1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​

85 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST
Người hướng dẫn Gs.Ts. Vũ Tiến Hinh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm học
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Theo Phùng Ngọc Lan 1986 [22], trên thế giới có nhiều trường phái phân loại rừng khác nhau như: * Trường phái Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu G.F.Môrôdôp 1912 tiến hành phân loại r

Trang 1

đào xuân tới

Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc

từ số liệu các oĐVNCST

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội, 2010

Trang 2

đào xuân tới

Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nhu cầu gỗ và lâm sản ngày càng tăng, kéo theo việc khai thác và sử dụng rừng quá mức, công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả ở nhiều địa phương khiến các khu rừng giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Diễn thế rừng đi theo chiều hướng tiêu cực bởi sự thiếu hụt các loài cây có giá trị, đất đai bị thoái hoá, rừng có sức sản xuất thấp và kém ổn định Sự mất rừng kéo theo sự suy thoái về các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước Hiện nay, nhiều nơi đã xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng Vì vậy, cuộc sống và sự phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư trong khu vực bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho công tác phát triển rừng

Để khắc phục tình trạng trên, Đảng, nhà nước và ngành Lâm nghiệp đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng như: chủ trương hạn chế khai thác tiến tới đóng cửa rừng tự nhiên nhằm bảo vệ khoanh nuôi phục hồi rừng, chương trình bảo vệ 9,3 triệu ha rừng hiện có, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh

là biện pháp kỹ thuật then chốt để cải thiện và làm cho rừng có cấu trúc phù hợp nhất với mục đích quản lý, nhằm đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh doanh rừng Tuy nhiên, do thiếu những nghiên cứu cơ bản về hệ thống cấu trúc và tái sinh rừng nên ở nhiều nơi người ta không dám tác động vào rừng bằng bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào hoặc nếu có thì hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật cũng không cao gây nhiều hậu quả tiêu cực tới rừng

Trên quan điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc thể hiện rõ mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường Mỗi khu vực, mỗi điều kiện sinh thái khác nhau sẽ cho những khu rừng có tính đặc thù khác nhau cần được nghiên cứu Khu vực miền núi phía bắc, diện tích rừng tự nhiên nhiều nhưng hiện nay đang bị suy giảm nghiêm

Trang 4

trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, các biện pháp kỹ thuật áp dụng ở đây chủ yếu là khoanh nuôi, bảo vệ mà ít có biện pháp tác động mang tính đột phá phát huy tối đa sức sản xuất cũng như các chức năng có lợi khác của rừng, đồng thời vẫn bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học

Thực tiễn đã chứng minh rằng, các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản

lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy

đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng Do vậy, việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc ở từng khu vực sẽ giúp cho các nhà Lâm học có thể chủ động trong việc xác lập kế hoạch và các biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý kinh doanh rừng lâu bền Xuất phát từ yêu

cầu và thực tiễn đó, đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự

nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST" được thực

hiện nhằm góp phần bổ sung những hiểu biết mới về cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng, tính đa dạng sinh vật và hướng phát triển bền vững hệ sinh thái rừng tự nhiên

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cấu trúc rừng tự nhiên đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhằm xây dựng các cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo vệ, kinh doanh rừng hợp lý, có hiệu quả cao, đạt yêu cầu về kinh tế lẫn môi trường sinh thái Tuy nhiên, với

sự đa dạng và phong phú của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới tại Việt Nam thì vấn đề nghiên cứu cấu trúc rừng vẫn là một ẩn số đối với các nhà nghiên cứu,

có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như sau:

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Phân loại rừng phục vụ kinh doanh

Công việc rất cần thiết và thường được làm đầu tiên trong kinh doanh rừng tự nhiên là phân loại rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên nhiệt đới có cấu trúc phức tạp Phân loại rừng nhằm mục tiêu xác định các đơn vị kinh doanh để đi tới hoạt động kinh doanh rừng có hiệu quả cao

- Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [22], trên thế giới có nhiều trường phái

phân loại rừng khác nhau như:

* Trường phái Liên Xô cũ và một số nước Đông Âu

G.F.Môrôdôp (1912) tiến hành phân loại rừng dựa vào 5 nhân tố hình thành là: (1) Đặc tính sinh thái học của loài cây cao; (2) Hoàn cảnh địa lý; (3) Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ qua lại giữa chúng với khu hệ động vật rừng; (4) Nhân tố lịch sử, địa chất; (5) Tác động của con người

P.S Pôgrepnhiac, xuất phát từ quan điểm của G.F.Môrôdôp phân loại rừng tự nhiên thành 3 cấp: (1) Kiểu lập địa: là cấp phân loại lớn nhất, bao gồm mọi khu đất có điều kiện thổ nhưỡng giống nhau, kể cả khu đất có rừng hay không có rừng (2) Kiểu rừng: là tổng hợp những khu đất có điều kiện thổ

Trang 6

nhưỡng và khí hậu giống nhau (3) Kiểu lâm phần: bao gồm những khoảnh rừng giống nhau cả về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và quần lạc thực vật rừng

* Trường phái Bắc Âu: có 2 quan điểm khác nhau

+ Quan điểm sinh thái học: Phân loại kiểu rừng căn cứ vào hai nhân tố là độ

ẩm và độ phì Độ ẩm chia làm 5 cấp: rất khô, khô, hơi ẩm, ẩm, ướt; độ phì chia làm 4 cấp: xấu, tốt, giàu, rất giàu Sự kết hợp các chỉ tiêu độ ẩm, độ phì, cùng với các loài cây gỗ và thực vật thảm tươi chỉ thị là cơ sở để phân loại kiểu rừng

+ Quan điểm địa lý thực vật: Phân loại kiểu rừng dựa vào đặc trưng chủ yếu

là tổ thành thực vật và coi quần hợp thực vật là đơn vị phân loại cơ bản

- Theo Hoàng Kim Ngũ (2005) [26] về cách Phân loại rừng ở Trung Quốc: Các nhà sinh thái học và lâm học Trung Quốc đã tham khảo những nguyên tắc và phương pháp phân loại của một số nhà sinh thái thực vật nước ngoài, đã áp dụng phương pháp phân loại đẳng cấp, nguyên tắc sinh thái quần

xã, đặc trưng tổng hợp của bản thân quần xã làm căn cứ như: tổ thành loài của quần xã, kết cấu ngoại mạo, phân bố địa lý, động thái diễn thế, môi trường sinh thái để chia ra các cấp phân loại khác nhau Đơn vị phân loại chủ yếu là 3 cấp: (1) Loại hình thực bì (đơn vị cấp cao); (2) Quần hệ (đơn vị cấp trung); (3) Quần

xã (đơn vị cơ bản) Trên mỗi cấp lại chia ra các cấp phụ Căn cứ phân loại đơn

vị cấp cao chủ yếu dựa vào ngoại mạo, kết cấu và đặc trưng sinh lý, sinh thái, cấp trung và dưới cấp trung chủ yếu căn cứ vào tổ thành loài

Nhìn chung, mỗi cách phân loại tuỳ thuộc vào kiểu rừng và mục đích kinh doanh mà lựa chọn nhân tố chủ đạo phân loại khác nhau

1.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

1.1.2.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian, là một hình thái biểu hiện

Trang 7

bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau

và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp, đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng

Những năm gần đây, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã được bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các biện pháp tác động hợp lý đối với rừng tự nhiên Các phương thức lâm sinh ra đời

và được thử nghiệm nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải thiện tái sinh (RIF, 1927), phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945),…

Richard P.W (1952) [32], đã phân biệt tổ thành thực vật rừng mưa thành hai loại: rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây rất phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản và trong những điều kiện đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây

