/2009

tăng 0,3% và so với cùng kỳ năm trước tăng 32,43% Giá đô la Mỹ tháng 6/2010

so với tháng trước giảm 0,17%; so với tháng 12/2009 tăng 0,41% và so với cùng

kỳ năm 2009 tăng 5,53%

Tóm lại, trong hơn hai năm qua, mặc dù nền kinh tế nước ta hết sức khó

khăn do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trên phạm vi

toàn cầu Tuy nhiên, bằng nhiều biện pháp tích cực, trong đó việc NHNN điều

hành các CSTT một cách linh hoạt theo tín hiệu thị trường và phù hợp với

những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam đã góp phần đưa nền kinh tế phục hồi

đà tăng trướng, lạm phát cơ bản được kiểm soát

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc điều hành

CSTT thời gian qua của NHNN còn một số hạn chế, đó là:

- Nhìn chung việc điều hành CSTT của NHNN kể từ khi xảy ra khủng hoảng

tài chính năm 2008 đến nay đôi lúc còn biểu hiện sự lúng túng, chưa có tính nhất

quán và mang tính ổn định, chủ yếu là những giải pháp tình thế nhằm ứng phó

với những biến động trái chiều của nền kinh tế Nền kinh tế đứng trước nguy cơ

Trang 10

của vòng luẩn quẩn: Lạm phát > chống lạm phát > nới lỏng tiền tệ và tài khoá để

chống suy thoái > lại lạm phát > lại chuẩn bị chống lạm phát

- Để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội mà Quốc hội đã thông qua cho năm

2010, chính sách tiền tệ (CSTT) phải theo đuổi cùng lúc 3 mục tiêu: ổn định

kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát Đây là một nhiệm vụ

khó khăn bởi giữa các mục tiêu trên, có những nhân tố hạn chế lẫn nhau Thông

thường, các biện pháp CSTT để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dễ dẫn đến tăng

lạm phát, và tăng tính bất ổn kinh tế vĩ mô Bối cảnh nhập siêu tăng cao hiện nay

lại càng hỗ trợ cho điều đó

- Tình trạng "đô la hóa" nền kinh tế cũng là một thách thức đối với việc thực

thi CSTT Thách thức này càng lớn trong bối cảnh diễn biến thị trường quốc tế

và trong nước còn có những biến động khó lường Để hạn chế những tác động

bất lợi từ tình trạng này đối với việc thực thi CSTT 6 tháng cuối năm, NHNN

luôn phải chú ý đến mối quan hệ hợp lý giữa lãi suất ngoại tệ với lãi suất VND

và tỷ giá, để đảm bảo không có sự dịch chuyển đột biến giữa các dòng tiền

- Lạm phát trong 3 tháng gần đây đã có xu hướng giảm và tháng 6, CPI tăng

8,69% so với cùng kỳ Đây là xu hướng thuận lợi cho thực thi CSTT, nhưng để

kiểm soát lạm phát ở mức 7% của cả năm như mục tiêu đề ra vẫn là thách thức,

nhất là khi cần phải hạ lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Do vậy, CSTT phải

đảm bảo kiểm soát được cung tiền, chất lượng tín dụng Tuy nhiên, NHNN gặp

phải một khó khăn trong việc kiểm soát cung tiền của toàn bộ nền kinh tế do

không nắm được dòng tiền thu - chi của ngân sách nhà nước Vì vậy, giữa

NHNN và Bộ Tài chính cần có sự phối hợp; Bộ Tài chính cần tạo điều kiện cho

NHNN nắm bắt được các kế hoạch thu chi của Bộ, hoặc cho phép NHNN có thể

chủ động sử dụng nguồn tiền gửi của ngân quỹ nhà nước tại NHNN như là một

công cụ để điều tiết lượng tiền lưu thông

III/ Định hướng một số chính sách và giải pháp:

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững và kiểm soát lạm phát có

hiệu quả thì việc lựa chọn và thực thi một CSTT đúng đắn là hết sức quan trọng

Sau đây là gợi ý một số chính sách, giải pháp có liên quan có thể xem xét:

1) Nhóm giải pháp ngắn hạn: Để đạt được mục tiêu của phát triển kinh tế

-xã hội của Quốc hội và Chính phủ trong năm 2010 là kiểm soát chỉ số giá tiêu

dùng dưới 7% và đảm bảo tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5%, trong những tháng

cuối năm 2010, NHNN cần quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp và nhiệm

vụ điều hành chính sách tiền tệ đã đặt ra cho năm 2010, theo đó hoạt động điều

hành chính sách tiền tệ luôn phải chủ động, linh hoạt, thận trọng với mục tiêu

là kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 20% và tăng

trưởng tín dụng khoảng 25% đồng thời tiếp tục điều tiết lãi suất và tỷ giá theo

hướng ổn định, cụ thể như sau:

- Tiếp tục điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, lãi

suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu để kiểm soát mặt bằng lãi suất thị trường ở

Ngày đăng: 25/11/2012, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cho một mô hình thống kê (X; B ;P ;∈ ), trong đó là khoảng mở trong không gian Euclide k chiều vàPvớilà độ đo−hữu hạn trên B: Đặt - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
ho một mô hình thống kê (X; B ;P ;∈ ), trong đó là khoảng mở trong không gian Euclide k chiều vàPvớilà độ đo−hữu hạn trên B: Đặt (Trang 10)
1.3.1 Giới thiệu mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
1.3.1 Giới thiệu mô hình hồi quy tuyến tính cổ điển (Trang 12)
Mô hình trên có thể viết dưới dạng ma trận như sau: - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ình trên có thể viết dưới dạng ma trận như sau: (Trang 13)
1.Trong mô hình tuyến tính cổ điển (1.1) và (1.2) với hạng đầy đủ k+1 n thì ước lượng - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
1. Trong mô hình tuyến tính cổ điển (1.1) và (1.2) với hạng đầy đủ k+1 n thì ước lượng (Trang 15)
mô hình này biến đáp ứng Y được giả thiết là có phân bố Poisson và phụ thuộc vào các biến độc lập theo mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
m ô hình này biến đáp ứng Y được giả thiết là có phân bố Poisson và phụ thuộc vào các biến độc lập theo mô hình (Trang 16)
mô hình hồi quy logistic. Trong mô hình hồi quy logistic người ta giả sử rằng - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
m ô hình hồi quy logistic. Trong mô hình hồi quy logistic người ta giả sử rằng (Trang 17)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 19)
mô hình đưa ra. Các biến kết quả Y1; :::; Yn độc lập là các biến ngẫu nhiên nhị phân (0-1), tức cho giá trị là 1 khi đứa trẻ có trọng lượng sinh thấp và 0 trong - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
m ô hình đưa ra. Các biến kết quả Y1; :::; Yn độc lập là các biến ngẫu nhiên nhị phân (0-1), tức cho giá trị là 1 khi đứa trẻ có trọng lượng sinh thấp và 0 trong (Trang 20)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 21)
Các mô hình hồi quy bao gồm các quan sát (x i; Yi ). Ký hiệu g(y | x) là mật độ thật choY|x - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
c mô hình hồi quy bao gồm các quan sát (x i; Yi ). Ký hiệu g(y | x) là mật độ thật choY|x (Trang 22)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 23)
mà cũng dẫn đến phân phối giới hạn chuẩn, thậm chí khi mô hình giả định không bằng mô hình thật, - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
m à cũng dẫn đến phân phối giới hạn chuẩn, thậm chí khi mô hình giả định không bằng mô hình thật, (Trang 24)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 25)
Mô hình Weibull có hàm phân phối tích lũy là - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ình Weibull có hàm phân phối tích lũy là (Trang 26)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 27)
Ở đây khoảng cách Kullback-Leibler càng nhỏ thì mô hình tham số càng gần với mô hình thật - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
y khoảng cách Kullback-Leibler càng nhỏ thì mô hình tham số càng gần với mô hình thật (Trang 28)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 29)
Như vậy cần chọn mô hình có Q^ n− p∗ =n lớn nhất, mà - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ư vậy cần chọn mô hình có Q^ n− p∗ =n lớn nhất, mà (Trang 30)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 31)
Mô hình ‘ n( ^) length( ) Giá tị AIC Thứ tự - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ình ‘ n( ^) length( ) Giá tị AIC Thứ tự (Trang 32)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 33)
tới mô hình ước lượn gf (y|x; ^) .Ở đây giả sử rằng g(y | x) có trung bình (x) - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
t ới mô hình ước lượn gf (y|x; ^) .Ở đây giả sử rằng g(y | x) có trung bình (x) (Trang 34)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 35)
Một mô hình có thể được tìm thấy bằng cách tính toán xác suất hậu nghiệm của mỗi mô hình và lựa chọn mô hình với xác suất hậu nghiệm lớn nhất - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
t mô hình có thể được tìm thấy bằng cách tính toán xác suất hậu nghiệm của mỗi mô hình và lựa chọn mô hình với xác suất hậu nghiệm lớn nhất (Trang 36)
Chương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
h ương 2. Một số tiêu chuẩn lựa chọn mô hình (Trang 37)
của hàm hợp lý biên duyên hoặc các thừa số Bayes. Đối với hai mô hình M1 và M 2, thừa số Bayes là bằng với sự chênh lệch hậu nghiệm chia cho sự chênh lệch - Chính sách tiền tệ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát
c ủa hàm hợp lý biên duyên hoặc các thừa số Bayes. Đối với hai mô hình M1 và M 2, thừa số Bayes là bằng với sự chênh lệch hậu nghiệm chia cho sự chênh lệch (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w