Baur G.N (1964) [1], đã nghiên cứu về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa, tác giả đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Các phương thức xử

lý mà tác giả đưa ra đều có 2 mục tiêu rõ rệt: (1) nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và cây phi mục đích để tạo không gian dinh dưỡng và ánh sáng hợp lý cho các cây có giá trị sinh trưởng, phát triển (2) tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo sau khi khai thác, chăm sóc nuôi dưỡng rừng Từ đó, tác giả đã đưa ra nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử

lý cải thiện rừng mưa

Odum E.P (1971) [27], đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ

sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tansley A.P, năm 1935 Các sinh vật và hoàn cảnh bên ngoài của chúng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ở trạng

Trang 8

thái thường xuyên có tác động Từ đó, khái niệm về hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học

1.1.2.2 Mô tả hình thái cấu trúc rừng

Richards P.W (1952) [32] cho rằng, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ Rừng mưa thường

có nhiều tầng, trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và cây thân

cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dạng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây

Catinot R (1965) [6], nghiên cứu những cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại và đưa ra những khái niệm dạng sống, tầng phiến Biểu diễn các đặc trưng cấu trúc rừng mưa và hình thái của chúng bằng những phẫu đồ rừng

Rollet (1971) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], đã mô tả cấu trúc hình thái rừng mưa bằng các phẫu đồ, biểu diễn các mối tương quan giữa chiều cao vút ngọn và đường kính ngang ngực, tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực bằng các hàm hồi quy

Kraft (1884) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22], tiến hành phân chia những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp Kraft với các tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng đơn giản và dễ áp dụng, phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng

Như vậy, khi nghiên cứu về tầng thứ, hầu hết các tác giả đưa ra những nhận xét mang tính định tính, chưa thực sự phản ánh được sự phức tạp về cấu trúc của rừng tự nhiên nhiệt đới

1.1.2.3 Nghiên cứu về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần và đã được nhiều tác giả nghiên cứu Các công trình nghiên

Trang 9

cứu quy luật này, hầu hết dùng phương pháp giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều phân bố xác suất khác nhau

+ Meyer (1934) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer

+ Rollet (1971) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], mô phỏng quy luật phân

bố số cây theo đường kính thân cây ở vị trí 1,3 m dưới dạng phân bố xác suất

+ Tiếp đó nhiều tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của đường cong phân bố Bally (1973) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba Diatchenko, Z.N (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới Loetsch (1973) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], dùng hàm Beta để nắm phân bố thực nghiệm J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [9], trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với

60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N/D1.3 Nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, hàm Poisson, hàm Logarit chuẩn, hàm Pearson…

1.1.3 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Khi điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22], các ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1 - 4 m2 Do diện tích điều tra nhỏ nên việc đo đếm được dễ dàng nhưng yêu cầu số lượng ô phải đủ lớn

và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng, điều này cũng được thừa nhận ở các công trình nghiên cứu sau này

Barnard (1955) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22], để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, tác giả đã đưa ra phương pháp “điều tra chuẩn

Trang 10

đoán”, theo phương pháp này kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh

Bara (1954), Budowski (1956) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22] cho rằng, dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này

là cần thiết Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể

Van Steenis (1956) (theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [22] cho rằng, hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới

Baur G.N (1964) [1], khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Tác giả có nhận xét, trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm thì ảnh hưởng là không rõ ràng

Các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng sau này, nhiều tác giả có nhận xét: Thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh, mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh; Với rừng mưa nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Số lượng loài cây có giá trị về kinh tế không nhiều, đây là những loài được ưu tiên trong kinh doanh rừng, các loài cây ít có giá trị kinh tế thường không được quan tâm, khi tác động các biện pháp kỹ thuật thường tiến hành loại bỏ những loài cây này, mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng

Khi nghiên cứu về tái sinh, hầu hết các tác giả đều dựa trên cơ sở thu thập số liệu tái sinh trên ô dạng bản để phân tích, đánh giá Cần kết hợp cả ba

Trang 11

chỉ tiêu: mật độ, sức sống, khả năng sinh trưởng của cây con để đánh giá, nhưng khi phân tích có thể tách riêng

Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên Đó là những cơ sở

để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng trong đề tài này

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Phân loại rừng phục vụ kinh doanh

Năm 1960 để phục vụ cho công tác điều tra, điều chế rừng gỗ mỏ Quảng Ninh, các nhà khoa học Việt Nam đã ứng dụng phương pháp phân loại rừng của Loeschau để phân loại rừng theo trạng thái hiện tại Đây là hệ thống phân loại được sử dụng trong thời gian dài và phổ biến ở Việt Nam Viện Điều tra - Quy hoạch rừng, đã dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau, cải tiến cho phù hợp hơn với đặc điểm rừng tự nhiên Việt Nam và cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng hiện tại phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên

Thái Văn Trừng (1978) [37], dựa trên quan điểm sinh thái đã xây dựng

hệ thống phân loại thảm thực vật, chia rừng tự nhiên Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật Theo tác giả: không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản như các tác giả đã sử dụng ở vùng ôn đới Ông đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần thể làm tiêu chuẩn phân loại Nhóm nhân tố sinh thái tham gia tác động trong quá trình hình thành các kiểu thảm thực vật gọi là những nhóm nhân tố sinh thái phát sinh, bao gồm: Địa lý - địa hình; Khí hậu - thuỷ văn; Đá mẹ - thổ nhưỡng; Khu hệ thực vật; Sinh vật và con người Phân loại rừng của Thái Văn Trừng có cơ sở khoa học chắc chắn, có cơ sở thực tiễn tại nước ta Tuy nhiên, đơn vị phân loại còn quá lớn, trong quá trình kinh doanh rừng cần thiết phải chia nhỏ hơn nữa

Trang 12

Vũ Đình Huề (1984) [16], dựa trên hệ thống phân loại rừng của Loeschau, phân chia trạng thái rừng phục vụ công tác kinh doanh rừng căn cứ vào trạng thái hiện tại

Vũ Biệt Linh (1984) [23], dựa vào mục đích, nội dung, phương thức kinh doanh phân chia rừng, đất rừng nhằm tổ chức và định hướng tác nghiệp kinh doanh theo các đối tượng khác nhau để đạt được hiệu quả cao nhất

Vũ Đình Phương (1988) [29], khi xác định cấu trúc quần thể rừng phù hợp cho từng đối tượng và mục tiêu điều chế đã dựa vào các đặc trưng: nhóm sinh thái tự nhiên, giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình, đặc điểm thổ nhưỡng để phân chia rừng thành những lô khác nhau phục vụ điều chế rừng Bảo Huy (1993) [18], dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau phân chia trạng thái rừng hiện tại của lâm phần Bằng lăng ở Tây nguyên Thông qua trị số IV% tác giả cũng xác định các loại hình xã hợp thực vật với các ưu hợp khác nhau

Đào Công Khanh (1996) [20], dựa vào tổ thành các loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xác định các biện pháp kỹ thuật lâm sinh

Lê Sáu (1996) [33], dựa trên bảng phân loại Loeschau để phân loại trạng thái các lâm phần rừng kín thường xanh ở Kon Hà Nừng

Hầu hết nghiên cứu của các tác giả những năm gần đây khi phân chia rừng đều dựa trên hệ thống phân loại của Loeschau, được Viện Điều tra - Quy hoạch rừng cải tiến cho phù hợp hơn với đặc điểm rừng tự nhiên Việt Nam

Như vậy, việc phân loại tài nguyên rừng ở Việt Nam là rất cần thiết cho nghiên cứu, cũng như phục vụ sản xuất kinh doanh Tuỳ mục tiêu và đối tượng cụ thể mà áp dụng các phương pháp phân chia khác nhau, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh rừng

Trang 13

1.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên của nước ta rất phong phú Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên, việc làm đầu tiên thường được tiến hành là phân loại rừng, tiếp đó là xác định cấu trúc tổ thành rừng Các nghiên cứu của các tác giả như: Thái Văn Trừng (1978) [37], Vũ Đình Huề (1984) [16], Đào Công Khanh (1996) [20], Vũ Thị Thuần (2004) [36], Võ Văn Sung (2005) [34], Nguyễn Văn Hoàn và Lê Ngọc Công (2006) [15], Cao Thị Thu Hiền (2008) [12]… Để xác định tổ thành rừng, các tác giả đều sử dụng chỉ số IV% làm chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành Thông qua công thức tổ thành, đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp trong công tác bảo vệ và khoanh nuôi phục hồi rừng

Khi nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng, hầu hết các tác giả đi sâu vào việc tìm ra hàm toán học thích hợp, mô phỏng tốt các quy luật phân bố thực nghiệm và các quy luật tương quan Trong các quy luật phân bố thì quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) là quy luật được quan tâm đặc biệt,

vì thông qua quy luật này, có thể biết được những quy luật cấu trúc cơ bản của lâm phần về kết cấu mật độ và tầng thứ, để qua đó có những giải pháp tác động thích hợp vào rừng, nhằm điều chỉnh cấu trúc rừng, dẫn dắt rừng đến cấu trúc có thể đáp ứng được các mục tiêu mong muốn Phải kể đến các công trình nghiên cứu sau:

Đồng Sỹ Hiền (1974) [11], kết quả nghiên cứu về rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi, cho thấy: dạng tổng quát của phân bố N/D1,3 là phân bố giảm, nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đường thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa và tác giả đã chọn hàm Meyer để mô phỏng quy luật phân bố số cây theo đường kính

Nguyễn Hải Tuất (1986) [40], sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân

bố N/D1.3 thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo

Trang 14

Bảo Huy (1993) [18], khi nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng lăng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên đã sử dụng rất nhiều hàm phân bố lý thuyết để

mô tả cho quy luật phân bố N/D1.3 thực nghiệm, tác giả kết luận: phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác

Các nghiên cứu của tác giả Lê Sáu (1996) [33], Trần Cẩm Tú (1999) [39], Trần Văn Con (1999) [7], Võ Văn Sung (2005) [34], lại cho rằng hàm Weibull thích hợp hơn cả

Qua việc tham khảo tài liệu liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân

bố N/D1.3 trong thời gian gần đây không chỉ dừng lại ở mục đích phục vụ công tác điều tra như xác định tổng diện ngang, trữ lượng mà còn xây dựng

cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng, làm giàu rừng

1.2.3 Xây dựng mô hình cấu trúc mẫu

Những năm gần đây, vấn đề xây dựng mô hình cấu trúc mẫu đã được nhiều tác giả đề cập, xuất phát từ những nghiên cứu cơ sở, các quy luật kết cấu, từ đó đề xuất các giải pháp tác động, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong kinh doanh rừng, tiêu biểu phải kể đến các công trình:

Nguyễn Hồng Quân (1983) [30], sử dụng hàm mũ theo dạng Meyer, xây dựng mô hình cấu trúc cho các kiểu rừng để phân cấp các lâm phần chặt chọn bằng cách thay đổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện hoàn cảnh thay đổi

Vũ Biệt Linh (1984) [23], đưa ra kết cấu chuẩn và coi đó là kết cấu được lấy làm mức cần phải đạt được trong mục tiêu tạo rừng cho mỗi loại rừng mục đích

Nguyễn Văn Trương (1984) [38], trong nghiên cứu cấu trúc phục vụ công tác khai thác nuôi dưỡng rừng, tác giả đã đề xuất mô hình cấu trúc mẫu định lượng bằng toán học Theo tác giả, mô hình cấu trúc mẫu là những mô

Trang 15

hình hoàn thiện nhất đã có trong tự nhiên và trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại

Nguyễn Ngọc Lung (1985) [24], khi tổng kết những cơ sở bước đầu để xây dựng quy phạm khai thác gỗ, tác giả nhận xét: trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một số mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố N/D1.3… có thể chọn được một loại trong lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất cao, sinh trưởng tốt, tổ thành hợp lý nhất,

có đủ thế hệ cây gỗ và cho sản lượng ổn định, ta coi đó là mẫu chuẩn tự nhiên

và đây cũng chính là cái mà con người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng

Phùng Ngọc Lan (1986) [22], cho rằng: mô hình cấu trúc mẫu là mô hình có khả năng tận dụng tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phối hợp hài hoà giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhất, nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh nhất định

Vũ Đình Phương (1987) [28], khi nghiên cứu cấu trúc rừng và vốn rừng trong không gian và thời gian, cho rằng: cần phải tìm trong tự nhiên những cấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế trong từng khu vực

Bảo Huy (1993) [18], xuất phát từ lý thuyết mẫu chuẩn tự nhiên của Nguyễn Ngọc Lung, đã lựa chọn và xác lập các mô hình N/D mẫu cho từng đơn vị phân loại của rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên Từ đó, tác giả đã đề xuất điều chỉnh cấu trúc N/D theo cấu trúc mẫu hoặc đồng dạng trong phạm vi bé hơn đường kính giới hạn khai thác

Phạm Văn Điển (2006) [8], trong báo cáo tư vấn về quản lý rừng cộng

đồng, tác giả đưa ra mô hình cấu trúc rừng chuẩn là mô hình: thứ nhất, phân

bố tiết diện ngang thân cây trên bề mặt đất tương đối đồng đều, chênh lệch

không quá hai lần giữa các ô thứ cấp; thứ hai, phân bố số cây theo cỡ đường

Trang 16

kính tuân theo luật giảm hàm Meyer và đảm bảo tổng tiết diện ngang, trữ lượng rừng đạt tới một trị số nhất định sao cho rừng không bị suy thoái

Bảo Huy (2007) [19], ứng dụng mô hình rừng ổn định trong quản lý rừng cộng đồng để khai thác và sử dụng bền vững gỗ củi ở các trạng thái rừng

tự nhiên Dựa vào cấu trúc N/D có dạng phân bố giảm, thiết lập mô hình rừng

ổn định nhằm phục vụ cho việc quản lý rừng cộng đồng Theo tác giả, mô hình rừng ổn định có dạng đồng dạng chuẩn trên cơ sở vốn rừng tối thiểu được tính bằng tổng tiết diện ngang

Trong Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng cuối năm

2007, Cục Lâm nghiệp đã sử dụng thuật ngữ rừng mong muốn để chỉ rừng có cấu trúc nhất định trong từng giai đoạn diễn thế, có phân bố N/D, tổng tiết diện ngang (G), trữ lượng (M) đảm bảo rừng không bị suy thoái và cho phép khai thác rừng với cường độ thấp

Tóm lại, khi xây dựng mô hình cấu trúc mẫu hầu hết các tác giả thường quan tâm nhiều nhất là phân bố N/D1.3, nó là cơ sở cho việc khai thác và nuôi dưỡng thông qua việc điều chỉnh cấu trúc này

Như vậy, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã được quan tâm và

có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng

1.2.4 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Ở nước ta, kết quả về nghiên cứu tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, với đối tượng chủ yếu là tái sinh tự nhiên Các công trình nghiên cứu cần điểm qua là:

Thái Văn Trừng (1978) 37, cho rằng: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường sống như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những

Trang 17

biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường

Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989) 17, qua kết quả khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh có nhận xét: một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới đó là hiện tượng tái sinh lỗ trống, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán

Vũ Tiến Hinh (1991) 13], cho rằng: hệ số tổ thành tính theo phần trăm

số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ Đa phần các loài

có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy Do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh, nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh Từ đó, nếu biết mật độ chung của những cây tái sinh có triển vọng của lâm phần, sẽ xác định được số lượng tái sinh của từng loài Trong điều chế rừng có thể sử dụng kết quả này để sơ bộ xem xét những loài cây mục đích nào chưa đủ số lượng tái sinh cần phải tra dặm hạt và những loài nào chỉ cần thông qua biện pháp xúc tiến tái sinh là đủ

Trần Xuân Thiệp (1996), nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc - Việt Nam Tác giả kết luận: ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao tái sinh tự nhiên khá tốt về số lượng cây: từ 500-8.000 cây/ha Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh: nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu, nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng trung tâm tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến

Trang 18

số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp Vùng Đông Bắc, số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 đến 12.000 cây/ha

So với các vùng khác, vùng này khả năng tái sinh tự nhiên tốt

Như vậy, khi nghiên cứu về tái sinh rừng hầu hết các tác giả đề cập tới vấn đề tái sinh tự nhiên Thực tế cho thấy, với điều kiện rừng tự nhiên nước ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải lấy tái sinh tự nhiên làm chủ đạo, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hẹp Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng vùng, từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng hiện nay

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng đều nhằm xác định được đặc điểm cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động, để quản lý, sử dụng rừng một cách hiệu quả và bền vững nhất Đề tài được thực hiện nhằm góp phần vào mục tiêu chung đó

Trang 19

Chương 2 MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Về lí luận

Góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xác định cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam

2.1.2 Về thực tiễn

- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao và tầng cây tái sinh

- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Phân loại trạng thái rừng

2.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

- Xác định công thức tổ thành

- Đánh giá mức độ phong phú và đa dạng loài

- Quy luật phân bố số loài theo đường kính ngang ngực

- Quy luật phân bố số cây theo đường kính ngang ngực

- Hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất

2.2.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh

- Xác định công thức tổ thành

- Mật độ cây tái sinh và mật độ cây tái sinh có triển vọng

- Quy luật phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao

- Chất lượng cây tái sinh ở các cỡ chiều cao

- Nguồn gốc cây tái sinh

- Hình thái phân bố cây tái sinh

2.2.4 Đề xuất các biện pháp kĩ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng

Trang 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Mô tả các ô điều tra

2.3.1.1 OĐVNCST 330 - 59

OĐVNCST 330 - 59 nằm ở xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Dạng địa hình đồi núi thấp, độ cao tuyệt đối 300 m, độ dốc trung bình

250 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm núi thấp, trạng thái ưu thế IIB+ Nứa,

độ tàn che trung bình 0,6 Rừng có chức năng phòng hộ Loài cây ưu thế là Trâm sừng Cây bụi ưu thế là Bọ tếch, Trọng đũa, Xương gà, có chiều cao trung bình 1,5 - 2 m Thảm tươi ưu thế là Cỏ lông lợn, Dương xỉ cao 0,4 m 10 năm trước là rừng trung bình, hiện nay là rừng phục hồi

2.3.1.2 OĐVNCST 330 - 65

OĐVNCST 330 - 65 nằm ở xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Dạng địa hình núi thấp, độ cao tuyệt đối 286 m, độ dốc trung bình 250 Thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm núi thấp Trạng thái ưu thế IIIA1+ Vầu Loài cây ưu thế là Chẹo trắng, Trâm, Mán đỉa, Vầu, độ tàn che trung bình 0,7 Cây bụi ưu thế là Trọng đũa, Chìa vôi có chiều cao trung bình 1 m Thảm tươi ưu thế: Cỏ lá, Cỏ 3 cạnh, cao 0,5 - 1m Thực vật ngoại tầng: Song, Mây, chiều cao từ 1 - 3m 10 năm trước đây rừng gỗ bị khai thác quá mức làm cho chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng Hiện nay rừng đã đạt khoảng 400 -

500 cây/ha, rừng đã và đang được phục hồi trên toàn vùng, cây gỗ dần dần thay thế cây Vầu, Nứa

2.3.1.3 OĐVNCST 336 - 36

OĐVNCST 336 - 36 nằm ở xã Quang Minh, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn

La Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm núi trung bình Trạng thái ưu thế IIIA2 Loài cây ưu thế Kháo vàng, Côm tầng, Dẻ gai độ tàn che 0,6 Cây bụi ưu thế là Trọng đũa, Ớt rừng, Cọc rào có chiều cao trung bình 1,3 m, độ che phủ 20% Thảm tươi ưu thế: Sa nhân, Dương xỉ, Cỏ lá có chiều cao 0,5m, độ che phủ

Trang 21

30% 10 năm trước đây là rừng gỗ do khai thác quá mức làm cho chất lượng rừng bị suy giảm nghiêm trọng Hiện nay đang dần được phục hồi và ở trạng thái IIIA2

2.3.1.4 OĐVNCST 316 -10

OĐVNCST 316 -10 nằm ở bản Giăng, xã Mường Mô, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh, trạng thái ưu thế IIIA2 và IIIA3, độ tàn che trung bình 0,6 Rừng có chức năng phòng hộ Loài cây ưu thế

là Thổ lộ, Thành ngạnh, Ràng ràng mít Cây bụi ưu thế là Me rừng, Trọng đũa

có chiều cao trung bình 1,4 m, phân bố rải rác, độ che phủ < 30% Thảm tươi

ưu thế là Cỏ lá tre, Dương xỉ chiều cao trung bình 0,5 m, phân bố đều, độ che phủ > 30% 10 năm trước rừng bị khai thác kiệt quệ Hiện nay rừng đã tái sinh

và phục hồi với nhiều loài cây ưa sáng mọc nhanh

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu phục vụ đề tài được kế thừa từ nguồn số liệu điều tra trên các ô định vị nghiên cứu sinh thái (OĐVNCST) của Viện Điều tra - Quy hoạch rừng Dưới đây trình bày sơ lược phương pháp điều tra trên OĐVNCST

2.3.2.1 Lập ô đinh vị nghiên cứu sinh thái (ô điều tra cơ bản)

Lập OĐVNCST trên diện tích rừng thuộc phạm vi nghiên cứu Diện tích OĐVNCST là 100 ha (1000 x 1000m) Lấy 1/4 diện tích OĐVNCST phía Đông Bắc (diện tích 25 ha) làm ô điều tra cơ bản (OĐTCB), ranh giới ô được

đo đạc bằng địa bàn 3 chân (hình 2.1) Trên đó, tiến hành lập mạng lưới ô vuông (50 x 50m) để phân chia các lô trạng thái rừng (hình 2.2)

Hình 2.2, OĐTCB được phân thành 3 trạng thái (IIB, IIIA1, IIIA2), ranh giới giữa các trạng thái là các đường đứt nét Trong OĐTCB này sự phân chia các trạng thái chỉ mang tính chất minh hoạ, thực tế trên 1 OĐTCB có thể thuộc cùng một trạng thái

Trang 22

Trong mỗi OĐĐ phân thành 25 phân ô, được đánh số thứ tự từ 1 đến 25 theo nguyên tắc từ trái sang phải từ trên xuống dưới, mỗi phân ô có diện tích 400m2 (20 x 20m) (hình 2.3)

1-IIB

2-IIIA1

3-IIIA2

20 m

Trang 23

2.3.2.3 Thu thập số liệu trên hệ thống ô đo đếm

Đối tượng điều tra là các cây gỗ thuộc tầng cây cao (cây có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên) Trên hệ thống các OĐĐ (3 ô), ở mỗi ô trong hệ thống các phân ô lẻ (1, 3, 5, , 25) có đánh dấu toạ độ từng cây, tên cây và số hiệu về đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (HVN), chiều cao dưới cành (HDC), đường kính tán (DT) và phân cấp phẩm chất, còn lại ở các phân ô chẵn (2, 4, 6, , 24) chỉ có số hiệu tên cây, đường kính ngang ngực và phân cấp phẩm chất

+ Đường kính ngang ngực (D1.3): Được đo bằng thước kẹp kính cách mặt đất 1,3 m theo 2 hướng (Đông tây - Nam bắc) của tất cả các cây có đường kính từ 6 cm trở lên trong ô tiêu chuẩn, độ chính xác được lấy tròn là 0,2 cm

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc): Được đo bằng thước đo cao Blumless hay Sun-to của tất cả các cây đã đo D1.3, độ chính xác đến 0,2 m

+ Đường kính tán (DT): Đo đường kính tán của tất cả các cây trong ô tiêu chuẩn bằng cách đo gián tiếp thông qua hình chiếu tán của cây trên mặt đất theo hai hướng (Đông bắc - Tây nam), độ chính xác lấy tròn 0,1 m.`

Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu sau:

Biểu 2.1: Điều tra thống kê tầng cây cao

Trang 24

2.3.2.4 Điều tra ô dạng bản

Trong mỗi phân ô đo đếm mang số hiệu lẻ, lập một ô dạng bản diện tích

16 m2 (4 x 4m) ở góc phía Tây - Bắc của phân ô đo đếm Trong ô dạng bản tiến hành điều tra những cây gỗ có D1.3 < 6 cm Điều tra các chỉ tiêu: Tên loài, chiều cao, đường kính tán, chất lượng, nguồn gốc Kết quả được ghi vào biểu mẫu sau:

Biểu 2.2: Điều tra tầng cây tái sinh

Số hiệu OĐVNCST:

Số hiệu OĐTCB:

Kiểu rừng:……….……… Trạng thái rừng:………

2.3.3.1 Phân loại trạng thái rừng hiện tại

Đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loeschau (1960) được Viện Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu và bổ sung Căn cứ vào tổng tiết diện ngang (ΣG=m2/ha), trữ lượng (ΣM=m3/ha), độ tàn che (P) và một số thông tin điều tra ngoài thực địa, tiến hành phân chia trạng thái cho từng ô đo đếm Cụ thể tiêu chuẩn phân chia các trạng thái rừng như sau:

+ Kiểu trạng thái II: Rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khi khai thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, chủ yếu là những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng mọc nhanh, có thể chia thành 2 kiểu phụ:

Trang 25

- Kiểu phụ IIA: Rừng phục hồi còn non và đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và có kết cấu 1 tầng, đường kính D

< 10 cm; ΣG < 10 m2/ha, rừng có trữ lượng nhỏ Thuộc đối tượng nuôi dưỡng

- Kiểu phụ IIB: Rừng cây tiên phong phục hồi phát triển đã lớn, đặc trưng tổ thành gồm những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thành phần loài phức tạp, đã có sự phân hoá về tầng thứ và tuổi Đường kính cây cao phổ biến bình quân D > 10 cm; ΣG > 10 m2/ha Thuộc đối tượng nuôi dưỡng

+ Kiểu phụ trạng thái III: Trạng thái đã qua khai thác chọn, là kiểu trạng thái đã bị tác động của con người ở nhiều mức độ khác nhau, làm cho kết cấu rừng có sự thay đổi Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và cung cấp lâm sản mà có thể phân loại trạng thái rừng khác nhau:

- Kiểu phụ IIIA: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi, khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoặc thay đổi cở bản, trạng thái này có thể chia thành một số trạng thái:

Dạng trạng thái IIIA1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng

đã bị phá vỡ hoàn toàn, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn sót lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi rậm, tre nứa xâm lấn Độ tàn che P < 0,3; ΣG < 10 m2/ha; ΣGD>40 < 2 m2/ha; trữ lượng <

80 m3/ha Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà nó có thể chia nhỏ hơn nữa

Dạng trạng thái IIIA2: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc trưng của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với lớp cây đại bộ phận có đường kính 20 - 30 cm Rừng có 2 tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại, còn

có những cây to khoẻ vượt tán Độ tàn che của rừng P = 0,3 - 0,5; ΣG = 10 -

15 m2/ha; ΣGD>40 < 2 m2/ha; trữ lượng từ 80 - 120 m3/ha Cũng tuỳ vào mật

độ tái sinh có thể chia nhỏ hơn nữa

Trang 26

Dạng trạng thái IIIA3: Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng trung bình, rừng đã có từ 2 tầng trở lên) Độ tàn che của rừng P = 0,5 - 0,7; ΣG = 16

- 21 m2/ha; ΣGD>40 < 2 m2/ha; trữ lượng > 120 m3/ha

- Kiểu phụ IIIB: Rừng bị tác động với mức độ thấp, trữ lượng rừng còn cao, cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, rừng còn giàu trữ lượng, có P > 0,7; ΣG =

21 - 26 m2/ha; trữ lượng >250 m3/ha

+ Kiểu trạng thái IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi, đã phát triển đến giai đoạn ổn định, trữ lượng và sản lượng cao, có độ tàn che > 0,7;

ΣG > 26 m2/ha; ΣGD>40 < 5 m2/ha Tuỳ theo nguồn gốc khác nhau của rừng được phân chia thành 2 kiểu phụ:

- Kiểu phụ IVA: Rừng nguyên sinh

- Kiểu phụ IVB: Rừng thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn định

2.3.3.2 Phương pháp xác định cấu trúc tổ thành lâm phần

Tỷ lệ tổ thành của từng loài cây (trên OTC) tính toán theo phương pháp của Daniel Mamillod, Vũ Đình Huề (1984) [16], Đào Công Khanh (1996) [20] thông qua 2 chỉ tiêu: Tỷ lệ % số cây (N%) và tiết diện ngang (G%) Mỗi loài được xác định tỷ lệ tổ thành IV% (chỉ số quan trọng Important Value):

G% là phần trăm tiết diện ngang của loài cây nào đó so với tổng tiết diện ngang của OTC

Theo Daniel Mamillod, những loài cây nào có IV% > 5% là những loài cây có ý nghĩa về mặt sinh thái Mặt khác, theo Thái Văn Trừng (1978) [37]: trong một lâm phần, nhóm loài cây nào đó chiếm 50% tổng cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế, nhóm loài cây có trị số IV% lớn hơn 50% được xem là nhóm loài ưu thế Đó là những chỉ dẫn làm cơ sở

Trang 27

quan trọng xác định loài và nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV% của những loài có trị số này lớn hơn 5% từ cao đến thấp và dừng lại khi ∑IV% đạt 50%

2.3.3.3 Đặc trưng về mức độ phong phú và đa dạng loài

Mức độ phong phú và đa dạng loài được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định lượng, việc tính toán được thực hiện nhờ phần mềm Excel 2003 và SPSS 13.0

Trong đó: N là số cá thể của tất cả các loài

m là số loài trong quần xã

- Mức độ đa dạng loài

+ Hàm số liên kết Shannon - Wiener:

Đây là chỉ số đa dạng sinh học thường được vận dụng Hàm số này được hai tác giả là Shannon và Weiner đưa ra năm 1949 dưới dạng:

1

Trong đó: ni là số lượng cá thể của loài i trong quần xã

pi là tỷ lệ cá thể của loài i: pi = ni/N Hoặc:  N Nn i n i

n

C

Trong đó: C là hằng số: C = 2,302585

+ H = 0 khi quần xã chỉ có một loài duy nhất (N.logN=n log i n i )

+ Hmax = C.logN khi quần xã có số loài cao nhất và mỗi loài chỉ

có một cá thể

+ H càng lớn thì tính đa dạng càng cao

Trang 28

n D

1 2

1

1

2.3.3.4 Nghiên cứu quy luật phân bố lâm phần

a Chỉnh lí tài liệu quan sát và tính toán các đặc trưng mẫu

Toàn bộ tài liệu đo đếm trước khi đi vào phân tích được loại bỏ các số liệu không đúng trong quá trình đo đếm Với phần mềm SPSS cho phép ta loại bỏ những trị số quá đặc thù (trị số quan sát quá lớn hoặc quá bé) để phân

bố thực nghiệm phản ánh khách quan quy luật của tổng thể Sau đó tiến hành chia tổ ghép nhóm các trị số quan sát Đối với đường kính cự ly tổ k = 4 cm, đối với chiều cao cự ly tổ k = 2 m (rừng tự nhiên)

Số liệu đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng trên các ô tiêu chuẩn được nhập vào máy tính nhờ phần mềm Microsoft Excel 2003 và SPSS 13.0 for windows, tính toán các chỉ tiêu sau:

S x (2.8)

Trang 29

(Với

n

X f X

f Q

n

i

i i i

n

i i x

1

)

* (

+ Sai tiêu chuẩn: 2

S

S  (2.9) + Hệ số biến động: % * 100

S n

X X S

n

i i K

 (2.12) Nếu: Sk = 0: Phân bố có dạng đối xứng

Sk > 0: Phân bố lệch trái so với giá trị trung bình

Sk < 0: Phân bố lệch phải so với giá trị trung bình

.

) (

X X E

n

i i

X (2.13) Nếu Ex = 0: Đỉnh đường cong tiệm cận với phân bố chuẩn

Ex > 0: Đỉnh đường cong nhọn so với phân bố chuẩn

Ex <0: Đỉnh đường cong bẹt so với phân bố chuẩn

b Mô phỏng các phân bố thực nghiệm bằng các hàm lý thuyết

Sau khi sắp xếp tần số thực nghiệm theo tổ, tính toán một số đặc trưng mẫu, xem xét phân bố, từ đó lựa chọn các hàm phân bố lý thuyết để mô phỏng

Một số phân bố lý thuyết được sử dụng:

* ) 1 (     X với x ≥ 1

Trang 30

Trong đó γ và α là hai tham số Đường cong biểu thị phân bố khoảng

cách có dạng một đỉnh ứng với giá trị x = 1 khi γ + α < 1 Phân bố khoảng

cách được sử dụng để mô tả phân bố N/D1,3 thực nghiệm có dạng một đỉnh

hình chữ j Các tham số của phân bố khoảng cách được ước lượng như sau:

) (

i

i x f

f n

 (2.16) Trong đó: f0 là tần số ứng với cỡ kính đầu tiên (x = 0)

N là tổng số cây của các cỡ Khi 1 - γ = α thì phân bố

khoảng cách trở về dạng phân bố hình học

F(x) = (1 – α)*αx (với x ≥ 0) (2.17)

Nếu Di là giá trị giữa của cỡ kính, Dmin là cỡ kính nhỏ nhất, k là cự ly tổ

thì xi được xác định như sau:

K

D D

x i i

Với miền xác định (0; +∞)

Trong đó:  và  là hai tham số của phân bố Weibull Với  đặc trưng

cho độ nhọn của phân bố,  biểu thị độ lệch của phân bố

Nếu:  = 1, phân bố có dạng giảm theo hàm mũ

 = 3, phân bố có dạng đối xứng

 > 3, phân bố có dạng lệch phải

 < 3, phân bố có dạng lệch trái

Trang 31

Tuỳ theo độ lệch của phân bố thực nghiệm mà chọn giá trị của tham số

 cho phù hợp, sau đó ước lượng tham số  theo phương pháp tối đa hợp lý bằng công thức:

1

* 

 (2.21)

Trong đó: xi là giá trị giữa tổ được chuẩn hoá theo (2.18)

- Phân bố giảm kiểu phương trình Meyer có dạng:

Y   * exp(   *x) (2.22)

Trong đó: Y là tần số quan sát, X là đại lượng quan sát, α và β là hai tham số Trong lâm nghiệp, phân bố này thường được dùng để mô phỏng phân bố số cây hoặc số loài (biến Y) theo cỡ đường kính (biến X)

Để xác định α và β phải logarit hoá hai vế của phương trình (2.22) để được phương trình hồi quy tuyến tính một lớp, sau đó xác định tham số a và b của phương trình tuyến tính bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất

- Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố theo tiêu chuẩn 2

n

của Pearson:

Tiêu chuẩn 2

n

 dựa vào việc so sánh giữa tần số lý luận tính theo phân

bố lý thuyết và tần số thực nghiệm ứng với mỗi tổ của đại lượng điều tra nào

đó Người ta chứng minh được rằng, nếu H0 đúng và dung lượng mẫu đủ lớn

để so sánh tần số lý luận tính theo phân bố lý thuyết ở các tổ ≥ 5, thì các đại lượng ngẫu nhiên:

 

ll

ll t n

Nếu 2

)

(k n

 tính theo (2.23) ≤ 2

5 , 0

 tra bảng với bậc tự do k, thì giả thuyết

về sự phù hợp của phân bố lý thuyết đã chọn được chấp nhận ( 

0

H ) Ngược

Trang 32

lại, nếu 2

n

 tính theo (2.23) > 2

5 , 0

 tra bảng với bậc tự do k thì giả thuyết về sự phù hợp của phân bố lý thuyết đã chọn bị bác bỏ ( 

0

H )

Nếu tổ nào có tần số lý thuyết fll < 5 thì phải ghép với tổ trên hoặc tổ dưới nó để sao cho fll > 5, khi đó bậc tự do k = l - r - 1, với l là số tổ sau khi gộp, r là tham số của phân bố lý thuyết cần ước lượng

2.3.3.5 Phương pháp xác định kiểu phân bố cây rừng trên mặt đất

Dùng tiêu chuẩn U của Klark và Evans để kiểm tra khi dung lượng quan sát n đủ lớn

n

X

U    

26136 , 0

) 5 , 0

(2.24) Trong đó: X là trị số trung bình khoảng cách cây quan sát với cây gần nhất của n lần quan sát,  là mật độ cây rừng trên đơn vị diện tích (cây/m2)

Nếu U ≤ 1,96: tổng thể cây rừng có phân bố ngẫu nhiên

Nếu U > 1,96: tổng thể cây rừng có phân bố cách đều Nếu U < -1,96: tổng thể cây rừng có phân bố cụm

2.3.3.6 Đánh giá tái sinh của các trạng thái rừng

Để đánh giá khả năng tái sinh phục hồi rừng, đề tài thu thập số liệu trên các ô dạng bản được bố trí trong các ô đo đếm Từ số liệu thu thập chỉnh lí cho từng ô, từng trạng thái, các chỉ tiêu được xác định cụ thể là:

- Mật độ cây tái sinh:

N0: Tổng số cây tái sinh trong các ODB (cây/ô)

S0: Tổng diện tích các ô dạng bản

- Mật độ cây tái sinh có triển vọng:

Mật độ cây tái sinh có triển vọng được xác định theo công thức:

Trang 33

Ntv/ha =

So

o Ntv/ 10 000

Trong đó: Ntv/ha: Mật độ cây tái sinh có triển vọng

Ntv/o: Tổng số cây tái sinh có triển vọng trên các ô dạng bản So: Tổng diện tích các ô dạng bản

- Xác định tổ thành cây tái sinh:

Tổ thành tái sinh được xác định theo tỷ lệ % giữa số lượng của một loài nào đó với tổng số cây tái sinh điều tra trong ô tiêu chuẩn, được tính thông qua các bước:

+ Xác định cây tái sinh của tất cả các ô dạng bản theo số loài và số cá thể của từng loài

+ Xác định số loài, tên loài tham gia vào công thức tổ thành

+ Xác định hệ số tổ thành của từng loài theo công thức:

Ni: Số cây tái sinh của loài i trên các ODB trong OTC

N: Tổng số cá thể của các loài

+ Viết công thức tổ thành: loài nào có Ki ≥ 0,5 thì được ghi vào công thức

tổ thành và mang dấu dương, loài nào có Ki < 0,5 thì cộng gộp lại, loài nào có hệ

số tổ thành lớn thì viết trước, loài nào có hệ số tổ thành nhỏ thì viết sau

- Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao:

Để nghiên cứu quy luật phân bố số cây tái sinh theo chiều cao đề tài sử dụng phân bố lý thuyết dạng hàm Weibull, Giảm và Khoảng cách để mô phỏng cấu trúc tần số

- Xác định tỷ lệ cây tái sinh theo chất lượng:

Tỷ lệ được xác định theo công thức:

Ni% =

N Ni

Trang 34

Trong đó: Ni%: tỷ lệ % của cấp chất lượng i

Ni: tổng số cây tái sinh ở cấp chất lượng i

N: tổng số cây tái sinh trong các ô

- Xác định hình thái phân bố cây tái sinh:

Hình thái phân bố cây tái sinh xác định trên cơ sở phân bố Poisson, các bước tiến hành như sau:

+ Tính số cây trung bình trong ô dạng bản:

X =

n

N

(2.29) Trong đó: N là tổng số cây tái sinh trong ô dạng bản

n là số ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn

n

i i

+ So sánh t với t05 tra bảng, với bậc tự do K = n - 1

Nếu t  t05: Cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên

Nếu t  t05 : Cây tái sinh có phân bố cụm

Nếu t t05: Cây tái sinh có phân bố cách đều

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân loại trạng thái rừng

Từ số liệu thu thập được ở các ô tiêu chuẩn, tiến hành tính toán xác định các đại lượng: Mật độ (cây/ha), Đường kính bình quân (D1.3), Chiều cao bình quân (Hvn), Tổng tiết diện ngang (∑G/ha), Trữ lượng (M/ha) Căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại rừng của Loeschau (1960) đã được Viện điều tra Quy hoạch rừng sửa đổi, bổ sung và áp dụng rộng rãi trong những năm gần đây để phân chia các trạng thái rừng hiện tại Kết quả được tổng hợp trong bảng 3.1

Bảng 3.1: Kết quả phân loại trạng thái rừng

M (m3/ha)

Trạng thái

Trang 36

- Trạng thái II B: OĐVNCST 330 - 59 nằm ở xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Trạng thái này phân bố chủ yếu ở các sườn đồi, dạng địa hình núi thấp, trong cấu trúc có sự phân tầng, đa dạng về loài cây, ổn định

về tổ thành, mật độ cây tái sinh cao, xuất hiện nhiều loài cây có giá trị kinh tế như: Dẻ gai, Trâm sừng, Lim xanh, Sến, Táu, Trám trắng Rừng đã có thời gian phục hồi Mật độ biến động từ 534 cây/ha đến 609 cây/ha, đường kính trung bình dao động từ 14,28 cm đến 15,63 cm, chiều cao bình quân từ 10,48

m đến 11,27 m, tổng diện ngang dao động từ 11,29 m2/ha đến 11,54 m2/ha, trữ lượng từ 83,21 m3/ha đến 87,00 m3/ha

- Trạng thái III A1: OĐVNCST 330 - 65 nằm ở xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh Trạng thái này phân bố chủ yếu ở các sườn đồi và đỉnh đồi, dạng địa hình núi thấp, rừng đã bị khai thác kiệt, cây gỗ còn sót lại chủ yếu là các loài cây ưa sáng mọc nhanh: Chẹo trắng, Mán đỉa, Trâm sừng, Dẻ Các cây gỗ dần dần thay thế cây Vầu + Nứa Mật độ biến động khá lớn, từ

182 cây/ha đến 337 cây/ha, đường kính trung bình dao động từ 12,47 cm đến 13,00 cm, chiều cao bình quân từ 9,73 m đến 10,28 m, tổng diện ngang dao động từ 2,57 m2/ha đến 5,52 m2/ha, trữ lượng từ 18,76 m3/ha đến 41,82 m3/ha

- Trạng thái III A2: OĐVNCST 336 - 36 nằm ở xã Quang Minh, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Trạng thái này trước đây đã bị khai thác quá mức, cấu trúc rừng đã bị phá vỡ, hiện nay đã có thời gian phục hồi Mật độ biến động từ 359 cây/ha đến 428 cây/ha, đường kính trung bình dao động từ 17,77 cm đến 18,37 cm, chiều cao bình quân từ 12,42 m đến 12,52 m, tổng diện ngang dao động từ 11,98 m2/ha đến 14,64 m2/ha, trữ lượng từ 104,93

m3/ha đến 126,65 m3/ha

- Trạng thái III A3: OĐVNCST 316 -10 nằm ở bản Giăng, xã Mường

Mô, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Trạng thái này phân bố chủ yếu ở sườn đồi, dạng địa hình núi trung bình Rừng đã có thời gian phục hồi tốt với nhiều

Trang 37

loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh Mật độ biến động từ 580 cây/ha đến

633 cây/ha, đường kính trung bình dao động từ 17,04 cm đến 18,30 cm, chiều cao bình quân từ 12,58 m đến 13,25 m, tổng diện ngang dao động từ 16,45

m2/ha đến 22,31 m2/ha, trữ lượng từ 137,78 m3/ha đến 206,39 m3/ha

3.2 Một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

3.2.1 Tổ thành tầng cây cao của các trạng thái rừng tự nhiên

Tổ thành là nhân tố quan trọng trong cấu trúc lâm phần và là nhân tố

có ảnh hưởng quyết định đến các đặc điểm sinh thái khác của rừng Đặc biệt

rừ ng tự nhiên ở nước ta, với điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều đã tạo nên mô ̣t hê ̣ sinh thái rừng phức ta ̣p và tổ thành loài đa da ̣ng, phong phú của tầng cây gỗ trong hệ thực vâ ̣t Tổ thành rừng biểu thị tỷ trọng của một loài hay một nhóm loài cây nào đó chiếm trong lâm phần, là chỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái Cấu trúc tổ thành là cơ sở để định hướng cho các biện pháp kinh doanh, nuôi dưỡng rừng Vì vậy việc nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng được xem như công việc đầu tiên trong quá trình nghiên cứu cấu trúc rừng nói chung

và là cơ sở đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tổng hợp trong công tác

bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi rừng Chỉ tiêu biểu thị mức độ tham gia của

từng loài cây trong lâm phần gọi là hệ số tổ thành Tập hợp hệ số tổ thành của các loài cây tương ứng gọi là công thức tổ thành Về bản chất, công thức

tổ thành có ý nghĩa sinh học sâu sắc, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các loài cây trong một quần xã thực vật và mối quan hệ giữa quần xã thực vật với điều kiện ngoại cảnh

Để xác định tổ thành cho các trạng thái rừng, đề tài sử dụng chỉ số IV% theo công thức (2.1) làm chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành Kết quả tính toán được tổng hợp ở bảng 3.2

Trang 38

Bảng 3.2: Công thức tổ thành của các trạng thái rừng

Trang 39

Ô tiêu chuẩn 02 có mật độ 552 cây/ha, bao gồm 43 loài, trong đó có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% từ 5,25% (Chân chim) đến 10,87% (Trâm sừng)

Ô tiêu chuẩn 03 có mật độ 609 cây/ha, trong tổng số 54 loài có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành với IV% dao động từ 5,53% (Lim xanh) đến 11,22% (Dè)

Như vậy, trong tổ thành tầng cây cao của trạng thái IIB, loài Dẻ gai chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là Trâm sừng, Côm tầng, Ngát, Trám trắng, Dè, Nhội, Kháo vàng, Lim xanh, Chân chim Trong trạng thái này, các loài cây vừa có giá trị về kinh tế vừa có giá trị phòng hộ là Dẻ gai, Lim xanh, Sến, Táu, Trâm sừng, Trám trắng Trong quá trình kinh doanh rừng cần tạo điều kiện cho các loài cây này sinh trưởng và phát triển

- Trạng thái III A1

Ô tiêu chuẩn 01 có mật độ 182 cây/ha, trong tổng số 30 loài, có 5 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% dao động từ 8,28 % (Dẻ cau) đến 17,76% (Chẹo trắng)

Ô tiêu chuẩn 02 có mật độ 252 cây/ha, bao gồm 27 loài, trong đó có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% từ 5,65% (Thẩu tấu) đến 23,41% (Chẹo trắng)

Ô tiêu chuẩn 03 có mật độ 337 cây/ha, trong tổng số 41 loài có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành với IV% dao động từ 5,58% (Chẹo tía) đến 33,32% (Chẹo trắng)

Như vậy, trong tổ thành tầng cây cao của trạng thái IIIA1, loài Chẹo trắng chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó đến Trâm sừng, Mán đỉa, Dẻ cau, Thẩu tấu, Chẹo tía… Trạng thái này bao gồm một số loài vừa có giá trị kinh tế vừa có khả năng phòng hộ như: Chẹo trắng, Chẹo tía, Dẻ gai, Lim xẹt, Trâm sừng, Trâm trắng Đây là những loài cây gỗ lớn có thể vươn lên chiếm tầng trên của

Trang 40

tán rừng, đóng vai trò chủ đạo xác lập lên hoàn cảnh rừng Vì vậy, trong kinh doanh rừng cần xúc tiến tái sinh và tạo điều kiện cho những loài cây này sinh trưởng và phát triển

- Trạng thái III A2

Ô tiêu chuẩn 01 có mật độ 428 cây/ha, trong tổng số 71 loài có 3 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% dao động từ 5,33% (Dẻ gai) đến 8,39% (Côm tầng)

Ô tiêu chuẩn 02 có mật độ 395 cây/ha, bao gồm 68 loài, trong đó có 6 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% từ 5,68% (Kháo vàng) đến 8,89% (Gội nếp)

Ô tiêu chuẩn 03 có mật độ 359 cây/ha, trong tổng số 62 loài có 5 loài tham gia vào công thức tổ thành với IV% dao động từ 4,59% (Côm tầng) đến 11,07% (Gội nếp)

Trong tổ thành tầng cây cao của trạng thái IIIA2, có sự xuất hiện của 89 loài, trong đó loài Gội nếp chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là Côm tầng, Dẻ gai, Kháo vàng, Phay sừng, Vạng trứng, Chẹo tía, Trám trắng… Như vậy, có thể thấy rằng trạng thái IIIA2 có số lượng loài cao hơn hẳn so với trạng thái IIB và IIIA1, những loài cây có giá trị kinh tế cũng xuất hiện nhiều hơn Điều này chứng tỏ trạng thái IIIA2 chưa bị khai thác quá mức, rừng đang trong quá trình phục hồi tốt

- Trạng thái III A3

Ô tiêu chuẩn 01 có mật độ 580 cây/ha, trong tổng số 64 loài có 5 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% dao động từ 5,86% (Vả) đến 12,42% (Thổ lộ)

Ô tiêu chuẩn 02 có mật độ 585 cây/ha, bao gồm 73 loài, trong đó có 2 loài tham gia vào công thức tổ thành với chỉ số IV% từ 18,33% (Thổ lộ) đến 20,45% (Thành ngạnh)

Ngày đăng: 12/04/2022, 07:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5 B - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Hình 5 B (Trang 8)
Bảng 3.1: Kết quả phõn loại trạng thỏi rừng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.1 Kết quả phõn loại trạng thỏi rừng (Trang 35)
Bảng 3.2: Cụng thức tổ thành của cỏc trạng thỏi rừng - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.2 Cụng thức tổ thành của cỏc trạng thỏi rừng (Trang 38)
Bảng 3.3: Kết quả tớnh chỉ số phong phỳ - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.3 Kết quả tớnh chỉ số phong phỳ (Trang 42)
Từ kết quả bảng 3.3, cho thấy: - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
k ết quả bảng 3.3, cho thấy: (Trang 43)
Bảng 3.5: Kết quả tớnh chỉ số đa dạng Simpson - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.5 Kết quả tớnh chỉ số đa dạng Simpson (Trang 44)
Qua bảng 3.5, cho thấy: - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
ua bảng 3.5, cho thấy: (Trang 45)
Từ kết quả ở bảng 3.6 và 3.7, cho thấy: Trong 12 trường hợp khi mụ hỡnh hoỏ quy luật phõn bố (N L/D1.3 ) bằng cỏc hàm lý thuyết, cú 10 trường hợp  chấp nhận giả thuyết phõn bố lý thuyết phự hợp với phõn bố thực nghiệm theo  hàm  Weibull;  cú  4  trường  h - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
k ết quả ở bảng 3.6 và 3.7, cho thấy: Trong 12 trường hợp khi mụ hỡnh hoỏ quy luật phõn bố (N L/D1.3 ) bằng cỏc hàm lý thuyết, cú 10 trường hợp chấp nhận giả thuyết phõn bố lý thuyết phự hợp với phõn bố thực nghiệm theo hàm Weibull; cú 4 trường h (Trang 46)
Bảng 3.7: Kết quả nắn phõn bố NL/D1,3 trạng thỏi IIIA1, IIIA2, IIIA3 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.7 Kết quả nắn phõn bố NL/D1,3 trạng thỏi IIIA1, IIIA2, IIIA3 (Trang 46)
Bảng 3.8: Kết quả tớnh đặc trưng mẫu của đường kớnh ngang ngực - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.8 Kết quả tớnh đặc trưng mẫu của đường kớnh ngang ngực (Trang 48)
Bảng 3.9: Kết quả nắn phõn bố N/D1,3 trạng thỏi IIB - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.9 Kết quả nắn phõn bố N/D1,3 trạng thỏi IIB (Trang 49)
Bảng 3.10: Kết quả nắn phõn bố N/D1,3 trạng thỏi IIIA1, IIIA2, IIIA3 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.10 Kết quả nắn phõn bố N/D1,3 trạng thỏi IIIA1, IIIA2, IIIA3 (Trang 50)
Từ kết quả mụ hỡnh húa ở bảng 3.9 và 3.10, cho thấy: Trong 12 trường hợp khi mụ hỡnh hoỏ quy luật phõn bố (N/D1.3 ) bằng cỏc hàm lý thuyết, cú 10  trường hợp chấp nhận giả thuyết phõn bố lý thuyết phự hợp với phõn bố thực  nghiệm theo hàm Weibull; cú 7 tr - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
k ết quả mụ hỡnh húa ở bảng 3.9 và 3.10, cho thấy: Trong 12 trường hợp khi mụ hỡnh hoỏ quy luật phõn bố (N/D1.3 ) bằng cỏc hàm lý thuyết, cú 10 trường hợp chấp nhận giả thuyết phõn bố lý thuyết phự hợp với phõn bố thực nghiệm theo hàm Weibull; cú 7 tr (Trang 51)
Từ kết quả ở bảng 3.11, cho thấy: - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
k ết quả ở bảng 3.11, cho thấy: (Trang 53)
Bảng 3.11: Kết quả xỏc định hỡnh thỏi phõn bố cõy rừng trờn mặt đất - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía bắc từ số liệu các OĐVNCST​
Bảng 3.11 Kết quả xỏc định hỡnh thỏi phõn bố cõy rừng trờn mặt đất (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w